Phật pháp – Kiến thức5 bài
1Lịch sử Đức Phật Thích Ca (từ thành đạo đến nhập diệt)

Chuẩn bị:
- Hình ảnh về Đức Phật: thành đạo, giảng pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như, nhập diệt…
- Ít nhất một bồ đoàn để hướng dẫn các em thế ngồi kiết già.
Bài giảng:
1. Em nghe:
* Đức Phật đi truyền đạo:
Sau khi thành đạo vào đêm mùng 8 tháng chạp, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển, thuyết pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như và trong 3 tháng ngài đã có 60 đệ tử. Đức Phật truyền đạo hàng năm trong 9 tháng nắng, còn 3 tháng mưa ở tịnh xá chuyên tu, giáo hóa hơn 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, một số nổi tiếng như:
- Ngài Ca Diếp: vị tổ thờ Lửa.
- Vua Tần Bà Ta La xứ Ma Kiệt Đà.
- Ngài Mục Kiền Liên: thần thông đệ nhất.
- Ngài Xá Lợi Phất: trí huệ đệ nhất.
- Ngài Nan Đà, A Nan, Ưu Bà Ly, A Nan Luật Đà.
- Bà Di Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề.
- Ngài Tu Bạt Đà La: là đệ tử cuối cùng 80 tuổi.
* Đức Phât nhập Niết Bàn:
Ngài họp các hàng đệ tử lại giảng kinh lần cuối rồi từ giã mọi người dưới 2 cây Sa La Song Thọ, rừng Xa Nại, xứ Câu Ly vào ngày rằm tháng 2 âm lịch. Ngài hưởng thọ 80 tuổi, trao y bát cho ngài Ca Diếp để truyền đạo.
2. Em trả lời:
- Lần đầu tiên Đức Phật truyền đạo cho ai? Ở đâu?
- Kể tên một số đệ tử nổi tiếng của Đức Phật?
- Ngài truyền đạo vào thời điểm nào? Thời gian được bao lâu?
- Lần cuối cùng thuyết pháp độ cho ai?
- Ngài nhập diệt ở đâu? Lúc nào?
3. Em cần nhớ:
Từ thành đạo đến nhập diệt, suốt 49 năm ngài đã truyền đạo cứu độ chúng sanh ra khỏi biển khổ. Đức Phật hóa độ cho hàng vạn ức đệ tử, đủ các thành phần trong xã hội. Đến ngày rằm tháng 2 âm lịch, ngài nhập diệt dưới 2 gốc cây Sa La, xứ Câu Ly, thọ 80 tuổi.
4. Em th ực hành:
Em tập tư thế ngồi kiết già như Đức Phật lúc nhập định.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Kể chuyện kèm tranh: thành đạo, chuyển pháp luân, nhập diệt.
- Các Đàn vẽ một bức tranh chung về một sự kiện trong cuộc đời Đức Phật.
2Ý nghĩa 4 lời nguyện rộng lớn
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)
Chuẩn bị:
Kinh nhật tụng, Nghi thức tụng niệm của GĐPT.
Giờ học:
1. Em suy nghĩ:
Thệ nguyện là một việc rất thiêng liêng. Hằng tuần, trong giờ lễ Phật, chúng ta đã đọc tụng 4 lời nguyện. Em hãy nhắc lại nguyên văn 4 lời nguyện.
2. Em nghe:
Chúng sanh không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp
Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch
Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học
Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành.
a. Giải nghĩa:
- Thệ nguyện: Hứa sẽ làm cho được.
- Chúng sanh: tất cả mọi loài, mọi người.
- Độ: cứu giúp.
- Phiền não: Những điều làm cho mình mất an vui. Như tham, giận, mê muội.
- Pháp môn: cách tu học do đức Phật tìm chế ra.
- Viên thành: thành công một cách tốt đẹp hoàn toàn
b. Ý chính:
- Câu 1: Nguyện cứu giúp chúng sanh.
- Câu 2: Nguyện dứt bỏ hết tất cả phiền não.
- Câu 3: Nguyện tu học hết tất cả các pháp môn.
- Câu 4: Đạo Phật cao cả hơn hết, nguyện đạt thành.
3. Em trả lời:
1. Chúng sanh là gì?
2. Em hãy đọc và giải nghĩa bốn lời nguyện?
4. Em cẩn nhớ:
Người Phật tử chân chánh phát nguyện cứu độ hết tất cả chúng sanh, diệt trừ hết phiền não, tu học hết tất cả các pháp môn và tu thành đạo cả.
Lời Phật dạy:
“TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH”
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) I. Chuẩn b ị : Kinh nhật tụng, Nghi thức tụng niệm của GĐPT. II. Giờ h ọc : 1. Em su y nghĩ : Thệ nguyện là một việc rất thiêng liêng. Hằng tuần, trong giờ lễ Phật, chúng ta đã đọc tụng 4 lời nguyện. Em hãy nhắc lại nguyên văn 4 lời nguyện. 2. Em nghe : Chúng sanh không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành. a. Giải nghĩa : – Thệ nguyện : Hứa sẽ làm cho được. – Chúng sanh : tất cả mọi loài, mọi người. – Độ : cứu giúp. – Phiền não : Những điều làm cho mình mất an vui. Như tham, giận, mê muội. – Pháp môn : cách tu học do đức Phật tìm chế ra. – Viên thành : thành công một cách tốt đẹp hoàn toàn b. Ý chính : – Câu 1 : Nguyện cứu giúp chúng sanh. – Câu 2 : Nguyện dứt bỏ hết tất cả phiền não. – Câu 3 : Nguyện tu học hết tất cả các pháp môn. – Câu 4 : Đạo Phật cao cả hơn hết, nguyện đạt thành. 3. Em trả lời : 1. Chúng sanh là gì ? 2. Em hãy đọc và giải nghĩa bốn lời nguyện ? 4. Em cẩn nhớ : Người Phật tử chân chánh phát nguyện cứu độ hết tất cả chúng sanh, diệt trừ hết phiền não, tu học hết tất cả các pháp môn và tu thành đạo cả. Lời Phật dạy : “TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH ” Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Cả Đoàn đọc bốn lời nguyện, các em giải thích mỗi lời nguyện bằng lời của mình.
3Làm việc thiện
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)
C huấn bị:
- Chuyện kể: Có thể kể chuyện thực với chủ đề làm việc thiện (giúp cụ già băng qua đường, giúp đỡ người tàn tật, đóng góp cứu trợ…).
- Chuyện gợi ý: Nhường phần ăn trưa.
Nhà Vũ nghèo và ở xa trường nên trưa phải ở lại. Thức ăn trưa của Vũ là 1 gói cơm với muối vừng và 1 chai nước nhỏ. Tan trường, học sinh ra về. Sân trường chỉ còn vài học sinh ở lại trưa. Vũ ôm tập sách đến gốc cây sát rào trường, mở gói cơm ra định ăn. Nhưng kìa, lông lão áo quần rách rưới, ngồi dựa bờ rào, mặt mày bơ phờ, trông rất tội nghiệp. Vũ lễ phép thưa:
