Tu học GĐPT

Ngành Đồng · Bậc 4/16 trên lộ trình

Bậc Chân Cứng

Tinh thần chủ đạoHạnh

  • 1 năm
  • 37 bài
6 phần · 37 bài

Phật pháp – Kiến thức8 bài

  1. 1Em họp Đoàn
    Hình minh họa: Em họp đoàn

    Chuẩn bị:

    Chuyện kể.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    Đoàn sinh gương mẫu

    Tuấn là một oanh vũ rất ngoan, không tuần nào em nghỉ họp. Khi Tuấn đau hay vì lý do đặc biệt xin phép nghỉ họp một tuần, tự nhiên Đoàn mất một niềm vui hay như mất đi một bàn tay xây dựng Đoàn. Thật thế, không riêng gì Đoàn Nam Oanh Vũ, cả Gia đình ai cũng mến thương Tuấn, hiền lành, ngoan ngoãn nhưng lanh lẹ và hăng hái trong các công tác của Đoàn, trong giờ học tập, trong lúc vui chơi… không bao giờ Tuấn làm mất long một bạn Oanh Vũ nào cho đến các anh chị trưởng.

    Một hôm, trong lúc đang vui chơi, lỡ tay, Tuấn làm một bạn Oanh Vũ té trầy da, Tuấn liền nhanh nhẩu đi lấy thuốc đỏ sát trùng và băng lại vết thương cho bạn. Sau đó, Tuấn đứng trước mặt Đoàn có cả anh chị Trưởng để nhận lỗi mình và xin lỗi bạn. Anh trưởng rất bằng lòng và giới thiệu việc làm tốt của Tuấn để các bạn noi theo.

    2. Em trả lời:

    Tuấn là Oanh Vũ thế nào? Em kể lại các đặc tính tốt của Tuấn? Khi lỡ tay làm bạn bị té trầy da, Tuấn làm gì? Em có thương mến Tuấn không? Vì sao?

    • Tuấn là Oanh Vũ thế nào?
    • Em kể lại các đặc tính tốt của Tuấn?
    • Khi lỡ tay làm bạn bị té trầy da, Tuấn làm gì?
    • Em có thương mến Tuấn không? Vì sao?
    3. Em cần nhớ:

    Hằng tuần, em phải chuyên cần đi họp và nhắc nhở bạn mình đi họp cho đông đủ để Đoàn vui, Đoàn mạnh. Em phải chăm lo học tập, vâng lời anh chị trưởng, nên gương tốt cho bạn hăng hái trong tất cả việc Đoàn. Em cũng luôn nhường nhịn bạn, khuyến khích bạn cùng tu học.

    4. Em thực hành:

    Đi họp chuyên cần và rủ bạn đến Đoàn đông thêm.

    Hăng say với việc Đoàn.

    Vâng lời anh chị, nhường nhịn bạn, cùng nhau tu học.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Cho các em tự điều khiển một buổi họp Đàn ngắn: điểm danh, báo cáo việc thiện trong tuần.
  2. 2Cách thiết bàn Phật
    Hình minh họa: Cách thiết bàn thờ Phật

    Chuẩn bị:

    Cho các em quan sát một bàn thờ Phật kiểu mẫu tại chùa hoặc nhà riêng.

    Hướng dẫn các em nhận xét:
    • Chỗ đặt bàn thờ Phật.
    • Trên bàn thờ Phật có những gì?
    • Cảnh trí bàn Phật trang nghiêm, sạch sẽ.

    Giờ học:

    1. Em suy nghĩ:
    • Muốn biết bàn thờ Phật cần có những gì?
    • Tại sao cần phải thiết bàn thờ Phật?
    • Phải giữ gìn bàn thờ Phật như thế nào?
    • Lần đầu tiên thiết bàn thờ Phật phải làm gì?
    2. Em cần nhớ:

    Phật là đấng phước trí đầy đủ, là tấm gương cao cả nên ta cần thờ cúng cung kính để noi theo, để sám hối tội lỗi và chiêm bái. Muốn thờ Phật, ta phải thiết ở nơi trang nghiêm, sạch sẽ và ta phải lau chùi luôn.

    Khi thiết bàn thờ Phật ta đặt ảnh hay tưởng ở giữ. Phía trước là lư hương, hai bên là hai bình hoa, hai cây đèn, quả phẩm và chén nước. Chuông đặt bên phải. Mõ đặt bên trái ở bàn nhỏ thấp phía trước.

    Tại chùa hay tư gia đều có làm lễ an vị Phật.

    3. Em thực hành:

    Em luôn luôn lau chùi bàn Phật sạch sẽ.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Dẫn các em lên chánh điện xem cách bày bàn thờ: tượng Phật, đèn, hương, hoa, nước, quả.
    • Mỗi Đàn tự bày một bàn thờ Phật nhỏ, các Đàn khác nhận xét.
  3. 3Em sám hối
    Hình minh họa: Em sám hối

    Chuẩn bị:

    Sắp xếp bài dạy sau ngày 14 hoặc 29 âm lịch (các chùa đều tổ chức lễ sám hối).

    Vào tuần trước đã nhắc nhở các em sám hối.

    Giờ học:

    1. Suy nghĩ:
    • Em hiểu sám hối nghĩa là gì?
    • Lễ sám hối được các chùa tổ chức vào ngày nào?
    • Khi phạm lỗi, em phải làm gì?
    • Bài sám hối trong nghi thức lễ Phật của GĐPT bắt đầu từ câu nào? Bài có mấy ý nghĩa? Hãy nêu ra?
    • Ý chung cả bài nói gì?
    2. Em cần nhớ:
    • Sám: xin nhận lỗi đã phạm.
    • Hối: nguyện chừa bỏ, không tái phạm.

    Trong cuộc sống, có khi vô tình nhưng cũng có lúc do đố kị…, em đã phạm lỗi lầm. Khi phạm lỗi, em phải biết nhận lỗi, biết sám hối để lánh dữ làm lành, giữ được thân tâm trong sạch và tu tập tinh tấn.

    Em cố gắng đến chùa dự lễ sám hối hằng tháng vào 2 ngày 14 và 29 âm lịch.

    Mỗi tuần, trước khi sinh hoạt, GĐPT đều tụng bài Sám hối sau khi khai chuông mõ. Ý nghĩa chung của bài là đứng trước Phật, Pháp, Tăng, con xin ăn năn chừa bỏ tất cả lỗi lầm, nguyện theo lời Phật dạy làm lành lánh ác, cố gắng tu tập để cứu độ gia đình cùng tất cả chúng sanh đều thành Phật.

    3. Em thực hành:
    • Đi họp đúng giờ để dự buổi lễ Phật hằng tuần.
    • Cố gắng dự lễ Sám hối tại chùa vào tối 14, 29 âm lịch mỗi tháng.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Tổ chức một buổi tụng sám hối ngắn cho Đoàn.
    • Mỗi em viết thầm một lỗi đã làm và một điều nguyện sửa.
  4. 4Em tập đánh chuông mõ
    Hình minh họa: Em tập đánh chuông mõ

    Chuẩn bị:

    Mượn bộ chuông mõ nhỏ ở chùa.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    Chuông mõ giúp cho buổi lễ Phật, tụng kinh được nghiêm trang, đều đặn và tạo được sự thành kính, thanh tịnh. Muốn đạt được ý nghĩa trên cần phải đánh chuông mõ thật đúng cách.

    a. Trước khi lễ:

    Hai đoàn sinh được chỉ định thủ sẵn chuông mõ vào chánh điện lau chùi, dọn dẹp bàn thờ Phật, Bồ Tát, Tổ cho sạch sẽ và ngăn nắp. Đốt nến, thắp hương cho mỗi lư hương và thắp riêng 3 nén hương dành cho vị chủ lễ.

    Hai đoàn sinh thủ chuông mõ đứng đối diện, nhìn thẳng nhau chứ không nhìn vào bàn Phật. Nhìn vị chủ lễ để theo dõi khi đánh chuông mõ.

    Đánh một tiếng chuông thong thả để tất cả đoàn sinh và Huynh trưởng vào chánh điện. Khi chủ lễ niệm tịnh pháp giới và tịnh tam nghiệp xong, chuông đánh 1 tiếng để tất cả cùng xá.

    b. Trong khi lễ:
    • Chủ lễ niệm hương:

    Đánh 1 tiếng chuông sau mỗi bài Cúng hương, Tán Phật.

    Sau mỗi câu đảnh lễ, đánh 1 tiếng chuông, tất cả đều lạy.

    • Khai chuông mỏ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời o o o

    Mõ đánh 7 tiếng (4 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời) xx xx xx x

    Chuông mõ: 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ (3 lần) o x o x o x

    Mõ: 1 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời xx xx

    Chuông nhập cùng lúc với tiếng mõ cuối.

    (o o o, xx xx xx x, o, x, o, x, o, x,x xx xx o)

    • Tụng bài sám hối:

    Mõ đánh tiếng thứ 2 (Đệ tử) chờ tiếng xướng của người chủ lễ, đánh tiếng thứ 4 (kính lạy) rồi đánh đều từ tiếng thứ 5 trở đi.

    Chuông đánh một tiếng sau câu “… thành tâm sám hối”

    Mõ đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối (Phật) và nhập ở tiếng cuối (đạo).

    Chuông đánh 1 tiếng khi còn 3 tiếng dứt bài.

    • Tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát, …

    Mõ cũng đánh theo người chủ lễ bằng cách vào ở tiếng thứ hai và tư, kết mỗi bài đều đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối và nhập ở tiếng cuối.

    Chuông đánh trước 1 tiếng trước khi kết thúc mỗi bài tụng hoặc mỗi câu Tự quy y.

    • Chấm dứt buổi lễ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời.

    Vị chủ lễ đánh chuông cho 2 đoàn sinh thủ chuông mõ lễ Phật (3 lạy).

    c. Sau khi lễ:

    Đoàn sinh rời chánh điện trong im lặng và trật tự.

    Hai em thủ chuông mỏ tắt đèn quạt, … dọn dẹp xong ra sau cùng.

    2. Em thực hành:

    Huynh trưởng chia đoàn sinh học đánh chuông mõ thành hai hàng ngồi đối diện nhau, 1 hàng đánh chuông, 1 hàng đánh mõ. Huynh trưởng chỉ các em dùng miệng và điệu bộ để tập chung. Sửa chỗ sai, sau đó cho từng cặp thực tập dùng chuông mõ.

    Chọn 2 em đánh khá thực tập để các em nhận xét, sau đó chia nhóm ôn lại.