- Thưa cụ, sao cụ nằm ở đây và có vẻ mệt nhọc như vậy?
- Lão đói quá! Từ hôm qua đến giờ chưa có cơm ăn. Lão xin làm việc để có cái ăn nhưng không ai nhờ. Đói và mệt, lão nằm nghỉ tạm rồi sẽ tính sau.
Nghe xong, Vũ thấy thương ông lão quá. Vũ cầm gói cơm, gói muối vừng và chai nước mời ông lão:
- Thưa cụ, cháu có đem chút thức ăn, cụ tạm dùng cho đỡ đói.
- Lão ăn thì còn đâu cho cháu. Thà lão chịu đói.
Dù cảm thấy đói vì Vũ không ăn sáng nhưng thương ông lão nên Vũ nói dối:
- Thưa cụ, cháu ăn rồi. Đây là phần của bạn cháu có người nhà đón nên để lại cho cháu. Xin cụ đừng từ chối!
Vì quá đói lại nghe Vũ nói thế nên ông lão cầm gói cơm ăn ngon lành. Sau khi uống cạn chai nước, ông lão có vẻ khoẻ ra, cảm ơn Vũ và đứng dậy đi tiếp. Nhìn theo ông lão, Vũ thấy lòng vui vui, quên cả cái đói. Vũ lấy bài ra học. Vũ không biết là Nam, người bạn cuối lớp đã dõi theo việc làm của Vũ. Ông lão vừa đi, Nam liền đến bên Vũ trò chuyện. Biết Vũ là đoàn sinh GĐPT, xem việc giúp đỡ người khác là việc rất bình thường, là việc thiện cần phải làm, Nam cũng thấy vui. Cuối tuần, Đoàn của Vũ có thêm 1 thành viên mới. Nam đã về xin phép ba má cho mình đi họp đoàn cùng Vũ.
Giờ học:
1. Em nghe kể chuyện:
2. Em trả lời:
- Vì sao ông lão nằm bên bờ rào trường của Vũ?
- Khi biết ông lão đói, Vũ đã làm gì?
- Vũ đã nói đối điều gì? Vì sao?
- Nam được Vũ cho biết đó là việc thiện em thường làm. Em hiểu thế nào là việc thiện?
- Hãy kể những việc thiện mà em có thể làm được?
- Làm việc thiện được những lợi ích gì?
3. Em cần biết:
- Việc thiện là việc làm tốt lành, quên lợi ích của mình để giúp người khác, kể cả loài vật. Hằng ngày, em gặp biết bao điều mà sức em có thể làm được: nhặt nhành gai, cây đinh, vỏ chuối bên đường, dắt 1 bà lão qua đường, cứu 1 con vật bị nạn… Việc làm tuy nhỏ nhưng chớ xem thường.
- Làm việc thiện là tạo được phước lành.
4. Em thực hành:
- Mỗi ngày em làm ít nhất 1 việc thiện và nhắc các bạn khác cùng làm.
- Học thuộc bài hát:
“Buổi sáng nghĩ điểu lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 ngày vui.
Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 đời vui.
Ta sẽ có niết bàn, trong chính cuộc đời này. Ta sẽ có niết bàn, trong chính trái tim ta”.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) I. C huẩn b ị : – Chuyện kể : Có thể kể chuyện thực với chủ đề làm việc thiện ( giúp cụ già băng qua đường, giúp đỡ người tàn tật, đóng góp cứu trợ…). – Chuyện gợi ý : Nhường phần ăn trưa. Nhà Vũ nghèo và ở xa trường nên trưa phải ở lại. Thức ăn trưa của Vũ là 1 gói cơm với muối vừng và 1 chai nước nhỏ. Tan trường, học sinh ra về. Sân trường chỉ còn vài học sinh ở lại trưa. Vũ ôm tập sách đến gốc cây sát rào trường, mở gói cơm ra định ăn. Nhưng kìa, l ông lão áo quần rách rưới, ngồi dựa bờ rào, mặt mày bơ phờ, trông rất tội nghiệp. Vũ lễ phép thưa : – Thưa cụ, sao cụ nằm ở đây và có vẻ mệt nhọc như vậy ? – Lão đói quá ! Từ hôm qua đến giờ chưa có cơm ăn. Lão xin làm việc để có cái ăn nhưng không ai nhờ. Đói và mệt, lão nằm nghỉ tạm rồi sẽ tính sau. Nghe xong, Vũ thấy thương ông lão quá. Vũ cầm gói cơm, gói muối vừng và chai nước mời ông lão : – Thưa cụ, cháu có đem chút thức ăn, cụ tạm dùng cho đỡ đói. – Lão ăn thì còn đâu cho cháu. Thà lão chịu đói. Dù cảm thấy đói vì Vũ không ăn sáng nhưng thương ông lão nên Vũ nói dối : – Thưa cụ, cháu ăn rồi. Đây là phần của bạn cháu có người nhà đón nên để lại cho cháu. Xin cụ đừng từ chối ! Vì quá đói lại nghe Vũ nói thế nên ông lão cầm gói cơm ăn ngon lành. Sau khi uống cạn chai nước, ông lão có vẻ khoẻ ra, cảm ơn Vũ và đứng dậy đi tiếp. Nhìn theo ông lão, Vũ thấy lòng vui vui, quên cả cái đói. Vũ lấy bài ra học. Vũ không biết là Nam, người bạn cuối lớp đã dõi theo việc làm của Vũ. Ông lão vừa đi, Nam liền đến bên Vũ trò chuyện. Biết Vũ là đoàn sinh GĐPT, xem việc giúp đỡ người khác là việc rất bình thường, là việc thiện cần phải làm, Nam cũng thấy vui. Cuối tuần, Đoàn của Vũ có thêm 1 thành viên mới. Nam đã về xin phép ba má cho mình đi họp đoàn cùng Vũ. II. Giờ h ọc : 1. Em nghe kể chu yệ n : 2. Em tr ả lời : – Vì sao ông lão nằm bên bờ rào trường của Vũ ? – Khi biết ông lão đói, Vũ đã làm gì ? – Vũ đã nói đối điều gì ? Vì sao ? – Nam được Vũ cho biết đó là việc thiện em thường làm. Em hiểu thế nào là việc thiện ? – Hãy kể những việc thiện mà em có thể làm được ? – Làm việc thiện được những lợi ích gì ? 3. Em cần biết : – Việc thiện là việc làm tốt lành, quên lợi ích của mình để giúp người khác, kể cả loài vật. Hằng ngày, em gặp biết bao điều mà sức em có thể làm được : nhặt nhành gai, cây đinh, vỏ chuối bên đường, dắt 1 bà lão qua đường, cứu 1 con vật bị nạn… Việc làm tuy nhỏ nhưng chớ xem thường. – Làm việc thiện là tạo được phước lành . 4. Em thực hành : – Mỗi ngày em làm ít nhất 1 việc thiện và nhắc các bạn khác cùng làm. – Học thuộc bài hát : “ Buổi sáng nghĩ điểu lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 ngày vui. Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa làm việc lành, buổi tối mông điều lành, ta có 1 đời vui. Ta sẽ có niết bàn, trong chính cuộc đời này. Ta sẽ có niết bàn, trong chính trái tim ta ”. Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Lập kế hoạch một việc thiện của Đàn: thăm người già, nhặt rác, góp sách cũ.
4Ý nghĩa cờ Phật giáo

Chuẩn bị:
- Cờ Phật giáo.
- Nếu được, dùng giấy màu vừa giảng, vừa đính thành cờ Phật giáo.
Giờ hoc:
Em nghe:
a. Nguồn gốc:
Lá cờ 5 sắc và 1 sắc tổng hợp, trước hết, do một đại tá người Mỹ nghĩ ra, rồi Thượng tọa Hikkduuwe Sumanga và nước Tích Lan đề nghị làm cờ Phật giáo đầu tiên ở Tích Lan năm 1885.
Đến ngày 25 tháng 5 năm 1950, 26 phái đoàn Phật giáo thế giới trong đó có Việt Nam đã họp tại Colombo Tích Lan, quyết định dùng lá cờ ấy làm cờ Phật giáo thế giới.
b. Ý nghĩa:
Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc và một sắc tổng hợp theo chiều ngang.
* Năm sắc theo chiều dọc là:
Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng và da cam – tượng trưng cho ánh sáng hào quang của đức Phật tỏa chiếu lúc thành đạo. Năm màu ấy là biểu lộ của ánh sáng của Đức Phật, sức mạnh vô biên của Phật giáo và còn tượng trưng cho 5 căn:
- Giữ vững niềm tin: Tín.
- Tinh tấn dù gặp nghịch cảnh: Tấn.
- Tưởng nhổ đạo pháp đặng cứu độ chúng sanh: Niệm.
- Hành động vững chắc không lay chuyển: Định.
- Phát huy trí tuệ, nhận định sáng suốt: Huệ.
* Màu tổng hợp.
Tượng trưng sức mạnh kết hợp lại trong hào quang chư Phật, cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.
2. Em trả lời:
- Cờ Phật giáo do ai nghĩ ra đầu tiên?
- Cờ Phật giáo được thế giới công nhận năm nào?
- Kể 5 màu thứ tự theo chiều dọc.
- 5 màu riêng tượng trưng ý nghĩa gì?
- Em tôn trọng cờ Phật giáo như thế nào?
3. Em cần nhớ:
Cờ Phật giáo thế giới được 26 phái đoàn thế giới hợp tại Colombo Tích Lan, trong đó có Việt Nam, công nhận vào năm 1950.
Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc. Thứ tự: xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, da cam và màu tổng hợp.
5 màu riêng tượng trưng cho ánh sáng hào quang của chư Phật và sức mạnh của Phật giáo. Màu tổng hợp tượng trưng cho sức mạnh vô biên kết hợp trong hào chư Phật cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.
Chúng ta luôn luôn tôn trọng cờ Phật giáo.
4. Em thực hành:
Em luôn tôn trọng cờ Phật giáo,vẽ chính xác cờ Phật giáo.
Em treo cờ Phật giáo trong các ngày vía Phật và lễ lược Phật giáo.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tô màu cờ Phật giáo đúng thứ tự màu; tập treo cờ trong ngày lễ.
5Lên Đoàn và ý nghĩa lời phát nguyện lên Đoàn