    Chú ý: nâng dùi và đánh nhẹ nhàng. Dùi chuông hất nghiêng ở thành chuông, dùi mõ đánh thẳng.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Cho các em thực hành đánh chuông, mõ theo nhịp Huynh trưởng làm mẫu; mỗi em thử một lượt.
  5. 5Ý nghĩa màu Lam
    Hình minh họa: Ý nghĩa màu lam

    Chuẩn bị:

    Bảng màu: xanh, vàng, đỏ, tím, đen và màu Lam. Màu nước để hòa thành màu Lam (hòa chung các màu lại).

    Giờ học:

    1. Em trả lời:
    • Trong các màu trên đây, màu nào dịu hiền nhất?
    • Màu đỏ, đen, tím, vàng như thế nào?
    • Các bảng quảng cáo thường viết màu gì?
    2. Em nghe:

    Màu Lam là màu dung hòa giữa các màu sắc khác. Màu Lam dịu hiền dễ mến, không lòe loẹt như màu đỏ, hồng, không u buồn như màu tím, đen.

    Nhờ sự dung hòa dịu hiền ấy nên Gia Đình Phật Tử đã lấy màu Lam làm màu áo cho dễ hòa hợp được với tất cả, không phân biệt giàu nghèo sang hèn.

    Mặc chiếc áo Lam vào, lòng ta dịu lại, không nóng giận khoe khoang, dứt bỏ u buồn tang tóc, gây được cảm tình với mọi người.

    Màu Lam có những ý nghĩa cao đẹp ấy nên ta phải tôn trọng chiếc áo màu Lam trong màu sắc của Gia Đình Phật Tử. Chúng ta chỉ mặc áo Lam trong những buổi họp đoàn, các công tác Phật sự và luôn luôn giữ gìn lời nói việc làm để giữ thanh danh cho tổ chức.

    3. Em cần nhớ:

    Màu Lam là màu dịu hiền, hòa hợp được tất cả các màu sắc khác nhau. Gia Đình Phật Tử dung màu Lam làm màu áo để hòa hợp tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo sang hèn.

    Mặc áo Lam vào lòng người dịu lại, không nóng nảy, không u buồn và tạo được sự mến thương vói mọi người chung quanh.

    Em yêu màu áo Lam hiền

    Sống vui hòa hợp, em siêng họp đoàn.

    4. Em thực hành:
    • Em mặc áo màu Lam trong các buổi họp đoàn hay làm công tác Phật sự.
    • Giữ gìn màu áo Lam cho sạch sẽ.
    • Giữ gìn lời nói, việc làm để bảo vệ chiếc áo mà Lam của Gia Đình Phật Tử.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Quan sát áo lam của Đoàn; các em nói màu lam làm em nhớ đến điều gì.
  6. 6Lục hòa
    Hình minh họa: Lục Hòa

    Chuẩn bị:

    Một số hình ảnh về sinh hoạt trong thiền viện hoặc ở các chùa của chư tăng ni.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    Các bậc tu hành cùng ăn, cùng ở, cung tu, cùng học và luôn giũ được hòa khí là nhờ sống đúng theo tinh thần lục hòa.

    Noi gương các bậc Tăng, Ni, chúng ta cần theo 6 nguyên tắc sống sau đây:

    • Thân hòa đồng trú: Cùng chung sống với nhau, đoàn kết và xem nhau như anh em ruột.
    • Khẩu hòa vô tranh: Nói năng với nhau ôn hòa, có điều gì không bằng long phải dịu dàng giải thích cho nhau nghe, đừng cãi vã mà sinh ra giận hờn.
    • Ý hòa đồng duyệt: Mỗi người một ý riêng, cần đưa ra thảo luận tìm ý hợp lý, hợp tình nhất để việc làm có kết quả tốt.
    • Kiến hòa đồng giải: Ai biết điều gì hay, hiểu điều gì mới cần đem ra giải bày cho nhau cùng hiểu, không giữ riêng cho mình.
    • Giới hòa đồng tu: Luôn giúp đỡ, khuyến khích nhau giữ giới luật, tiến tu cho thành công.
    • Lợi hòa đồng quân: Khi có nguồn lợi gì, vật gì phải đem ra chia đều cho nhau, đừng giữ hưởng 1 mình hoặc chia kẻ nhiều, người ít.
    2. Em trả lời:
    • Nhờ có pháp nào mà các bậc tu hành sống hòa thuận với nhau?
    • Noi gương các vị Tăng, Ni, em cần giữ những nguyên tắc sống nào?
    • Hãy giải thích từng nguyên tắc một.
    3. Em nhớ:

    Thân hòa vui ở cùng nhau

    Khẩu hòa ăn nói trước sau dịu dàng

    Ý hòa thảo luận suy bàn

    Kiến hòa đồng giải hoàn toàn hiểu chung

    Lợi hòa phân phối khắp cùng

    Giới hòa cố giữ nguyện chung tu trì.

    4. Em thực hành:
    • Sống hòa thuận trong đoàn, trong gia đình.
    • Nói năng dịu dang, không gây gỗ, cãi cọ nhau.
    • Thắc mắc điều gì hỏi nhau hoặc hỏi anh chị trưởng.
    • Có những hiểu biết mới lạ trình bày cho nhau biết để xây dựng đoàn.
    • Giúp nhau giữ luật, châm ngôn Đoàn.
    • Chia đều các tặng phẩm hoặc giữ làm của chung cho đoàn.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Trò chơi tập thể cần cả Đàn phối hợp (như chuyền bóng không dùng tay), sau đó nói về sáu điều hòa.
  7. 7Lịch sử Đức Phật Thích Ca (từ xuất gia đến thành đạo)
    Hình minh họa: Lịch sử Đức Phật Thích Ca từ Xuất gia đến Thành đạo

    Chuẩn bị:

    Một số tranh ảnh giới thiệu về cuộc đời Đức Phật từ Xuất gia đến Thành đạo.

    Giờ học:

    1. Em nghe:
    • Thái tử xuất gia:

    Nửa đêm ngày mùng 8/2 (ÂL), Thái tử cùng Xa Nặc cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt thành ra đi. Đến sông Anôma, Ngài cắt tóc giao Xa Nặc mang về tâu phụ vương rồi một mình đi tìm đạo.

    • Thái tử hỏi đạo:

    Ngài đến các vị đạo sư nổi tiếng thời ấy. Học đạo với ông A-la-la Ca-lam, Ngài chứng quả Vô sở hữu xứ định. Đến thọ giáo với ông Uất đầu lam phất, cũng trong thời gian ngắn, Ngài đã chứng đắc được như thầy: đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Nhưng Ngài nhận thấy tất cả các cõi ấy chưa phải là giải thoát.

    • Thái tử tu khổ hạnh:

    Ngài đến Ni Liên thuyền cùng tu khổ hạnh với 5 anh em ông Kiều Trần Như. Được 6 năm, Ngài thấy không thể có kết quả. Nhớ hình ảnh những nhạc công lên dây đàn, Ngài nghĩ về con đường trung đạo nên đã từ bỏ lối tu khổ hạnh.

    • Thái tử tham thiền:

    Ngài đến gốc cây bồ đề ngồi tham thiền. Ngài thề không chứng đạo không rời khỏi cây bồ đề này.

    • Thái tử thành đạo:

    Ngài định tâm chuyên chú vượt qua mọi chướng ngại của ma vương. Sau 49 ngày:

    • Canh 1: Chứng quả Túc mạng minh.
    • Canh 2: Chứng quả Thiên nhãn minh.
    • Canh 3: Chứng quả Lậu tận minh.
    • Lúc sao mai mọc chứng quả vô thượng, thành Phật, bậc chánh đẳng cháng giác, hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lúc bấy giờ quả đất rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường. Đó là ngày mồng 8 tháng chạp (ÂL).
    2. Em trả lời:
    • Thái tử bắt đầu cuộc đời xuất gia ở đâu? Lúc nào?
    • Thái tử hỏi đạo và học đạo với những ai? Đã tu chứng những quả gì?
    • Thái tử tu khổ hạnh như thế nào? Thời gian bao lâu?
    • Thái tử tham thiền bao lâu? Lời thề ra sao?
    • Thái tử thành đạo lúc nào? Hiệu gì?
    3. Em cần nhớ:

    Vào ngày mùng 8/2 (ÂL), Thái tử xuất gia. Ngài đến thành Vương Xá gặp các vị tiên, đến thành Tỳ Xá Ly hỏi đạo ông A-la-la Ca-lam rồi đến ông Uất đầu lam phất. Kế tiếp ngài tu khổ hạnh 6 năm với 5 anh em ông Kiều Trần Như. Ngài thấy không thể giải thoát được nên từ bỏ lối tu này. Sau, Ngài đến ngồi dưới gốc cây bồ đề để tham thiền nhập định. Ngài thề không chứng đạo không rời cây bồ đề. Sau 49 ngày tham thiền, ngày mùng 8 tháng chạp (ÂL), Ngài thành đạo, hiệu Thích Ca Mâu Ni.

    4. Em tu tập:
    • Phải có tinh thần cầu học.
    • Học, tu sáng suốt.
    • Luôn tinh tấn.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Kể chuyện kèm tranh, mỗi Đàn tóm tắt lại một đoạn: xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo.
  8. 8Năm hạnh của người Phật tử
    Hình minh họa: Năm hạnh của người Phật tử.

    Chuẩn bị:

    • Huy hiệu hoa sen.
    • Tranh vẽ chư Phật, chư Bồ tát tượng trưng cho 5 hạnh.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    (Có thể dùng các chi tiết trong lịch sử Đức Phật để chứng minh từng hạnh. Sử dụng tranh vẽ để giới thiệu).