do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)
Em nghe:
Oanh Vũ nam, nữ tròn 12 tuổi được cắt dây đeo lên ngành thiếu.
Việc lên đoàn rất cần thiết để em có điều kiện sinh hoạt, tu học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của mỗi người.
Từ sinh hoạt bầy đàn ở oanh vũ, các em sẽ làm quen với sinh hoạt hàng đội tự trị, có ý thức trách nhiệm với đội chúng trong tinh thần đồng đội, tương thân, tương ái, giúp nhau cùng thăng tiến.
Tuổi 13 đến với các em bằng sự phát triển nhảy vọt, các em muôn tự khẳng định mình, mong được trao việc… Muốn thế, các em phải rèn luyện ý chí, bản lĩnh, đứng vững trên đôi chân của mình, nhận thức đúng đắn, chịu trách nhiệm về lời nói, việc làm của mình.
Một thời điểm mới đầy ý nghĩa bắt đầu, đánh dấu sự trưởng thành ở các em. Hãy hãnh diện về điều này!
Em trả lời:
- Ở tuổi nào oanh vũ sẽ được lên đoàn?
- Vì sao oanh vũ phải lên đoàn?
- Có gì khác giữa sinh hoạt của oanh vũ và ngành thiếu?
- Em có thích lên đoàn hay không? Vì sao?
Em cần nhớ:
Chiếu Nội Quy của tổ chức GĐPT Việt Nam, Oanh vũ tròn tuổi 12 sẽ được dự lễ lên đoàn, chuyển lên sinh hoạt với ngành Thiếu cho phù hợp với điều kiện phát triển và giáo dục.
Việc lên đoàn đánh dấu bước trưởng thành của Oanh vũ. Không chỉ riêng bản thân em mà Đoàn và Gia Đình cũng rất tự hào về sự trưởng thành của em.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tập dượt nghi thức lễ lên Đoàn để các em hiểu ý nghĩa lời phát nguyện.
Rèn luyện (chuyện đạo – tiền thân)3 bài
1Sư tử trọng pháp
Em nghe:
Ngày xưa tại khu rừng nọ có con Sư tử tên là Kiên Thệ, lông ánh sắc vàng, sức mạnh địch hơn ngàn con. Mỗi lần Kiên Thệ rống lên làm vang động cả khu rừng, chim bay bị rớt xuống, và loài thú lẫn tránh thật xa vì khiếp sợ.
Trong rừng có một vị Sa môn rất oai nghi, thanh ti6nh, hiền từ và vui vẻ, Sư tử thường đến gần để nghe tụng kinh giảng đạo. Lúc bấy giờ có một chàng thợ săn nghĩ rằng bộ lông Sư tử rất đẹp, ta có thể giết lột da dâng vua. Nhưng lại e sợ vì Sư tử là chúa các loài thú nên không thể dùng cung tên thường, hoặc sập bẫy đối với sức mạnh phi thường của Sư tử. Chỉ có cách giả dạng một vị Sa môn, ngồi dưới gốc cây dụ Sư tử đến gần và dùng tên độc bắn vào chỗ hiểm mới mong hạ át được.
Nghĩ kế xong, người thợ săn liền cạo đầu, khoác áo thành một vị Sa môn ngồi dưới gốc cây. Quả nhiên Sư tử đến gần để nghe giảng pháp. Người thợ săn liền dùng tên tẩm thuốc độc bắn vào mắt Sư tử. Sư tử đau quá, rống ngược lên, muốn nhảy đến vồ chết vị Sa môn giả hiệu kia, nhưng lại nghĩ rằng: Người kia mặc áo cà sa tức là biểu hiện cho Đức Phật, nay ta sát hại không khó gì nhưng sợ phạm đến màu áo tượng trưng cho Đức Phật. Nghĩ vậy Sư tử bèn nuốt giận chịu đau và chịu chết chứ không đụng đến vị Sa môn vì sợ chạm đến hình dung Đức Phật.
Khi Kiên Thệ bị thuốc độc thấm chết, người thợ săn bèn lột da đem dâng vua.
Nhưng khi nghe thuật lại câu chuyện, nhà vua thấy được ác tâm tàn bạo của người thợ săn và cảm phục được tinh thần kính trọng Tam bảo của Sư tử Kiên Thệ vua ra lệnh chém người thợ săn và đem xác Sư tử làm lễ siêu táng như một vị Sa môn.
Sư tử Kiên Thệ là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Em trả lời:
1. Sư tử Kiên Thệ có những đặc điểm gì?
2. Tại sao người thợ săn không đặt bẫy hoặc dùng tên thường để giết Sư tử?
3. Người thợ săn làm thế nào để sát hại được Sư tử?
4. Vì sao Kiên Thệ không trả thù người thợ săn độc ác?
5. Khi đem da Sư tử dâng vua, người thợ săn có được nhà vua ban thưởng gì không?
6. Nhà vua đã làm gì khi hiểu rõ được sự độc ác của người thợ săn?
3. Em cần nhớ:
Biết rõ người thợ săn giả dạng Sa môn để sát hại mình như Sư tử Kiên Thệ không trả thù bằng cách vồ chết người thợ săn độc ác, chỉ vì người ấy mang áo có hình dung Đức Phật.
Thà chịu chết mà giũ được đạo pháp, kính trọng Tam Bảo chứ không thể xúc phạm hình ảnh Đức Phật từ bi.
Cuối cùng kẻ giả dạng vị Sa môn vẫn lộ nguyên hình kẻ ác và bị đền tội, còn Kiên Thệ vẫn giữ được tinh thần trong pháp khiến nhà vua phải kính nể.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Kể chuyện, thảo luận vì sao sư tử chịu đau mà không làm hại vị sa môn.
2Đức Phật với La Hầu La
Chuyên kể:
Khi chưa thành đạo, La Hầu La (Con của thái tử Tất Đạt Đa – Đức Phật Thích Ca) tính tình cọc cằn lười biếng, không chịu tu học. Đức Phật liền bảo La Hầu La về tịnh xá Hiền Độ tu học trong chín mươi ngày không dừng nghỉ mà sám hối tội lỗi.
Khi Đức Phật đến thăm, La Hầu La đem một chậu nước đến cho Phật rửa chân. Rửa xong, Đức Phật hỏi La Hầu La rằng:
- Nước trong chậu bây giờ có thể đem dùng uống được không?
- Bạch Thế Tôn Không thể dùng được, trước đây nước sạch, nhưng bây giờ rửa chân bị dơ bẩn không thể uống được.
Phật dạy rằng:
- Ngươi cũng như vậy, là con ta, cháu vua Tịnh Phạn, từ bỏ cuộc sống xa hoa để xuất gia tu hành. Nếu ngươi không chăm lo tu học, để tâm ô uế cũng như nước bẩn kia không thể dùng được.
Phật bảo La Hầu La đổ chậu nước đi và hỏi:
- Chậu kia không còn nước bẩn, vậy có thể dùng đựng thức ăn được không?
- Bạch Thế Tôn! Không thể được vì chậu đã mang tiếng đựng nước bẩn.
Phật dạy La Hầu La:
- Ngươi cũng vậy, tuy là kẻ tu hành nhưng tâm biếng nhác, miệng nói điều chẳng lành và bị tiếng đồn không tốt, cũng như cái chậu kia không dùng vào việc cao trọng được.
Đức Phật lấy chân hất cái chậu làm cho nứt bể và bảo La Hầu La:
- Ngươi cũng vậy, tuy là kẻ tu hành nhưng đã mang tiếng xấu nên chẳng có ai thương, ai quý, cũng như ngươi không quý cái chậu kia.
Nghe lời Phật dạy, La hầu La lấy làm xấu hổ, bèn phát tâm sám hối và từ đó về sau tinh tấn tu hành.
Em trả lời:
1. Tại sao nước trong chậu không thể uống được?
2. Vì sao La Hầu La không quý chậu khi Đức Phật hất cho bể?
3. Về sau La Hầu La đã làm gì để theo lời Phật dậy?
Em cần nhớ:
Con người cũng như đồ vật, đã mang tiếng xấu, bị kẻ khác khinh ghét thì không còn quý giá gì nữa và không được trọng dụng.
Muốn được mến thương, quý trọng, ta cần phải tu học trở nên người tốt hiền lành theo đúng lời Phật dạy.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Đóng kịch ngắn Đức Phật dạy La Hầu La; các em nói về đức thành thật.
- 3Đoàn sinh Không Gian Nguyễn Thị Vân
Tu dưỡng2 bài
1Niệm Phật trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy
Chuẩn bị:
Khung cảnh: Chánh điện hay trước tượng Phật ở sân chùa.
Giờ học:
1. Chuyện kể gợi ý:
Có thể kể câu chuyện khác cùng chủ đề.
Năm 1971, trên một chuyến tàu lớn đưa các đơn vị GĐPT Gia Định đi thăm Cần Giờ, do bị sóng nhồi, một rồi hai em thiếu nữ bị ngộp thở, khó chịu, Huynh trưởng phụ trách y tế đã theo canô cấp cứu đưa hai em về Bện viện Sài Gòn. Không khí trên tàu lặng đi, anh Trại trưởng truyền lệnh cho các đơn vị quan tâm đến tình hình sức khỏe của trại sinh và dành 10 phút để niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát. Niềm tin giúp mọi người quan tâm, tránh được sự hoảng loạn.
2. Em suy nghĩ:
- Vì sao gặp chuyện nguy hiểm khẩn cấp, Phật tử lại niệm danh hiệu ngài Quan Thế Âm? Niệm danh hiệu Phật có được hay không?
- Em hiểu niệm Phật là gì?
- Thực hành điều thứ nhất có liên quan gì đến việc em niệm Phật?
- Niệm Phật cần phải như thế nào?
- Có mấy cách niệm Phật?
- Niệm Phật được lợi ích gì?
3. Em cần nhớ:
Niệm Phật là tưởng nhớ đến danh hiệu Phật, hình dung các tướng tốt, công hạnh và lời dạy của chư Phật, chư Bồ tát để cố gắng noi theo tu học.
Khi niệm Phật lòng em phải tập trung tưởng nhớ chư Phật, không nghĩ đến bất cứ điều gì ác.
Niệm Phật có nhiều cách. Có thể niệm lớn, niệm thầm, niệm bằng cách tưởng nhớ … Hai cách căn bản là mật niệm (niệm thầm) và tụng niệm (niệm lớn như lúc tụng kinh, lễ Phật).
Chăm chỉ niệm Phật lòng em lằng dịu, được gần Phật, xa việc ác làm việc lành, quên buồn chán đau khổ và tìm được an vui, lợi ích cho mình, cho người.
Em niệm Phật còn tạo được phước lành về sau.
4. Em th ực hành:
- Thành kính lúc niệm Phật.
- Niệm Phật trước khi đi ngũ.
“Em chăm niệm Phật hàng ngày
Tránh xa điều ác, vui say việc lành”.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
2Nguyện ăn chay ít nhất 2 ngày trong tháng và các ngày đại lễ

Chuẩn bị:
- Sách dạy nấu ăn (có thể là những bài báo, sách nói về lợi ích việc ăn ngũ cốc, không có ăn thịt cá …).
- Kinh phổ thông có bản ghi những ngày trai (nhị trai, tứ trai, lục trai, thập trai …).
Giờ học:
1. Em suy nghĩ:
- Ăn chay là ăn những món gì?
- Ăn chay có đầy đủ chất bổ dưỡng, có lợi ích cho sức khỏe không? Tại sao?
- Vì sao đạo Phật dạy chúng ta ăn chay?
2. Em cần nhớ:
Ăn chay là ăn rau, quả, đậu, mè … mà không ăn thịt, cá, trừng …
Ăn chay rất hợp vệ sinh, đầy đủ chất bổ dưỡng lại dễ tiêu. Giúp thân thể khỏe mạnh, tránh bệnh tật, trí óc sáng suốt.
Theo lời Phật dạy, người ăn chay tránh được tội sát sanh, tránh được quả báo, thể hiện được tình yêu thương muôn loài, bớt tính hung ác, trở nên hiền lành và được hiểu người yêu mến.
3. Em th ực hành:
Em nguyện ăn chay mỗi tháng vào các ngày rằm, mùng một, các ngày vía Phật, Bồ tát.
Lâu dần em tiến đến tứ trai, lục trai, thập trai, trai kỳ, …
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Văn nghệ11 bài
1Thêm 5 bài hát mới (gợi ý: Tung bay, Mừng thầy đến, Mừng Vu Lan, Nghe tiếng còi, Vòng tròn)
Đây là những bài hát quy định trong chương trình Văn nghệ về thanh nhạc cho bậc Tung Bay.





2Tập hát cho Đàn

1. Em cần biết:
Có nhiều em mới, chưa thuộc các bài đã được tập rồi nên em có thể tập cho đàn hát để tất cả đều thuộc. Lúc tập hát cần chú ý những điểm sau:
- Hát cho các em nghe vài lần.
- Tập kỹ từng câu hai ba lần.
- Tập xong hai ba câu, cần hát lại một đoạn đã tập. Khi tập xong mỗi đoạn hay khi tập xong cả bài, cần chia thành từng nhóm nhỏ để hát thi, xem em nào hát sai thì tập lại kỹ hơn. Phải vui vẻ và kiên nhẫn.
- Khi Đàn đã hát đúng thì tập hát theo tiến vỗ tay, sau đó có thể tập thêm nhiều điệu bộ như các anh chị đã tập để bài hát vui hơn.
- Khi tập hát nên để Đàn nồi hay đứng hình chữ U để dễ kiểm soát. Nếu cần cho đứng, một thời gian cho ngồi thoải mái.
2. Em trả lời:
- Lúc tập cho 1 Đàn hát, em cần chú ý những điều gì?
- Đức tính em cần có khi dạy hát?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Mỗi Đầu Đàn, Thứ Đàn chọn một bài và tập cho Đàn mình hát.
3Nhạc lý: làm quen với nhịp và phách

1. Em cần biết:
a. Bản nhạc được chia thành những “nhịp” và “phách” để giúp chúng ta dễ phân biệt âm mạnh, nhẹ, phần mạnh, nhẹ của âm thanh.
Nhịp là những phần nhỏ có giá trị thời gian bằng nhau được lặp đi lặp lại đều đặn trong một bản nhạc, bài hát.
Giữa các nhịp có 1 vạch đứng để phân cách được gọi là vạch nhịp.
Mỗi nhịp lại chia thành những phần nhỏ hơn đều nhau về thời gian gọi là phách.
b. Nhịp 2/4:
Gồm có 2 phách, mỗi phách bằng 1 nốt đen. Phách thứ nhất là phách mạnh, phách thứ hai là phách nhẹ.
Nhịp 2/4 là loại nhịp thông dụng, thường được dùng cho các bài hát tập thể, hành khúc, các điệu dân ca.

Số chỉ nhịp 2/4 thường được đặt ở đầu bản nhạc. Số 2 chỉ số lượng phách trong nhịp, số 4 chỉ độ dài của phách.
2. Em trả lời:
- Nhịp là gì? Phách là gì? – Cách đánh nhịp 2/4?
- Nhịp là gì? Phách là gì?
- Cách đánh nhịp 2/4?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
4Múa, kịch: tùy nghi áp dụng, mang tính giáo dục

MÚA – KỊCH
Tùy nghi áp dụng mang tính giáo dục.
1. Em cần biết:
Đóng kịch tức là diễn lại một câu chuyện đã xảy ra, hoặc một câu chuyện đạo, một chuyện tiền thân mà em đã học.
Kịch đối với ngành Đồng như các em không lấy gì làm khó khăn, không rườm rà, miễn sao có óc nhận xét, phải bạo dạn, diễn đạt được những đặc điểm của nhân vật trong vở kịch.
Em cần bắt chước và làm đúng y hệt như từng vai trong chuyện nhưng phải chú ý và bắt chước những điều hay, tránh điều hung dữ, xấu xa không thích hợp với tinh thần Phật tử.
Hóa trang lúc kịch em cũng khỏi lo, vì cần gì phải sửa soạn rườm rà mất công. Điều quan trong là làm thế nào em phải chuẩn bị nhanh, có óc sáng kiến và óc sáng tạo. Chẳng hạn chiếc mũ lộn ngược, thêm vài tua bằng lá là có thể dùng làm mũ của một tên cướp, cái tăng hay cái mềm quấn quanh đầu, em đóng được vai người nhà quê, chú lọ nồi vẽ sơ sài hay chút bông gòn thấm mực dùng làm bộ râu, táu lá chuối xé sơ hay tàu lá dứa quấn quanh người dùng làm chiếc khố, …
Khi diễn kịch trên sân khấu có tính cách quan trong hơn, và cần nhiều nghệ thuật, … thì các anh chị đã lo cho các em rồi.
2. Em trả lời:
- Đóng kịch là làm gì?
- Những yêu cầu cần có khi tham gia đóng kịch?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Mỗi Đàn dựng một vở kịch ngắn từ chuyện tiền thân đã học, trình diễn cuối tháng.
5Kể chuyện có điệu bộ