    Năm hạnh của người Phật tử cần theo dõi để tu học là:
    • Tinh tấn: Luôn luôn tiến tới, chuyên cần tu học, không nản lòng trước khó khăn thử thách, không thối chí trước mọi khó khăn nguy hiểm, tượng trưng cho hạnh này là Đức Phật Thích Ca.
    • Hỷ xả: Vui vẻ, vất bỏ tất cả những gì buồn phiền, âu lo, luôn luôn giữ sự hân hoan trong lòng cũng như trên nét mặt, rộng lượng tha thứ những gì người khác làm cho mình đau buồn, oan ức. Tượng trưng cho hạnh này là Đức Phật Di Lặc.
    • Thanh tịnh: Sạch sẽ, trong trắng, trang nghiêm và yên lặng. Giữ trong sạch từ thân thể đến lời nói, ý nghĩ, việc làm. Đừng để tâm mình bị xấu xa, làm rung động, tạo tham lam. Tượng trưng cho hạnh này la Đức Phật A Di Đà.
    • Trí huệ: Sáng suốt, hiểu biết cùng khắp, không bao giờ để sự ngu si mê mờ lấp trí mình, phải lo học hỏi để càng ngày càng thêm thông hiểu sáng suốt. Tượng trưng cho hạnh này là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.
    • Từ bi: Đem vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài. Thương yêu kẻ khác và loài vật như thương mình. Cố gắng giúp đỡ người và vật bất kể lúc nào có thể giúp được. tượng trưng cho hạnh này là Bồ tát Quan Thế Âm.
    2. Em trả lời:
    • Em được nghe nói về 5 hạnh của người Phật tử trong bài học nào?
    • Kể tên 5 hạnh và cho biết ý nghĩa từng hạnh?
    • Tượng trưng cho hạnh tinh tấn là vị Phật nào? Tương tự với 4 hạnh còn lại
    3. Em cần nhớ:
    Năm hạnh của người Phật tử cần sống theo hằng ngày là:
    • Tinh tấn: Luôn luôn tiến tới, cố gắng tu học, không nản chí không sờn lòng.
    • Hỷ xả: Vui vẻ, bỏ hết phiền muộn và biết rộng lòng tha thứ.
    • Thanh tịnh: Trong sạch từ thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm.
    • Trí huệ: Hiểu biết cùng khắp, học hỏi để mở mang trí óc và nhận định sáng suốt.
    • Từ bi: Đem vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài và khôn mong cầu trả ơn.
    4. Em thực hành:
    • Sống đúng theo năm hạnh của người Phật tử.
    • Đi họp chuyên cần, gặp khó khăn không sờn lòng.
    • Vui vẻ tha thứ cho bạn bè, cho mọi người.
    • Sạch sẽ thân thể, giữ lời nói, việc làm và ý nghĩ luôn tốt đẹp.
    • Luôn luôn học hỏi cho tiến tới.
    • Thương người và vật.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Mỗi em chọn một hạnh để thực hành trong tuần, buổi sau kể lại.

Rèn luyện (chuyện đạo – tiền thân)3 bài

  1. 1Thầy Tỳ kheo và con ngỗng
    Hình minh họa: Chuyện đạo : Thầy Tỳ kheo và con ngỗng

    Em nghe:

    Có một vị Tỳ Kheo đến khất thực tại một nhà kia được mời vào trong phòng ngồi một mình. Người chủ lên tiếp chuyện tay có đeo chiếc nhẫn, vô ý đánh rơi mà không biết. Lúc ấy con ngỗng đi ngang nuốt vào bụng. Vị Tỳ Kheo thấy, nhưng không nói gì. Một lát, người chủ mới biết mất chiếc nhẫn bèn lên tìm hỏi. Vị Tỳ Kheo im lặng không đáp. Người chủ sanh nghi hỏi dồn, vị Tỳ Kheo vẫn im lặng.

    Không thể nén lòng tức giận, người chủ mắng chửi và đánh đập, nhưng vị Tỳ Kheo vẫn cam chịu không nói một lời gì, lúc ấy có người nhà, chạy lên thưa với người chủ rằng: “Không biết gì sao con ngỗng của nhà tự nhiên ngã chết ngoài sân kia”. Nghe lời nói xong, vị Tỳ Kheo mới thong thả trả lời: “Khi hồi tôi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn”. Người chủ liền bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng thì tìm được chiếc nhẫn.

    Người chủ hối hận liền thưa với vị Tỳ Kheo: “Bạch Thầy, sao khi hỏi Thầy, Thầy lại không nói ngay cho con biết, để đến nỗi con sanh nghi, xúc phạm đến danh thể của Thầy?”.

    Vị Tỳ Kheo trả lời: “Ông nghi cũng phải, nhưng nếu tôi nói ngay thì con ngỗng sẽ bị ông giết vì lời nói của tôi, việc ấy tôi không bao giờ dám làm cả, dẫu có hại đến tánh mạng tôi cũng vậy”.

    Em trả lời:

    • Tại sao thầy Tỳ Kheo không cho chủ nhà biết con ngỗng đã nuốt chiếc nhẫn?
    • Vì sao khi con ngỗng chết rồi thầy Tỳ Kheo mới nói sự thật?
    • Nếu thầy Tỳ Kheo nói ngay cho chủ nhà biết con ngỗng nuốt chiếc nhẫn thì chủ nhà sẽ làm gì?

    Ý chính:

    Người Phật tử chấn chính hơn được những kẻ khác nhờ sự giữ giới và nhất định chịu thiệt thòi chứ không bỏ đạo quên lời Phật dạy.

    Thầy tỳ kheo mặc dầu biết rõ con ngỗng nuốt chiếc nhẫn nhưng nêu ra thì con ngỗng sẽ bị giết chết ngay để lấy lại chiếc nhẫn, nên thầy cam chịu nhiếc mắng, chịu đánh đập để giữ giới không sát sanh, giữ được tình thương bao la của kẻ tu hành với mọi người, mọi vật.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Đóng kịch: thầy Tỳ kheo, người thợ kim hoàn, con ngỗng; thảo luận về đức nhẫn nhục.
  2. 2Chiếc cầu muôn thuở
    Hình minh họa: Chuyện tiền thân : Chiếc cầu muôn thuở

    Em nghe:

    Trong một khu rừng xanh tươi thuộc núi Hy Mã Lạp Sơn, xứ Ấn Độ, có một cây xoài khổng lồ mọc cạnh bờ sông Hằng.

    Trên cây, có một đàn vượn cả ngàn con họp thành một quốc gia riêng biệt, do một vượn chúa thân hình đẹp đẽ, sức mạnh phi thường đứng đầu. Đến mùa xoài trỗ trái to, thơm, ngon đó là lương thực đủ dùng cho cả quốc gia vượn.

    Vượn chúa cẩn thận lắm, nó ra lệnh cho tất cả bầy vượn ăn hết trái xoài khi xoài còn xanh, không được đợi xoài chín, cả đoàn vâng lời làm theo. Nhưng rủi thay, một chuyện không may xảy đến. Một trái xoài to bị tổ kiến che lấp nên dần dà chín mùi rồi rụng xuống sông trôi theo giòng nước. Nước cuốn trái xoài chín vào trong hồ bơi của Vua xứ Ba La Nại, gặp đúng lúc nhà Vua đang tắm. Được quả xoài to chín thơm nên nhà Vua ăn thử lấy làm thích thú và hôm sau ra lệnh cho quân lính chèo thuyền theo dòng sông đi tìm chỗ cây xoài mọc.

    Sau ba ngày mệt nhọc nhà Vua và quân lính tìm được cây xoài vĩ đại ấy và nhìn thấy trên cây đàn vượn đang chuyền cành. Nhà Vua tức giận ra lệnh tàn sát đàn vượn đã hổn xược ăn hết xoài chín ngon trước nhà Vua. Nhưng trời đã sẩm tối, quân lính phải bao vây chờ hôm sau mới ra tay.

    Đêm đến đàn vượn vô cùng hoảng sợ. Riêng vượn chúa lại rất bình tỉnh, nó lén đến cành cây ngã về phía dòng sông, lấy hết sức phóng qua khỏi bờ bên kia. Vượn chúa tìm được những đoạn dây và hết sức vui mừng nối lại rồi buộc một đầu vào gốc cây còn đầu kia buộc vào thân mình. Đoạn vượn chúa dùng kết sức lực phóng về phía cành xoài với mục đích bắt thành chiếc cầu dây cứu đàn vượn. Rủi thay sợi dây ngắn một đoạn nên khi hai chân trước vừa bám được vào cành cây thì dây đã căng thẳng và chính thân của vượn chúa nối thế một đoạn dây.

    Vượn chúa ra lệnh cho cả đoàn vượn lần lượt sang sông. Bầy vượn ngần ngại vì phải dẫm lên mình vượn chúa. Nhiều con cảm động khóc nhưng tình thế bắt buộc đành phải trốn thoát sang sông. Con vượn cuối cùng khá lớn tên là Davadatta vốn ganh ghét vượn chúa nên nó dẫm mạnh lên mình của vượn chúa. Vượn chúa đau đớn gần muốn chết nhưng vẫn cắn răng chịu đựng để cứu con vượn gian ác ấy qua sông thoát chết.

    Qua được sông rồi, con vượn Devadatta nhìn lại lấy làm ân hận, rơi hai giòng lệ vì thấy vượn chúa lông lá tơi bời không cử động được nữa.

    Sáng dậy vua Ba La Nại truyền lệnh tiến quân, nhưng tất cả đều lấy làm lạ vì trên cây không còn con vượn nào cả. Nhìn lại chỉ thấy một chiếc cầu dây bắt ngang sông, từ mình một con vượn lớn. Các thợ rừng cho biết dó là con vượn chúa. Bấy giờ nhà Vua mới hiểu thấu đầu đuôi và tĩnh ngộ. Ngài nghĩ đến sự ích kỷ của mình chỉ vì những trái xoài mà định gây nên sự tàn sát thảm khốc. Ngài liền ra lệnh lui quân và tự tay vuốt ve săn sóc cho đến khi tĩnh lại.

    Sự hy sinh của vượn chúa làm cho nhà Vua hối cải sửa đổi cách trị dân và làm lành tránh ác.

    Vượn chúa là tiền thân của đức Phật Thích Ca.

    Em trả lời:

    • Tại sao đàn vượn ăn hết trái cây trước khi xoài chín?
    • Vì sao nhà vua tìm được cây xoài?
    • Vượn Chúa đã làm gì để cứu đàn vượn?
    • Tại sao nhà vua tự tay săn sóc, vuốt ve Vượn Chúa?
    • Vì sao nhà vua sửa đổi cách trị dân, làm lành tránh ác?

    Ý chính:

    Vượn chúa xem đồng loại như anh em ruột thịt dù cho con vượn độc ác Devadatta nghịch thù cũng vậy.

    Vượn chúa thể hiện tình thương đồng loại bằng cách sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu sống hết thảy đàn vượn, thoát khỏi sự tàn sát tập thể của một ông vua ích kỷ, xem sự thèm muốn những trái xoài chín ngon hơn sinh mạng những kẻ khác.

    Sự hy sinh cao đẹp ấy của một con vật đã làm cho nhà vua xấu hổ, hối cải và sửa đổi cách cai trị để trở thành một ông vua biết yêu thương đồng bào, biết làm lành tránh ác.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Kể chuyện, rồi các em vẽ lại chiếc cầu trong câu chuyện.
  3. 3Con thỏ mến đạo
    Hình minh họa: Chuyện đạo : Con thỏ mến đạo

    Em nghe:

    Ngày xưa có một con thỏ rất thông minh và ngoan ngoãn, ngày đêm thường quanh quẩn bên một vị Đạo sĩ tu hành trong rừng để nghe kinh kệ. Thường ngày thỏ đi kiếm hoa quả về dâng cho Đạo sĩ đúng giờ ngọ.

    Được ít lâu bỗng trời đổi khí hậu, mưa gió tầm tã, lạnh đến tận xương nên hoa quả đều thối rụng hết. Thỏ đi kiếm khắp nơi nhưng không có thức ăn để dâng cho Đạo sĩ. Vì thế Đạo sĩ phải chịu đói rét, chịu cực khổ. Ngài định thu dọn đồ đạc trở về chùa sau một thời gian rồi sẽ lên rừng tu luyện lại trong mùa xuân tới.

    Biết được ý định của Đạo Sĩ, thỏ vô cùng buồn bả, vì nếu Đạo Sĩ đi rồi thì thỏ ở lại một mình không ai giảng cho thỏ nghe câu kinh tiếng kệ để tu học. Thỏ nghĩ bụng rằng lâu nay Thầy ta thường ngày giảng dạy ta, bây giờ Thầy gặp cơn hoạn nạn thế này mà ta không cứu giúp thì còn gì buồn tủi cho bằng. Nghĩ xong thỏ chạy biến vào rừng để kiếm thức ăn nhưng không tìm đâu ra được thức ăn. Thỏ buồn bả trở về nói với Đạo Sĩ rằng:

    • Thưa ngài con đã kiếm được thức ăn xin ngài nhóm lửa lên để nướng thức ăn con vừa kiếm được.

    Đạo Sĩ nghe theo lời thỏ, lấy củi nhóm lửa. Khi ngọn lửa bốc cao đỏ rực thì con thỏ lanh lẹ lao vào lửa mà thưa rằng:

    • Món ăn chính là con đây xin ngài dùng cho đỡ đói.
    Đạo Sĩ hoảng hồn vội ôm thỏ đem ra và hỏi thỏ:
    • Tại sao lại làm như vậy?
    Thỏ sụt sùi thưa rằng:
    • Con mang ơn Ngài quá nhiều, ngày nay gặp cơn đói rét ngài phải tạm rời bỏ nơi này lòng con không yên, nên con xin hiến thân con để ngài dùng cho qua ngày khỏi bỏ dỡ việc tu hành.

    Đạo Sĩ nghe thỏ nói lấy làm cảm động, thương mến thỏ hơn xưa và bỏ ý định trở về chùa, ở lại rừng tu hành không sợ đói khát cực khổ.

    Em trả lời:

    • Thường ngày thỏ quanh quẩn bên đạo sĩ để làm gì?
    • Vì sao Đạo sĩ có ý định trở về chùa và hoãn việc tu hành tới mùa xuân?
    • Khi biết Đạo sĩ tạm xa rừng trở về chùa thỏ nghĩ gì?
    • Tại sao thỏ nhảy vào lửa?
    • Vì sao Đạo sĩ quyết ở lại rừng tu hành?

    Ý chính:

    Vì tinh thần mến đạo, mến thầy, không muốn thầy bỏ việc tu hành dở dang nên thỏ đã quên cả mạng sống, nhảy vào lửa đỏ làm thức ăn cho đạo sĩ.

    Tinh thần hy sinh cao cả đã làm cho vị Đạo sĩ cảm phục, phải quyết ở lại rừng trong cơn đói khổ để cho việc tu hành không gián đoạn.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Kể chuyện có điệu bộ; hỏi các em về lòng hy sinh của con thỏ.

Tu dưỡng2 bài

  1. 1Làm việc thiện: bố thí, phóng sanh

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)

    C huấn bị:

    • Chuyện kể: Có thể kể chuyện thực với chủ đề làm việc thiện (giúp cụ già băng qua đường, giúp đỡ người tàn tật, đóng góp cứu trợ…).
    • Chuyện gợi ý: Nhường phần ăn trưa.

    Nhà Vũ nghèo và ở xa trường nên trưa phải ở lại. Thức ăn trưa của Vũ là 1 gói cơm với muối vừng và 1 chai nước nhỏ. Tan trường, học sinh ra về. Sân trường chỉ còn vài học sinh ở lại trưa. Vũ ôm tập sách đến gốc cây sát rào trường, mở gói cơm ra định ăn. Nhưng kìa, lông lão áo quần rách rưới, ngồi dựa bờ rào, mặt mày bơ phờ, trông rất tội nghiệp. Vũ lễ phép thưa:

    • Thưa cụ, sao cụ nằm ở đây và có vẻ mệt nhọc như vậy?
    • Lão đói quá! Từ hôm qua đến giờ chưa có cơm ăn. Lão xin làm việc để có cái ăn nhưng không ai nhờ. Đói và mệt, lão nằm nghỉ tạm rồi sẽ tính sau.

    Nghe xong, Vũ thấy thương ông lão quá. Vũ cầm gói cơm, gói muối vừng và chai nước mời ông lão:

    • Thưa cụ, cháu có đem chút thức ăn, cụ tạm dùng cho đỡ đói.
    • Lão ăn thì còn đâu cho cháu. Thà lão chịu đói.

    Dù cảm thấy đói vì Vũ không ăn sáng nhưng thương ông lão nên Vũ nói dối:

    • Thưa cụ, cháu ăn rồi. Đây là phần của bạn cháu có người nhà đón nên để lại cho cháu. Xin cụ đừng từ chối!

    Vì quá đói lại nghe Vũ nói thế nên ông lão cầm gói cơm ăn ngon lành. Sau khi uống cạn chai nước, ông lão có vẻ khoẻ ra, cảm ơn Vũ và đứng dậy đi tiếp. Nhìn theo ông lão, Vũ thấy lòng vui vui, quên cả cái đói. Vũ lấy bài ra học. Vũ không biết là Nam, người bạn cuối lớp đã dõi theo việc làm của Vũ. Ông lão vừa đi, Nam liền đến bên Vũ trò chuyện. Biết Vũ là đoàn sinh GĐPT, xem việc giúp đỡ người khác là việc rất bình thường, là việc thiện cần phải làm, Nam cũng thấy vui. Cuối tuần, Đoàn của Vũ có thêm 1 thành viên mới. Nam đã về xin phép ba má cho mình đi họp đoàn cùng Vũ.

    Giờ học:

    1. Em nghe kể chuyện:
    2. Em trả lời:
    • Vì sao ông lão nằm bên bờ rào trường của Vũ?
    • Khi biết ông lão đói, Vũ đã làm gì?
    • Vũ đã nói đối điều gì? Vì sao?
    • Nam được Vũ cho biết đó là việc thiện em thường làm. Em hiểu thế nào là việc thiện?
    • Hãy kể những việc thiện mà em có thể làm được?
    • Làm việc thiện được những lợi ích gì?
    3. Em cần biết:
    • Việc thiện là việc làm tốt lành, quên lợi ích của mình để giúp người khác, kể cả loài vật. Hằng ngày, em gặp biết bao điều mà sức em có thể làm được: nhặt nhành gai, cây đinh, vỏ chuối bên đường, dắt 1 bà lão qua đường, cứu 1 con vật bị nạn… Việc làm tuy nhỏ nhưng chớ xem thường.
    • Làm việc thiện là tạo được phước lành.
    4. Em thực hành:
    • Mỗi ngày em làm ít nhất 1 việc thiện và nhắc các bạn khác cùng làm.
    • Học thuộc bài hát:

    “Buổi sáng nghĩ điểu lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 ngày vui.

    Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 đời vui.

    Ta sẽ có niết bàn, trong chính cuộc đời này. Ta sẽ có niết bàn, trong chính trái tim ta”.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) I. C huẩn b ị : –   Chuyện kể : Có thể kể chuyện thực với chủ đề làm việc thiện ( giúp cụ già băng qua đường, giúp đỡ người tàn tật, đóng góp cứu trợ…). –   Chuyện gợi ý : Nhường phần ăn trưa. Nhà Vũ nghèo và ở xa trường nên trưa phải ở lại. Thức ăn trưa của Vũ là 1 gói cơm với muối vừng và 1 chai nước nhỏ. Tan trường, học sinh ra về. Sân trường chỉ còn vài học sinh ở lại trưa. Vũ ôm tập sách đến gốc cây sát rào trường, mở gói cơm ra định ăn. Nhưng kìa, l ông lão áo quần rách rưới, ngồi dựa bờ rào, mặt mày bơ phờ, trông rất tội nghiệp. Vũ lễ phép thưa : –   Thưa cụ, sao cụ nằm ở đây và có vẻ mệt nhọc như vậy ? –   Lão đói quá ! Từ hôm qua đến giờ chưa có cơm ăn. Lão xin làm việc để có cái ăn nhưng không ai nhờ. Đói và mệt, lão nằm nghỉ tạm rồi sẽ tính sau. Nghe xong, Vũ thấy thương ông lão quá. Vũ cầm gói cơm, gói muối vừng và chai nước mời ông lão : –   Thưa cụ, cháu có đem chút thức ăn, cụ tạm dùng cho đỡ đói. –   Lão ăn thì còn đâu cho cháu. Thà lão chịu đói. Dù cảm thấy đói vì Vũ không ăn sáng nhưng thương ông lão nên Vũ nói dối : –   Thưa cụ, cháu ăn rồi. Đây là phần của bạn cháu có người nhà đón nên để lại cho cháu. Xin cụ đừng từ chối ! Vì quá đói lại nghe Vũ nói thế nên ông lão cầm gói cơm ăn ngon lành. Sau khi uống cạn chai nước, ông lão có vẻ khoẻ ra, cảm ơn Vũ và đứng dậy đi tiếp. Nhìn theo ông lão, Vũ thấy lòng vui vui, quên cả cái đói. Vũ lấy bài ra học. Vũ không biết là Nam, người bạn cuối lớp đã dõi theo việc làm của Vũ. Ông lão vừa đi, Nam liền đến bên Vũ trò chuyện. Biết Vũ là đoàn sinh GĐPT, xem việc giúp đỡ người khác là việc rất bình thường, là việc thiện cần phải làm, Nam cũng thấy vui. Cuối tuần, Đoàn của Vũ có thêm 1 thành viên mới. Nam đã về xin phép ba má cho mình đi họp đoàn cùng Vũ. II. Giờ h ọc : 1. Em nghe kể chu yệ n : 2. Em tr ả lời : –   Vì sao ông lão nằm bên bờ rào trường của Vũ ? –   Khi biết ông lão đói, Vũ đã làm gì ? –   Vũ đã nói đối điều gì ? Vì sao ? –   Nam được Vũ cho biết đó là việc thiện em thường làm. Em hiểu thế nào là việc thiện ? –   Hãy kể những việc thiện mà em có thể làm được ? –   Làm việc thiện được những lợi ích gì ? 3. Em cần biết : –   Việc thiện là việc làm tốt lành, quên lợi ích của mình để giúp người khác, kể cả loài vật. Hằng ngày, em gặp biết bao điều mà sức em có thể làm được : nhặt nhành gai, cây đinh, vỏ chuối bên đường, dắt 1 bà lão qua đường, cứu 1 con vật bị nạn… Việc làm tuy nhỏ nhưng chớ xem thường. –   Làm việc thiện là tạo được phước lành . 4. Em thực hành : –   Mỗi ngày em làm ít nhất 1 việc thiện và nhắc các bạn khác cùng làm. –   Học thuộc bài hát : “ Buổi sáng nghĩ điểu lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 ngày vui. Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 đời vui. Ta sẽ có niết bàn, trong chính cuộc đời này. Ta sẽ có niết bàn, trong chính trái tim ta ”. Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Ghi sổ tay hiếu hạnh

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    Sổ tay hiếu hạnh là quyển sổ nhỏ em ghi lại những việc làm hiếu thảo và việc làm tốt mỗi ngày. Ghi sổ giúp em nhớ, giữ thói quen tốt và biết mình tiến bộ.

    Cách ghi

    • Mỗi trang là một ngày: ghi ngày, tháng.
    • Ghi việc hiếu thảo: giúp ba mẹ, chăm sóc ông bà, vâng lời.
    • Ghi việc tốt khác: giúp bạn, thương con vật, làm việc thiện.
    • Ghi điều em chưa làm tốt và nguyện sửa.
    • Cuối tuần, đưa sổ cho anh chị trưởng xem và ký.

    Gợi ý hoạt động

    • Các em tự làm và trang trí bìa sổ tay hiếu hạnh trong giờ thủ công.
    • Đầu mỗi buổi sinh hoạt, Đầu Đàn kiểm tra sổ của các bạn trong Đàn.

Văn nghệ10 bài

  1. 1Bài ca của bậc Chân Cứng

    Đây là những bài hát được quy định trong chương trình Văn nghệ về thanh nhạc cho Bậc Chân Cứng.

    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Thuộc thêm 5 bài hát (gợi ý: Gia đình đầy thân ái, Chim bốn phương, Tuổi xuân, Ca họp đoàn, Kết đoàn)

    6 Bài hát Bậc Chân Cứng

    Đây là những bài hát được quy định trong chương trình Văn nghệ về thanh nhạc cho Bậc Chân Cứng.

    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thuộc thêm 5 bài hát

    Gợi ý bài hát

    • Gia đình đầy thân ái, Chim bốn phương, Tuổi xuân, Ca họp đoàn, Kết đoàn.

    Cách tập

    • Mỗi tuần một bài, tập từng câu rồi cả bài; dùng các bài này mở đầu và kết thúc buổi sinh hoạt.
  3. 3Tốp ca: Đoàn Lam non

    6 Bài hát Bậc Chân Cứng

    Đây là những bài hát được quy định trong chương trình Văn nghệ về thanh nhạc cho Bậc Chân Cứng.

    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng
    Hình minh họa: 6 Bài hát Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Tốp ca: Đoàn Lam non

    Hướng dẫn

    • Mỗi Đàn chọn 4 – 6 em hát tốp ca bài “Đoàn Lam non”.
    • Tập hát đều giọng, cùng bắt đầu và kết thúc; đứng ngay hàng, có thể thêm điệu bộ đơn giản.
    • Trình diễn trong lửa trại hoặc lễ Chu niên của Gia đình.
  4. 4Đơn ca

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Mỗi em chọn một bài hát đã thuộc trong chương trình ngành Đồng.
    • Tập đứng trước Đàn: đứng thẳng, nhìn về phía các bạn, hát rõ lời, không vội.
    • Đàn vỗ tay khích lệ sau mỗi bạn hát; Huynh trưởng góp ý nhẹ nhàng về giọng, lời và tác phong.
  5. 5Nhạc lý: làm quen với nốt nhạc, khuông nhạc
    Hình minh họa: Em làm quen với Khuông nhạc – Nốt nhạc

    Em cần biết:

    1. Một khuông nhạc gồm có 5 dòng (đường kẻ) song song và cách đều nhau. Năm dòng này tạo nên 4 khe.

    Ngoài những dòng và khe chính còn có những dòng, khe phụ ở phía dưới và phía trên khuông nhạc.

    Hình minh họa: Em làm quen với Khuông nhạc – Nốt nhạc

    2. Nhạc hiện nay thường sử dụng 7 nốt nhạc phổ thông Tây phương với tên gọi: Đô, Rê, Mi, Pha, Sol, La, Si.

    Thông thường người ta dùng khóa Sol để xác định tên nốt trên khuông. Khóa Sol được viết bắt đầu từ dòng thứ 2 (tính từ dưới lên). Từ nốt Sol chúng ta có thể tìm được vị trí các nốt khác theo thứ tự liền bậc ở khe, dòng, đi lên hoặc đi xuống.

    Hình minh họa: Em làm quen với Khuông nhạc – Nốt nhạc

    Sự thay đổi giữa các nốt nhạc này tạo nên cao độ. Hai nốt liền nhau cách nhau 1 cung (trừ hai nốt Mi – Pha = ½ cung, và Si – Đô = ½ cung).

    Hình minh họa: Em làm quen với Khuông nhạc – Nốt nhạc

    3. Về trường độ, sự khác nhau được phân biệt bởi các hình nốt. Hình nốt là kí hiệu ghi độ ngân dài ngắn của âm thanh.

    II. EM TRẢ LỜI VÀ THỰC HÀNH:
    Hình minh họa: Em làm quen với Khuông nhạc – Nốt nhạc
    • Kể tên các nốt nhạc theo thứ tự.
    • Kẻ khuông nhạc, viết khóa Sol và ghi 7 nốt.
    • Đọc tên các nốt nhạc trên khuông.
    • Viết các hình nốt tròn, nốt trắng, nốt đen, móc đơn, móc kép và so sánh giá trị giữa các nốt.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Kể chuyện: tập kể diễn cảm chuyện tiền thân, chuyện đạo

    Kể chuyện : Tập kể chuyện

    Hình minh họa: Kể chuyện : Tập kể chuyện
    1. Em thể hiện:

    Huynh trưởng yêu cầu 2 đoàn sinh kể lại chuyện đạo, chuyện tiền thân được nghe.

    2. Em cần biết:

    Kể chuyện cũng như đóng kịch, là làm thế nào cho người nghe có cảm tưởng như mình đang sống trong khung cảnh xảy ra câu chuyện. Giọng kể phải thay đổi theo tình tiết của câu chuyện, lúc buồn bui, lúc linh động, lúc giận hờn,…

    Muốn kể chuyện có kết quả, nghĩa là người nghe thấu suốt câu chuyện và lấy làm thích thú, em cần chú ý các điểm chính sau đây:

    • Tập kể chuyện và tập nói trước ở nhà để tránh bỡ ngỡ và rụt rè vì không quen nói trước đàm đông. Vào phòng riêng hay ra vườn vắng và kể một câu chuyện, cứ xem đồ vật trong phòng hay cây cối ngoài vườn là người quen. Chính lúc này để em tự giữ bình tĩnh cũng như sửa giọng nói, điệu bộ.
    • Khi đứng trước bạn bè hay người quen, cũng giữ cảm tưởng như đang đứng trong vườn cây, đừng sợ sệt, cố giữ bình tĩnh giọng nói và điệu bộ.
    • Khi kể chuyện phải đóng ngay từng vai ở trong chuyện. Lúc vui, lúc buồn, lúc căm hờn, lúc dịu hiền, … cốt làm cho người nghe thấy hứng thú và cảm nghĩ như đang đứng trước sự việc xảy ra.
    • Giọng kể không mau, không chậm, nhất là tránh lối kể chuyện như đọc, luôn luôn theo dõi phản ứng của người nghe.
    • Kết luận: nếu cần để cho người nghe đoán.
    • Kết thúc: nếu cần, tóm tắt nhấn mạnh những điểm chính.

    Tóm lại, muốn cho câu chuyện được như ý của người nghe, người kể phải đi từ tình tiết này đến tình tiết khác của câu chuyện, phải chuẩn bị hoàn hảo.

    3. Em trả lời:
    • Em có nhận xét gì về cách kể chuyện của mình và của các bạn?
    • Các yếu tố nào giúp em thành công trong kể chuyện?

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Kể chuyện diễn cảm

    Bậc Chân Cứng

    • Các em tập kể diễn cảm chuyện tiền thân, chuyện đạo đã học: Thầy Tỳ kheo và con ngỗng, Chiếc cầu muôn thuở, Con thỏ mến đạo.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đàn chọn một em kể chuyện trước Đoàn; các Đàn bình chọn người kể hay nhất.
  7. 7Thủ công, vẽ: cách pha màu

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • Ba màu chính: đỏ, vàng, xanh dương.
    • Pha hai màu chính được màu phụ: đỏ với vàng ra màu cam; vàng với xanh dương ra màu xanh lá; đỏ với xanh dương ra màu tím.
    • Pha thêm trắng màu sẽ nhạt hơn; pha thêm đen màu sẽ đậm hơn.
    • Pha từ từ: cho một ít màu đậm vào màu nhạt, khuấy đều, thử lên giấy nháp rồi mới tô.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi em vẽ “bánh xe màu”: một vòng tròn chia 6 phần, tô 3 màu chính và 3 màu tự pha.
  8. 8Vẽ hoa lá; trang trí hình vuông

    Tham khảo thêm

    Vẽ hoa lá thật

    • Đặt một nhành hoa, chiếc lá thật trước mặt; quan sát hình dáng, màu sắc.
    • Vẽ phác hình dáng chung, rồi vẽ cánh hoa, gân lá; tô màu theo màu thật.

    Trang trí hình vuông

    • Vẽ hình vuông, kẻ hai đường chéo và hai đường trục để tìm tâm.
    • Vẽ họa tiết chính ở giữa (bông sen, bông hoa); vẽ họa tiết phụ giống nhau ở 4 góc và 4 cạnh.
    • Tô màu: họa tiết giống nhau tô cùng màu; màu nền khác với màu họa tiết.

    Gợi ý hoạt động

    • Dùng các hình vuông trang trí đẹp ghép thành tấm thảm giấy treo ở góc sinh hoạt.
  9. 9Vẽ tranh đề tài Phật giáo

    Tham khảo thêm

    Gợi ý đề tài

    • Ngôi chùa em, lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, em lễ Phật, buổi sinh hoạt của Đoàn, hoa sen.

    Hướng dẫn

    • Chọn một đề tài, vẽ hình chính to, rõ ở giữa tranh; thêm cảnh phụ xung quanh.
    • Tô màu tươi sáng, hài hòa.

    Gợi ý hoạt động

    • Tổ chức thi vẽ tranh trong mùa Phật Đản hoặc Vu Lan.
  10. 10Vẽ lại một câu chuyện đã nghe

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Huynh trưởng kể lại một chuyện đạo hoặc chuyện tiền thân.
    • Các em chọn đoạn mình thích nhất và vẽ lại; có thể vẽ thành 3 – 4 khung nối tiếp như truyện tranh.
    • Mỗi em kể lại câu chuyện qua tranh của mình.

    Gợi ý hoạt động

    • Ghép tranh của cả Đàn thành một “quyển truyện tranh” của Đàn.

Hoạt động thanh niên8 bài

  1. 1Gút: ghế đơn, cẳng chó, ghế kép
    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    I. GÚT GHẾ ĐƠN

    1. Công dụng:

    Loại gút cấp cứu dùng đưa người lên hoặc xuống một bức tường cao, giếng sâu, nhưng không có một nấc thang nào để leo.

    2. Cách làm:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cũng không thể cắt bỏ hay tháo.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    II. GÚT CẲNG CHÓ

    1. Công dụng:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cứng không thể cắt bỏ hay tháo.

    2. Cách làm:
    • Cách thứ nhất:

    Khóa gút cẳng chó

    Khóa con sẽ.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    • Cách thứ hai:

    Khóa buộc vấn.

    Khóa quai chèo sơn ca.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    III. GÚT GHẾ KÉP

    1. Công dụng:

    Như công dụng gút ghế đơn nhưng có hai vòng dây chạy hay không chạy.

    2. Cách làm:

    Ghế kép không chạy.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    3. Cách sử dụng:

    Vòng lớn làm vòng ngoài vòng nhỏ tựa qua lưng làm vòng tựa qua nách, khi đưa xuống hay kéo lên phải từ từ.

    Có một gốc cây hay trụ làm vòng hãm để khỏi tuột tay rất nguy hiểm.

    Ghế kép chạy có thể nới hay thâu lại vòng dây tùy theo cỡ người

    IV. GÚT THÂU DÂY

    A. Nút xúc xích đơn

    1. Công dụng:

    Ngoài việc thâu ngắn dây còn dùng trang trí vành nón, dây còi, đẹp mà dễ tháo.

    2. Cách làm:

    Thoạt đầu làm gút thong lọng, sau đó đưa vòng khoen vào vòng trước tạo nên vòng sau, cứ thế cho đến cuối dây mới kéo qua hẳn vòng.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    B. Nút xúc xích kép:

    Cách làm (như hình vẽ, làm như xúc xích đơn nhưng vòng khoen dưa vào lần lượt bên dây này đến bên dây kia)

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    C. Nút Garrot

    1. Công dụng:

    Dùng căng dây bị chùng, buộc chắc phía trên vết thương để cầm máu hoặc ngăn không cho chất độc về tim.

    2. Cách làm:

    Dùng 1 que cứng xoắn dây nhiều vòng cho đến khi căng thì nẹp lại.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Thi thắt gút theo Đàn; dùng gút ghế đơn để buộc một vật thật.
  2. 2Dấu đi đường: nước uống được, nước độc, chia 2 nhóm, ghép lại 1 nhóm, rẽ trái, rẽ phải

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Tổ chức trò chơi lớn nhỏ: các Đàn đi theo dấu đi đường quanh chùa.
  3. 3Thông tin: tất cả bảng Morse; nhận tin bằng còi, cờ
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse
    • Tất cả bảng Morse. – Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    • Tất cả bảng Morse.
    • Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Đánh morse bằng còi và cờ theo cặp, thi giải mã một câu ngắn.
  4. 4Mật thư: núi, chuồng heo
    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    I. EM CẦN BIẾT:

    Mật thư là 1 bản tin, 1 bức thư mật được viết bằng loại ngôn ngữ quy ước.

    Mật thư có nhiều cách viết. Mỗi loại đều có khóa giúp người nhận mật thư giải mã được.

    Loại mật thư núi và khung được xây dựng trên qui ước sẵn có.

    1. Mật thư Núi:

    Sử dụng kí hiệu Morse để ghi: te (_) dung dạng núi cao, tích (.) dung dạng đồi thấp để ghi, khoảng cách là 1 gạch ngang.

    Ví dụ: Hoa sen

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư

    Biến dạng của loại này là cỏ cây, hoa lá, nốt nhạc…

    2. Mật thư Chuồng – Khung:

    Loại vuông gồm 2 ngang, 2 dọc. Muốn giải các em phải thuộc mẫu tự. Thông thường là bảng mẫu tự Anh, Pháp, gồm 26 chữ cái. Các chữ được quy ước vị trí trong từng ô của chuồng.

    Có thể dung mẫu tự Việt nhưng phải có chú thích (khóa mở)

    Ví dụ: vũ

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    Loại này có biến thể, dung chuồng 36 hoặc khóa gợi ý:

    Khóa: Một ô thứ tự 4 chàng, Chín ô 36 có chục nàng ở chung.

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    II. EM THỰC HÀNH:

    Viết tiếng reo của đoàn em bằng dạng mật thư Núi. Kẻ lại ô chuồng có 26 chữ và lập mật thư cho tên của đoàn em.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Mỗi Đàn soạn một mật thư núi hoặc chuồng heo cho Đàn bạn giải.
  5. 5Cứu thương: dùng thuốc tím, cồn, thuốc đỏ rửa vết thương; băng bàn tay, bàn chân; băng đầu bằng băng tam giác
    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:

    Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.

    2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):

    Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.

    3. Cách dùng thuốc đỏ:

    Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …

    Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.

    4. Băng bàn tay bằng khăn tay:

    Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.

    5. Băng bàn chân bằng khăn tay:

    Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    6. Băng đầu:

    Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Tập băng theo cặp; dùng khăn tam giác băng đầu.
  6. 6Thể dục: lợi ích của thể dục; đánh cầu lông, đá cầu; đi đều bước
    Hình minh họa: Thể dục
    1. Lợi ích của thể dục: 2. Hướng dẫn:

    Quan sát một người lực sĩ em thấy thân thể họ vạm vỡ, bắp thịt họ nở nang, sức khỏe hơn người. Do đó ít đau ốm, vui vẻ, thích sống có lợi cho gia đình và xã hội. Sở dĩ như vậy là vì họ biết tập thể dục, vận động cho thân thể cân đối, nở nang, người mạnh khỏe và sau đó họ mới đủ sức tập luyện thường xuyên các môn thể thao khác, đòi hỏi sức mạnh nhiều hơn thể dục.

    Trái lại, người không thích tập thể dục vì thiếu chịu khó, không thích vận động, lười biến … nên thân thể ốm yếu, dễ sinh bệnh tật, da dẻ xanh xao, …

    Tuy vậy, tập thể dục cũng phải điều độ, vừa sức, có phương pháp mới có lợi và tránh được những trường hợp hiểm nghèo vì tập quá độ, phí sức, thiếu phương pháp.

    3. Câu hỏi nhận xét:

    1. Người tập thể dục có lợi ích gì?

    2. Tại sao người tập thể dục đúng phương pháp lại yêu đời?

    3. Người không tập thể dục thì thân thể thế nào?

    Đi đều bước

    Đoàn hay Đàn được sắp thành hang ngang hay nhiều hang dọc thẳng tắp, khoảng cách đều nhau, vừa đi vừa hát những bài hát theo nhịp đi, tay đánh mạnh, chân bước vừa phải (không quá dài cũng đừng quá ngắn), dáng điệu mạnh mẽ. Mặt hướng về trước, đôi lúc ngước nhìn bên phải, bên trái để giữ hàng. Nhớ bước đầu tiên chân trái bước trước, tiếp theo mới chân phải. Có thể đếm 1, 2, 3, 4 để đi cho đều hoặc thổi còi theo nhịp đi.

    Tốt hơn hết là chọn những bài hát có nhịp đi để vừa đi vừa hát cho đều.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Tập đi đều bước theo hàng Đàn; tổ chức đá cầu, đánh cầu lông giữa các Đàn.
  7. 7Trò chơi luyện trí lực: điều khiển 1 trò chơi
    Hình minh họa: Trò chơi luyện trí lực

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)

    1. Ra khỏi luân hồi:
    • Số người, sân chơi: tùy nghi.
    • Chuẩn bị: Bảng, phấn, giẻ lau.
    • Cách chơi:

    Trước mặt các em, trên bảng đã vẽ 3 hình: sao, tròn, vuông. Cho các em quan sát và suy tính cách vẽ I nét được cả 3 hình mà không cần phải nhấc bút (phấn) lên. Mỗi em chỉ vẽ được 1 lần. Nếu chơi theo nhóm sẽ tính nhóm nào vẽ đủ hình nhanh nhất là nhóm thắng.

    Có thể chọn hình khác tùy trưởng

    2. Đếm số:
    • Số người, sân chơi: tùy nghi.
    • Chuẩn bị: Người chơi đứng hoặc ngồi theo vòng tròn.
    • Cách chơi:

    Tất cả giơ 2 tay ra phía trước, quản trò đứng giữa vòng, hô to 1 con số (từ 1 đến 10), các em lập tức xòe các ngón tay ở 2 bàn ra, sao cho tổng các ngón tay xòe ra phù hợp với số quản trò đã hô. Ai làm sai hoặc chậm đều bị phạt. Quản trò có thể hô nhanh để trò chơi thêm hào hứng.

    3. Năm hạnh:
    • Số lượng:

    Tùy nghi nhưng chia thành 5 đội, mỗi đội mang tên 1 trong 5 hạnh: trí tuệ, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn. từ bi. Những em lẽ sẽ làm phụ tá cho quản trò để phát hiện em chơi sai.

    • Sân chơi:

    Rộng đủ đứng thành vòng tròn và vẽ được 5 vòng nhỏ, chứa được số em mỗi nhóm.

    • Cách chơi:

    Tất cả đứng thành vòng tròn, trước mặt mỗi nhóm là 1 vòng tròn nhỏ. Quản trò đứng giữa, yêu cầu vòng tròn bắt bài hát, vỗ tay và đi theo nhịp (theo vòng chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại tùy quản trò). Nghe tiếng còi, mỗi nhóm nhanh chóng tìm về vòng tròn của nhóm. Nhóm thua là nhóm về sau cùng hoặc để em khác nhóm vào nhầm mà không phát hiện và mời ra.

    Thỉnh thoảng người quản trò đổi tên nhóm để các em phải tập trung sự chú ý, tránh sự nhàm chán do quá quen.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) 1. Ra khỏi luân hồi : –   Số người, sân chơi : tùy nghi. –   Chuẩn bị : Bảng, phấn, giẻ lau. –   Cách chơi : Trước mặt các em, trên bảng đã vẽ 3 hình : sao, tròn, vuông. Cho các em quan sát và suy tính cách vẽ I nét được cả 3 hình mà không cần phải nhấc bút ( phấn ) lên. Mỗi em chỉ vẽ được 1 lần. Nếu chơi theo nhóm sẽ tính nhóm nào vẽ đủ hình nhanh nhất là nhóm thắng. Có thể chọn hình khác tùy trưởng 2. Đếm số : –   Số người, sân chơi : tùy nghi. –   Chuẩn bị : Người chơi đứng hoặc ngồi theo vòng tròn. –   Cách chơi : Tất cả giơ 2 tay ra phía trước, quản trò đứng giữa vòng, hô to 1 con số ( từ 1 đến 10 ), các em lập tức xòe các ngón tay ở 2 bàn ra, sao cho tổng các ngón tay xòe ra phù hợp với số quản trò đã hô. Ai làm sai hoặc chậm đều bị phạt. Quản trò có thể hô nhanh để trò chơi thêm hào hứng. 3. Năm hạnh : –   Số lượng : Tùy nghi nhưng chia thành 5 đội, mỗi đội mang tên 1 trong 5 hạnh : trí tuệ, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn. từ bi. Những em lẽ sẽ làm phụ tá cho quản trò để phát hiện em chơi sai. –   Sân chơi : Rộng đủ đứng thành vòng tròn và vẽ được 5 vòng nhỏ, chứa được số em mỗi nhóm. –   Cách chơi : Tất cả đứng thành vòng tròn, trước mặt mỗi nhóm là 1 vòng tròn nhỏ. Quản trò đứng giữa, yêu cầu vòng tròn bắt bài hát, vỗ tay và đi theo nhịp ( theo vòng chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại tùy quản trò ). Nghe tiếng còi, mỗi nhóm nhanh chóng tìm về vòng tròn của nhóm. Nhóm thua là nhóm về sau cùng hoặc để em khác nhóm vào nhầm mà không phát hiện và mời ra. Thỉnh thoảng người quản trò đổi tên nhóm để các em phải tập trung sự chú ý, tránh sự nhàm chán do quá quen. Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Mỗi em chuẩn bị và điều khiển một trò chơi luyện trí cho Đàn.
  8. 8Lều trại: lều 2 mái

    Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.

    A. lều trại:

    1. Chuẩn bị:
    • Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
    • 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
    • 1 dây nóc.
    • Búa, cuốc.
    2. Thực hiên:
    a. Chọn vị trí và hướng trại:

    Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.

    Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).

    b. Dựng trại:
    • 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
    • Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
    • 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.

    Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.

    Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    B. xây tổ đàn:

    Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.

    Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.

    Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.

    Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…

    1. Chuẩn bị:
    • Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
    • Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
    • Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
    • 1 tấm tăng lót trải.
    2. Thực hiện:

    Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.

    Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.

    Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn
    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Lều trại: lều 2 mái

    Chuẩn bị

    • Một tấm bạt chữ nhật, 2 cây cọc đứng, 1 sợi dây nóc (hoặc 1 cây đòn nóc), 6 – 8 cọc nhỏ, dây giăng.

    Cách dựng

    • Chọn chỗ đất cao, bằng phẳng, không có kiến, không dưới cây có cành khô.
    • Trải bạt, xác định đường nóc ở giữa.
    • Dựng hai cọc đứng ở hai đầu, căng dây nóc qua hai đầu cọc, néo dây ra hai đầu và đóng cọc giữ.
    • Phủ bạt lên dây nóc, kéo hai mái xuống đều nhau; đóng cọc ở các góc và giữa hai cạnh bạt.
    • Chỉnh dây cho hai mái căng đều, không nhăn.

    Lưu ý

    • Đào rãnh nhỏ quanh lều để thoát nước khi mưa.
    • Khi nhổ trại, gỡ cọc, gấp bạt gọn, trả lại mặt đất sạch sẽ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đàn tự dựng một lều 2 mái; Huynh trưởng chấm điểm theo độ căng đều, chắc chắn và thời gian.

Hoạt động xã hội6 bài

  1. 1Đạo đức: thể hiện trách nhiệm đối với Đoàn
    I. EM NGHE:

    Học bậc Chân Cứng nghĩa là em đã qua 2 năm ở Oanh Vũ, có thể em đã nhận nhiệm vụ Đầu,Thứ đàn hoặc chưa nhưng em đã có một khoảng thời gian dài gắn bó với đàn, với đoàn.

    Em phải hiểu rõ mục đích của mình là khi đến với đoàn, với đàn, giúp các anh chị trưởng trông nom, làm nơi nương tựa cho các em oanh vũ mới để đàn có thể tiến đều.

    Em cần sinh hoạt chuyên cần, có dụng cụ sinh hoạt đầy đủ, biết rõ địa chỉ các em trong đàn của mình và địa chỉ Huynh trưởng của đoàn để liên lạc khi cần.

    Đối với các em mới vào đoàn, vào đàn, em nên chủ động đến tìm hiểu, tạo tình cảm gắn bó, yêu thương với các em. Dù là Đầu, Thứ đàn hay không, em vẫn cần thực hiện việc liên kết các thành viên trong đàn để giữ vững tinh thần và ý chí của đàn.

    II. EM TRẢ LỜI:
    • Vì sao em cần có trách nhiệm với Đàn?
    • Để thể hiện trách nhiệm với Đàn, em cần làm gì?
    • Đối với các em mới vào Đoàn,vào Đàn, em nên có sự quan tâm ra sao?
    III. EM CẦN NHỚ:

    Là đoàn sinh bậc Chân Cứng, em cần có trách nhiệm với Đàn. Em phải gương mẫu, chuyên cần, chăm tu học, tạo được sự đoàn kết, thương yêu giữa các em trong đàn, làm nơi nương tựa cho các oanh vũ mới vào Đoàn, vào Đàn.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Phân công mỗi em một việc trong Đàn (giữ cờ, giữ sổ, giữ dây…) trong một tháng.
  2. 2Đạo đức: bổn phận đối với mọi người
    Hình minh họa: HĐXH : Bổn phận đối với mọi người

    A. em cần biết:

    1. Mối quan hệ trong xã hội:

    Mọi người trong xã hội đều cần có nhau, nhờ nhau, giúp đỡ nhau để sống. Ta có cơm ăn nhờ người nông dân cấy cày, có áo quần nhờ người dệt vải, người thợ may…

    Người sống cùng xóm, cùng khu phố với ta là láng giềng, hàng xóm, tạo nên tình láng giềng. Rộng hơn ta có tình đồng hương, nghĩa đồng bào…

    2. Bổn phân đối với moi người:

    Vì mối quan hệ mật thiết giữa mọi người trong xã hội, chúng ta phải biết ơn tất cả mọi người, thương yêu và giúp đỡ người khác, xem nhau như anh em một nhà.

    Em luôn nhớ lời khuyên dạy của ông cha ta:
    • Thương người như thể thương thân.
    • Lá lành đùm lá rách.
    • Miếng khi đói, gói khi no,

    Của tuy tơ tóc, nghĩa so nghìn trùng.

    • Đạo Phật dạy ta tinh thần “Thượng báo tứ trọng ân” là để nhắc chúng ta chớ quên công ơn của những người sống chung quanh ta (Ân cha mẹ – Ân thầy bạn – Ân đất nước, xã hội – Ân Tam báo)

    Chúng ta thể hiện lòng biết ơn còn ở thái độ trách nhiệm đối với bản thân: chịu học hỏi, chăm làm việc, rèn luyện bản thân một cách toàn điện: Đức Ị trí, thể, mỹ…

    Chẳng những không gây thù chuốc oán với ai mà em còn phải biết “Chín bỏ làm mười. Tránh voi chẳng hỗ mặt nào”. Và sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khổ khăn, hoạn nạn (dù trước đây họ không tốt với mình) vì Phật đã dạy:

    “Lấy ân báo oán, oán sẽ tiêu tan. Lấy oán báo oán, oán oán trùng trùng”.

    B. em cần biết:

    • Vì sao em cần có bổn phận đối với mọi người?
    • Em phải làm gì để thể hiện bổn phận đối với mọi người?
    • Đức Phật đã dạy chúng ta điều gì trong quan hệ với mọi người?

    C. em thực hành:

    • Quà Vu Lan, quà Tết cho các bạn nghèo.
    • Bỏ ống (nuôi heo đất – hộp tiết kiệm) để làm việc thiện.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Thường thức: nhóm lửa, nấu nước
    Hình minh họa: Thường thức : Nhóm lửa – Nấu nước – Pha trà – Rửa chén, ly, tách
    A. NHÓM LỬA:
    1. Chuẩn bị:
    • Than, củi đã chẻ, đồ mồi (giấy, lá khô, củi vụn…) hột quẹt, đèn cầy hay đèn dầu, soong nồi sử dụng.
    • Khơi bếp (nếu là bếp củi), 3 cục đá hoặc gạch để làm bếp, đồ che chắn gió.
    2. Thực hiện:
    • Trừ trường hợp được sử dụng bếp dầu hay bếp ga, khi đi trại em không thể xem thường việc nhóm lửa, đặc biệt là khi em được phân công là hỏa đầu quân.
    • Trước hết, em hãy gác một ít củi khô nhỏ hoặc lá khô, giấy vo tròn để giữa.
    • Tiếp đến, em hãy gác củi vừa, lớn ngang dọc lên nhau, đủ có khe hở để lửa dễ đỏ.
    • Dùng que củi nhỏ hoặc giấy xếp dài làm que mồi, mồi lửa vào lòng bếp, để củi bén lửa vừa đủ mạnh mới bắt soong (nồi..) lên, tránh bắt sớm làm củi sập hay ngộp lửa.
    • Theo dõi lửa, nếu không đỏ tốt thì khơi bếp cho thoáng, giảm bớt củi to, thêm củi vừa vào cho bắt lửa mới đưa củi to thêm.
    3. Lưu ý:
    • Không dùng xăng để mồi lửa.
    • Sau khi nấu xong phải dập lửa, dẹp bếp nếu chỉ dùng 1 lần (rưới nước cho tắt lửa, nguội bếp), trả đá, gạch lại chỗ cũ (nhớ chờ nguội kẻo phỏng tay).
    B. NẤU NƯỚC:

    Hằng ngày, chúng ta dùng rất nhiều nước cần phải đun sôi: pha trà, để nguội uống cho hợp vệ sinh …Việc nấu nước tưởng là đơn giản nhưng em cần chú ý một số điểm sau:

    • Trước hết, em hãy tráng qua ấm, đổ nước sạch vào, ít nhiều tỳ mức cần dùng, tùy thời gian cần gấp hay không, nhưng nhớ đừng đổ quá đầy, vì khi sôi, nước dậy lên, trào ra làm tắt lửa, có khi gây nguy hiểm.
    • Khi nước sôi, em cần để ít nhất 5 phút cho sôi kĩ mới nhắc xuống, rót vào phích (bình thủy), pha trà hay để nguội.
    • Nhớ cẩn thận tránh vướng, va chạm, đặt ấm nơi bằng phẳng, tránh chỗ đường đi, chỗ thấp em bé trong nhà có thể đụng phải. Cần xem kĩ quai ấm chắc chắn để phòng ngừa tai nạn.
    C. PHA TRÀ:

    Để có bình trà ngon, ngoài chất lượng trà, em cần lưu ý cách pha chế. Bình trà phải súc thật sạch, cho trà vào bình. Khi nước sôi, em chế một ít vào bình trà, lắc bình nhanh tay rồi chất ra ngay. Sau đó mới đổ ngập nước sôi vào, đây kín bình lại cho hơi nóng làm chất trà mau ra.

    Khi chế trà ra nhiều ly, tách cùng lúc, em rót một phần đi đều hết các tách rồi mới trở lại vòng 2, vòng 3, tránh rót đầy tách thứ 1 rồi mới sang tách 2, 3 vì như thế, màu trà sẽ không đều ở các tách, vị trà vì thế cũng khác nhau.

    Đừng chế quá lưng cũng đừng chế đầy tràn tách, trông không lịch sự …

    D. RỬA CHÉN – LY – TÁCH:
    1. Chuẩn bị:
    • Thay nước, ly, tách, xà bông (nước rửa hoặc xà bông cục, bột), miếng vải nhỏ.
    • Nên xin phép quý cô phụ trách nhà bếp cho các em xuống sàn nước sau bếp thực hành.
    2. Thực hiện:

    Nếu ít rửa tay, tách trước, nếu nhiều nên để riêng từng loại để rửa.

    Ngâm nước thường trước, pha xà bông hay nước rửa vào 1 tô hay chén, vớt từng cái ra dùng miếng vải đã ngâm nước xà bông chùi rửa kĩ, thả vào trong thau nước sạch (Nếu là ly, tách mỏng, dễ vỡ thì không nên bỏ chung vào thau mà hãy rửa từng cái một). Sau khi đã rửa xà bông xong hãy tráng lại 3 lần nước sạch rồi mới úp rổ phơi ráo trước khi úp vào kệ đẻ chén bát.

    Nếu có nhiều ly, tách, chén bát cần rửa và có nhiều người rửa, nên có nhiều thau rửa và mỗi người làm 1 công đoạn.

    E. EM NHỚ:

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm …

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Thực hành ở trại hoặc sân chùa: nhóm lửa an toàn, nấu nước, pha trà mời quý thầy.
  4. 4Thường thức: pha trà, rửa chén, ly, tách
    Hình minh họa: Thường thức : Nhóm lửa – Nấu nước – Pha trà – Rửa chén, ly, tách
    A. NHÓM LỬA:
    1. Chuẩn bị:
    • Than, củi đã chẻ, đồ mồi (giấy, lá khô, củi vụn…) hột quẹt, đèn cầy hay đèn dầu, soong nồi sử dụng.
    • Khơi bếp (nếu là bếp củi), 3 cục đá hoặc gạch để làm bếp, đồ che chắn gió.
    2. Thực hiện:
    • Trừ trường hợp được sử dụng bếp dầu hay bếp ga, khi đi trại em không thể xem thường việc nhóm lửa, đặc biệt là khi em được phân công là hỏa đầu quân.
    • Trước hết, em hãy gác một ít củi khô nhỏ hoặc lá khô, giấy vo tròn để giữa.
    • Tiếp đến, em hãy gác củi vừa, lớn ngang dọc lên nhau, đủ có khe hở để lửa dễ đỏ.
    • Dùng que củi nhỏ hoặc giấy xếp dài làm que mồi, mồi lửa vào lòng bếp, để củi bén lửa vừa đủ mạnh mới bắt soong (nồi..) lên, tránh bắt sớm làm củi sập hay ngộp lửa.
    • Theo dõi lửa, nếu không đỏ tốt thì khơi bếp cho thoáng, giảm bớt củi to, thêm củi vừa vào cho bắt lửa mới đưa củi to thêm.
    3. Lưu ý:
    • Không dùng xăng để mồi lửa.
    • Sau khi nấu xong phải dập lửa, dẹp bếp nếu chỉ dùng 1 lần (rưới nước cho tắt lửa, nguội bếp), trả đá, gạch lại chỗ cũ (nhớ chờ nguội kẻo phỏng tay).
    B. NẤU NƯỚC:

    Hằng ngày, chúng ta dùng rất nhiều nước cần phải đun sôi: pha trà, để nguội uống cho hợp vệ sinh …Việc nấu nước tưởng là đơn giản nhưng em cần chú ý một số điểm sau:

    • Trước hết, em hãy tráng qua ấm, đổ nước sạch vào, ít nhiều tỳ mức cần dùng, tùy thời gian cần gấp hay không, nhưng nhớ đừng đổ quá đầy, vì khi sôi, nước dậy lên, trào ra làm tắt lửa, có khi gây nguy hiểm.
    • Khi nước sôi, em cần để ít nhất 5 phút cho sôi kĩ mới nhắc xuống, rót vào phích (bình thủy), pha trà hay để nguội.
    • Nhớ cẩn thận tránh vướng, va chạm, đặt ấm nơi bằng phẳng, tránh chỗ đường đi, chỗ thấp em bé trong nhà có thể đụng phải. Cần xem kĩ quai ấm chắc chắn để phòng ngừa tai nạn.
    C. PHA TRÀ:

    Để có bình trà ngon, ngoài chất lượng trà, em cần lưu ý cách pha chế. Bình trà phải súc thật sạch, cho trà vào bình. Khi nước sôi, em chế một ít vào bình trà, lắc bình nhanh tay rồi chất ra ngay. Sau đó mới đổ ngập nước sôi vào, đây kín bình lại cho hơi nóng làm chất trà mau ra.

    Khi chế trà ra nhiều ly, tách cùng lúc, em rót một phần đi đều hết các tách rồi mới trở lại vòng 2, vòng 3, tránh rót đầy tách thứ 1 rồi mới sang tách 2, 3 vì như thế, màu trà sẽ không đều ở các tách, vị trà vì thế cũng khác nhau.

    Đừng chế quá lưng cũng đừng chế đầy tràn tách, trông không lịch sự …

    D. RỬA CHÉN – LY – TÁCH:
    1. Chuẩn bị:
    • Thay nước, ly, tách, xà bông (nước rửa hoặc xà bông cục, bột), miếng vải nhỏ.
    • Nên xin phép quý cô phụ trách nhà bếp cho các em xuống sàn nước sau bếp thực hành.
    2. Thực hiện:

    Nếu ít rửa tay, tách trước, nếu nhiều nên để riêng từng loại để rửa.

    Ngâm nước thường trước, pha xà bông hay nước rửa vào 1 tô hay chén, vớt từng cái ra dùng miếng vải đã ngâm nước xà bông chùi rửa kĩ, thả vào trong thau nước sạch (Nếu là ly, tách mỏng, dễ vỡ thì không nên bỏ chung vào thau mà hãy rửa từng cái một). Sau khi đã rửa xà bông xong hãy tráng lại 3 lần nước sạch rồi mới úp rổ phơi ráo trước khi úp vào kệ đẻ chén bát.

    Nếu có nhiều ly, tách, chén bát cần rửa và có nhiều người rửa, nên có nhiều thau rửa và mỗi người làm 1 công đoạn.

    E. EM NHỚ:

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm …

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Thường thức: viết thư, gửi thư
    Hình minh họa: Viết thư – Gửi thư
    A. VIẾT THƯ:
    1. Mục đích:
    • Trao đổi tin tức, bộc lộ tình cảm, bày tỏ ý kiến, suy nghĩ với người thân.
    • Trình bày rõ ràng, diễn đạt được ý định muốn thông tin, trao đổi.
    2. Thực hiện:

    Bức thư gồm 3 phần: đầu thư, lòng thư, cuối thư.

    • Đầu thư: Nơi gửi, ngày …tháng…năm…

    Lời xưng hô (đúng mực, lễ phép, lịch sự)

    • Lòng thư: Nội dung muốn trao đổi.

    (Thăm hỏi, kể việc, bày tỏ tình cảm …)

    • Cuối thư: Lời chào,lời chúc, hứa hẹn …

    Kí tên

    B. GỬI THƯ:

    Muốn gửi thư cho bạn bè, người thân, em cần ghi nhớ những điều sau đây:

    1/Thư phải dán tem đầy đủ, đúng theo giá qui định lúc gửi (Dán ở góc phải trên).

    2/Phải đề tên người nhận với địa chỉ rõ ràng để thư không bị lạc (ghi ở giữa, 1/2 thư trở xuống):

    • Ở thành phố, đề tên họ, số nhà, tên đường, quận, thành phố.
    • Ở thôn quê, đề tên họ, số nhà, tổ, ấp (thôn), xã, huyện, tỉnh.

    3/Bên góc trái phía trên nhớ ghi địa chỉ người gửi, để nếu thư không có người nhận thì sẽ được gửi trả lại.

    4/Tem có thể mua từng lần hoặc mua nhiều để dành sử dụng dần. Sau khi dán tem, bỏ thư vào thùn thư ở bưu điện hoặc ở bất kì thùng thư nào thuận tiện nhất cho em.

    5/Phong bì dán sẵn được bán ở các nhà sách hoặc ở bưu điện. Em cũng có thể tự làm lấy, lớn nhỏ tùy thích. Thường với khổ giấy A4 (bằng trang giấy đôi tập học trò), em có thể làm thành bì thư kích cỡ thông dụng (Xếp 4 tờ giấy, gấp tờ giấy đã xếp 4 theo đường chéo để cắt 4 miếng góc ta sẽ biến hình chữ nhật thành hình thoi. Xếp góc hình thoi vào điểm giữa, mở trang giấy ra ta sẽ thấy có các đường lằn, cắt chính giữa các cạnh hình thoi hình chữ V. Cuối cùng xếp 4 góc vào giữa, dán mép lại, ta sẽ có 1 bì thư).

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Mỗi em viết một lá thư gửi ông bà hoặc bạn ở xa, Huynh trưởng hướng dẫn ghi phong bì.
  6. 6Giao thông: biết một số biển báo hiệu giao thông đường bộ
    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

    Hoạt động tham khảo thêm

    • Dùng tấm hình biển báo, trò chơi “biển này nghĩa là gì?” theo Đàn.