1. Em thể hiện:
Huynh trưởng yêu cầu 2 đoàn sinh kể lại chuyện đạo, chuyện tiền thân được nghe.
2. Em cần biết:
Kể chuyện cũng như đóng kịch, là làm thế nào cho người nghe có cảm tưởng như mình đang sống trong khung cảnh xảy ra câu chuyện. Giọng kể phải thay đổi theo tình tiết của câu chuyện, lúc buồn bui, lúc linh động, lúc giận hờn,…
Muốn kể chuyện có kết quả, nghĩa là người nghe thấu suốt câu chuyện và lấy làm thích thú, em cần chú ý các điểm chính sau đây:
- Tập kể chuyện và tập nói trước ở nhà để tránh bỡ ngỡ và rụt rè vì không quen nói trước đàm đông. Vào phòng riêng hay ra vườn vắng và kể một câu chuyện, cứ xem đồ vật trong phòng hay cây cối ngoài vườn là người quen. Chính lúc này để em tự giữ bình tĩnh cũng như sửa giọng nói, điệu bộ.
- Khi đứng trước bạn bè hay người quen, cũng giữ cảm tưởng như đang đứng trong vườn cây, đừng sợ sệt, cố giữ bình tĩnh giọng nói và điệu bộ.
- Khi kể chuyện phải đóng ngay từng vai ở trong chuyện. Lúc vui, lúc buồn, lúc căm hờn, lúc dịu hiền, … cốt làm cho người nghe thấy hứng thú và cảm nghĩ như đang đứng trước sự việc xảy ra.
- Giọng kể không mau, không chậm, nhất là tránh lối kể chuyện như đọc, luôn luôn theo dõi phản ứng của người nghe.
- Kết luận: nếu cần để cho người nghe đoán.
- Kết thúc: nếu cần, tóm tắt nhấn mạnh những điểm chính.
Tóm lại, muốn cho câu chuyện được như ý của người nghe, người kể phải đi từ tình tiết này đến tình tiết khác của câu chuyện, phải chuẩn bị hoàn hảo.
3. Em trả lời:
- Em có nhận xét gì về cách kể chuyện của mình và của các bạn?
- Các yếu tố nào giúp em thành công trong kể chuyện?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Thi kể chuyện có điệu bộ giữa các Đàn.
6Viết tường thuật

I. CHUẨN BỊ:
Chọn 1 bài tường thuật hay, ngắn gòn viết về 1 buổi lễ, 1 ngày trại gần nhất có các em tham gia để đọc cho các em nghe.
II. GIỜ HỌC:
1. Em nghe:
Cho các em nghe bài tường thuật đã chọn, đề nghị 1 em thuật lại 1 buổi sinh hoạt mà em thích nhất.
2. Em suy nghĩ:
- Tường thuật là làm gì?
- Bài tường thuật có thể thực hiện ở dạng thể nào?
- Vì sao cần viết thành bài tường thuật?
3. Em cần nhớ:
Viết tường thuật giúp em lưu lại những suy nghĩ, cảm xúc cá nhân về các buổi sinh hoạt, chu niên, thi vượt bậc, công tác từ thiện xã hội, diễn đạt tâm tư, tình cảm đối với đạo pháp, tổ chức GĐPT, chùa tháp, quê hương…
Những bài hay được tập hợp lại làm báo đoàn, báo gia đình.
Quen viết tường thuật, em sẽ dễ dàng diễn đạt ý kiến, tư tưởng, tình cảm… của mình, lưu giữ được các bài viết hay giúp bạn bè, người thân hiểu thêm về em, về tổ chức em đang sinh hoạt.
Bài viết có thể được thực hiện ở nhiều dạng thể khác nhau: văn, thơ, …
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Các em viết tường thuật một buổi sinh hoạt, đọc trước Đoàn.
7Kẻ chữ: nét đều, thanh, đậm
Tham khảo thêm
Chuẩn bị
- Giấy kẻ ô, bút chì, thước, bút lông hoặc bút dạ.
Chữ nét đều
- Tất cả các nét dày bằng nhau. Kẻ hai đường chân chữ, đầu chữ song song; các chữ cao bằng nhau, khoảng cách giữa các chữ đều nhau.
Chữ nét thanh, nét đậm
- Nét đi xuống viết đậm, nét đi lên và nét ngang viết thanh (mảnh).
- Tập trước từng chữ cái, rồi đến từ ngắn như “Hòa”, “Tin”, “Vui”, “Gia Đình Phật Tử”.
Gợi ý hoạt động
- Mỗi Đàn kẻ bảng tên Đàn, khẩu hiệu Đàn để dùng trong sinh hoạt và trại.
8Vẽ trang trí đối xứng qua trục: lều trại, huy hiệu hoa sen
Ý nghĩa Huy hiệu Hoa sen – Em vẽ Huy hiệu Hoa sen

Chuẩn bị:
- Bút chì, compa, gôm, bảng, phấn.
- Hình Huy hiệu Hoa sen vẽ theo mẫu hướng dẫn đúng quy cách.
- Một số giấy trắng làm nháp tập cho các em vẽ.
Giờ học:
1. Hướng dẫn vẽ:
Huynh trưởng yêu cầu vẽ kích thước Huy hiệu, độ lớn nhỏ tuỳ yêu cầu, cơ sở căn cứ là đường kính vòng tròn huy hiệu.
Vừa vẽ, vừa giải thích cách vẽ (lưu ý vòng tròn vẽ 5 cánh trên bằng 2/3 vòng tròn lớn, vòng tròn vẽ cánh Phật gần bằng 1/3 vòng tròn lớn, cách vẽ đối xứng).
- Đường tròn tâm O đương kính AB
- O1A1 = 1/3AB
- A1A2 = A2A3
- O3B1 < 1/6AB
- Dây cung C1C2 thẳng góc với AB tai C (CO3 = O3B1)
2. Em suy nghĩ:
- Hoa sen có màu gì? Có bao nhiêu cánh?
- Huy hiệu hoa sen của GĐPT màu gì? Có bao nhiêu cánh.
- Màu cánh sen trắng có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của mỗi cánh?
- Màu nền xanh lá mạ tượng trưng cho điều gì?
- Hình tròn nói lên sự việc gì?
3. Em cần nhớ:
Hoa sen là loài hoa mọc trong bùn nhưng vẫn toả ngát hương thơm, không bị ô nhiễm. Hoa sen thường có 2 màu trắng và hồng, có nhiều cánh.
GĐPT chọn Hoa sen làm Huy hiệu. Hoa sen này có 8 cánh, có màu trắng trên nền xanh lá mạ.
Năm cánh trên tượng trưng cho 5 hạnh:
- Cánh giữa: Tinh tấn.
- Trái của cánh giữa: Xỷ xả.
- Trái của hỷ xã: Trí tuệ.
- Phải của cánh giữa: Thanh tịnh.
- Phải của thanh tinh: Từ bi.
Ba cánh dưới chỉ cho 3 ngôi báu:
- Cánh giữa: Phật.
- Cánh trái: Pháp.
- Cánh phải: Tăng.
Màu trắng: Sự trong sáng của trí tuệ và tinh khiết.
Màu xanh lá mạ: Tuổi trẻ đang vươn lên đầy hy vọng trong tương lai.
Hình tròn: tượng trưng cho sự viên dung vô ngại của đạo Phật.
4. Em thực hành:
- Vẽ Huy hiệu Hoa sen và điền tên của từng cánh.
- Tôn trọng và giữ gìn Huy hiệu Hoa sen.
(Tham khảo hướng dẫn vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh Trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện).

Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Vẽ trang trí đối xứng qua trục: lều trại, huy hiệu hoa sen
Hướng dẫn
- Kẻ một đường trục dọc ở giữa tờ giấy.
- Vẽ một nửa hình (nửa lều trại, nửa huy hiệu hoa sen) ở một bên trục.
- Vẽ nửa còn lại giống hệt như soi gương qua trục. Có thể gấp đôi tờ giấy theo trục để kiểm tra.
- Huy hiệu hoa sen: 8 cánh trắng trên nền xanh lá mạ, viền vòng tròn trắng; xem cách vẽ trong bài ở trên.
Gợi ý hoạt động
- Gấp đôi tờ giấy, vẽ nửa hình rồi cắt ra để được hình đối xứng hoàn chỉnh.
9Vẽ hay xé dán con vật quen thuộc
Thủ công : Xé giấy dán tranh

I. CHUẨN BỊ:
- Vật liệu: Giấy trắng (hoặc mặt sau lịch tháng đã dùng), giấy màu (có thể xử dụng các trang báo quảng cáo có nhiều màu rất đẹp), keo …
- Tranh mẫu gợi ý (nhà, cây, con vật …)
II. GIỜ HỌC
Huynh trưởng giới thiệu một vài trình gợi ý (nên vừa sức hoặc trên một chút thôi).
Dùng giấy trắng khổ to (nhỏ) tùy ý trưởng hướng dẫn để làm nền.
Xé giấy màu thành hình nhà, vây, con vật do các em nghĩ ra hoặc theo mẫu tùy ý.
Sau khi các em thực hiện xong, trưởng góp ý cho các em về bố cục, màu sắc, đặc biệt khen ngợi những tác phẩm có tính sáng tạo cao.
(Có thể gợi ý cho các em giữ các tranh đẹp cho triển lãm sức sống của Đoàn trong lần gần nhất).
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Mở Mắt do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Vẽ hay xé dán con vật quen thuộc
Bậc Tung Bay
- Chọn con vật quen thuộc: chó, mèo, gà, cá, chim, voi.
- Xé dán theo cách đã học ở bậc Mở Mắt (bài ở trên), nhưng chi tiết hơn: thêm mắt, lông, đuôi, cảnh nền.
10Vẽ tranh: Em làm việc thiện
Tham khảo thêm
Gợi ý đề tài
- Em giúp ông bà, cha mẹ; em dắt người già qua đường; em chia quà cho bạn nghèo; em phóng sanh; em nhặt rác ở sân chùa.
Hướng dẫn
- Vẽ chính em đang làm việc thiện ở giữa tranh; vẽ thêm cảnh nơi đó.
- Đặt tên cho bức tranh, viết tên ở góc dưới.
Gợi ý hoạt động
- Nối với bài “Em làm việc thiện”: mỗi em vẽ lại một việc thiện mình đã làm thật.
11Vẽ hay cắt dán cờ Phật giáo
Ý nghĩa lá cờ Phật giáo

Chuẩn bị:
- Cờ Phật giáo.
- Nếu được, dùng giấy màu vừa giảng, vừa đính thành cờ Phật giáo.
Giờ hoc:
Em nghe:
a. Nguồn gốc:
Lá cờ 5 sắc và 1 sắc tổng hợp, trước hết, do một đại tá người Mỹ nghĩ ra, rồi Thượng tọa Hikkduuwe Sumanga và nước Tích Lan đề nghị làm cờ Phật giáo đầu tiên ở Tích Lan năm 1885.
Đến ngày 25 tháng 5 năm 1950, 26 phái đoàn Phật giáo thế giới trong đó có Việt Nam đã họp tại Colombo Tích Lan, quyết định dùng lá cờ ấy làm cờ Phật giáo thế giới.
b. Ý nghĩa:
Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc và một sắc tổng hợp theo chiều ngang.
* Năm sắc theo chiều dọc là:
Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng và da cam – tượng trưng cho ánh sáng hào quang của đức Phật tỏa chiếu lúc thành đạo. Năm màu ấy là biểu lộ của ánh sáng của Đức Phật, sức mạnh vô biên của Phật giáo và còn tượng trưng cho 5 căn:
- Giữ vững niềm tin: Tín.
- Tinh tấn dù gặp nghịch cảnh: Tấn.
- Tưởng nhổ đạo pháp đặng cứu độ chúng sanh: Niệm.
- Hành động vững chắc không lay chuyển: Định.
- Phát huy trí tuệ, nhận định sáng suốt: Huệ.
* Màu tổng hợp.
Tượng trưng sức mạnh kết hợp lại trong hào quang chư Phật, cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.
2. Em trả lời:
- Cờ Phật giáo do ai nghĩ ra đầu tiên?
- Cờ Phật giáo được thế giới công nhận năm nào?
- Kể 5 màu thứ tự theo chiều dọc.
- 5 màu riêng tượng trưng ý nghĩa gì?
- Em tôn trọng cờ Phật giáo như thế nào?
3. Em cần nhớ:
Cờ Phật giáo thế giới được 26 phái đoàn thế giới hợp tại Colombo Tích Lan, trong đó có Việt Nam, công nhận vào năm 1950.
Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc. Thứ tự: xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, da cam và màu tổng hợp.
5 màu riêng tượng trưng cho ánh sáng hào quang của chư Phật và sức mạnh của Phật giáo. Màu tổng hợp tượng trưng cho sức mạnh vô biên kết hợp trong hào chư Phật cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.
Chúng ta luôn luôn tôn trọng cờ Phật giáo.
4. Em thực hành:
Em luôn tôn trọng cờ Phật giáo,vẽ chính xác cờ Phật giáo.
Em treo cờ Phật giáo trong các ngày vía Phật và lễ lược Phật giáo.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Vẽ hay cắt dán cờ Phật giáo
Hướng dẫn
- Cờ Phật giáo gồm 6 màu: xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam và màu thứ sáu là sự kết hợp của 5 màu trên.
- Vẽ khung cờ hình chữ nhật, chia các sọc màu theo đúng thứ tự; xem ý nghĩa và cách sắp xếp màu trong bài ở trên.
- Cắt dán: cắt các dải giấy màu, dán theo đúng thứ tự lên nền giấy.
Gợi ý hoạt động
- Làm cờ Phật giáo nhỏ cắm trên que để trang trí trong mùa Phật Đản.
Hoạt động thanh niên8 bài
1Gút: cẳng ngỗng, ghế anh, ngạnh trê

Gút cẳng ngỗng:
1. Công dụng:
Dùng cườm vành cổ, quấn đầu sợi dây lớn hơn hoặc để làm tăng thêm sự chắc chắn của một gút khác.
2. Cách làm:

Gút ghế anh:
1. Công dụng:
Như gút ghế kép hoặc ghế đơn nhưng dùng cứu người trong đám cháy hay dưới giếng lên.
2. Cách làm:
- Bắt đầu bằng thòng lọng.
- Rồi bằng hoa hồng, khóa bằng sơn ca.
3. Cách sử dụng:
Phần gút thòng lộng hay gút hoa hồng, ở giữa dùng để gối đầu nạn nhân. Hai vòng hai bên luồn vào hai tay sát nách.
Gút ngạnh trê:
1. Công dụng:
Dùng nối lạt hay mây.
2. Cách làm:
Ngạnh trê đơn
Ngạnh trê kép.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Thi thắt gút theo Đàn; ứng dụng gút ghế anh để kéo một vật.
2Truyền tin: làm quen với Sémaphore, nhận và tập truyền tin
- Sử dụng các chữ thay dấu Tiếng Việt trong Morse.
- Sử dụng cờ Semaphore nhận và tập truyền tin theo tín hiệu Morse.
- Đọc hai kiểu mật thư.
1. Dấu tiếng việt:
 = AA
Ô = OO
Ê = EE
Ă = AW
Ơ = OW
Ư = UW
Đ = DD
ƯƠ = UOW
Dấu sắc (/) = S
Dấu huyền (\) = F (hoặc Q)
Dấu hỏi (?) = R
Dấu ngã (~) = X
Dấu nặng (.) = J (hoặc V)
2. Những dấu hiệu khi truyền tin bằng còi:
- Chú ý: T (te dài)
- Gọi: VVV(3 chữ V) hoặc AAA
- Hỏi lại: IMI
- Chuyển nhầm: HH
- Đợi 5 phút: AS 5
- Sẵn sàng chưa: INT-K
- Sẵn sàng: K
- Hãy cứu chúng tôi: SOS
- Hết bản tin: AR
3. Cờ Semaphore:
- Kích thước: 0,4 m x 0,4 m.
- Có hai màu: nửa trắng, nửa đỏ (hình tam giác) hoặc trắng và hai ô đỏ đôi xứng hình chéo (xem hình vẽ).
- Cán cờ: dài 50 cm (kể cả cờ), nhỏ bằng ngón tay.
4. Cách phát tin bằng cờ:
- Tín hiệu tích: đưa một cánh tay phải cầm cờ ra ngang vai, sau đó hạ xuống để chéo trước bụng.
- Tín hiệu tè: đưa hai cánh tay cầm cờ ra ngang vai, sau đó hạ xuống để chéo trước bụng.
- Khi phát tin xong 1 từ (tiếng) đưa hai tay cầm cờ ngang trên đầu để báo hiệu.
- Chú ý: khi phát tin, tay cầm cờ phải đưa theo hình số 8 để lá cờ không bị cuốn lại, gây khó khăn quan sát cho người nhận tin.
- Người phát tin luôn luôn chọn vị trí cao để đứng và ở tư thế nghiêm.
5. Các dấu hiệu truyền tin bằng cờ:
- Kêu gọi để truyền tin: đưa hai tay cầm cờ ngang vai rồi hạ xuống thấp sát thân người (giống tư thế đứng nghiêm). Làm động tác này nhiều lần đến khi nào nhận được tín hiệu trả lời: sẵn sàng nhận tin.
- Sẵn sàng nhận tin: đưa hai tay cầm cờ chéo trên đầu, phất chéo qua chéo lại theo hình số 8 nhiều lần.
- Hiểu rồi, đồng ý: đưa tay phải cầm cờ ngang vai, tay trái cầm cờ để chéo trước bụng.
- Xin lặp lại: đưa hai tay cầm cờ ngang vai đến khi nhận được tín hiệu trả lời.
- Hết bản tin: đưa hai tay cầm cờ để chéo trên đầu.
Những quy tắc khác giống truyền tin bằng còi.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tập semaphore theo cặp, truyền một chữ ngắn từ xa.
3Mật thư: đọc 2 kiểu mật thư
Mật thư – Cách dùng mật thư

I. EM CẦN BIẾT:
Mật thư là 1 bản tin, 1 bức thư mật được viết bằng loại ngôn ngữ quy ước.
Mật thư có nhiều cách viết. Mỗi loại đều có khóa giúp người nhận mật thư giải mã được.
Loại mật thư núi và khung được xây dựng trên qui ước sẵn có.
1. Mật thư Núi:
Sử dụng kí hiệu Morse để ghi: te (_) dung dạng núi cao, tích (.) dung dạng đồi thấp để ghi, khoảng cách là 1 gạch ngang.
Ví dụ: Hoa sen

Biến dạng của loại này là cỏ cây, hoa lá, nốt nhạc…
2. Mật thư Chuồng – Khung:
Loại vuông gồm 2 ngang, 2 dọc. Muốn giải các em phải thuộc mẫu tự. Thông thường là bảng mẫu tự Anh, Pháp, gồm 26 chữ cái. Các chữ được quy ước vị trí trong từng ô của chuồng.
Có thể dung mẫu tự Việt nhưng phải có chú thích (khóa mở)
Ví dụ: vũ

Loại này có biến thể, dung chuồng 36 hoặc khóa gợi ý:
Khóa: Một ô thứ tự 4 chàng, Chín ô 36 có chục nàng ở chung.

II. EM THỰC HÀNH:
Viết tiếng reo của đoàn em bằng dạng mật thư Núi. Kẻ lại ô chuồng có 26 chữ và lập mật thư cho tên của đoàn em.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Mật thư: đọc 2 kiểu mật thư
Bậc Tung Bay
- Ôn lại hai kiểu mật thư đã học ở bậc Chân Cứng (núi, chuồng heo) trong bài ở trên, rồi tập đọc nhanh hơn.
Gợi ý hoạt động
- Trò chơi lớn: mỗi trạm có một mật thư, giải đúng mới được đi tiếp đến trạm sau.
4Dấu đi đường: ôn các dấu; đánh dấu bằng phấn, cây, đá

Học ôn các dấu, đánh dấu bằng phấn, cây, đá.
I. Phần lý thuyết:
Dấu đi đường hay dấu lối đi là cách làm dấu bằng ký hiệu, theo đó người ta tìm đường đi, hướng dẫn lối để đi.
1. Sự lợi ích:
- Phát triển sự chú ý, gợi lên khiếu xét đoán, óc quan sát.
- Làm sống dậy trí tò mò, óc xét đoán, biết suy nghĩ, lý luận để khỏi lầm lạc khi quan sát dấu lối đi.
2. Cách đánh dấu:
- Khi làm dấu có thể dùng: phấn, gạch, than, viết nét to, vẽ lên các vật cố định như: vách tường, thân cây vững chắc, nền nhà, bờ rào, sân … nói chung trên các vật không di chuyển.
- Dùng các cách tự nhiên: lấy cây cỏ hay gạch đá xếp thành dấu.
- Điều cần lưu ý khi đánh dấu: dấu phải đánh về phía bên mặt và đừng làm cao quá tầm mắt để cho dễ quan sát.
- Dấu đánh thưa hay dày tùy theo khoảng đường cong hay thẳng, dài hay ngắn và tùy theo các bậc học của người tìm dấu.
3. Cách tìm dấu:
- Người tìm dấu phải quan sát kỹ lưỡng, nếu đến đoạn hết dấu, nghi ngờ bị lạc, phải chạy trở lại quan sát tỉ mỉ lại.
- Khi tìm dấu không nên đoán mò để chạy trước mà phải ghi lại các dấu thật tỉ mỉ và những gì khả nghi trên đường vào sổ tay.
II. Phần thực hành:
Ôn lại tất cả các dấu của ba bậc học dưới. (theo trang 66, 67, 68, 69, 70, 71 sách HĐTN -Tâm Huy).
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tổ chức trò chơi lớn: đánh dấu bằng phấn, cây, đá cho Đàn bạn đi theo.
5Cứu thương: băng đầu gối, khuỷu tay bằng băng tam giác
1. Băng đầu gối
Cách băng
2. Cách dùng thuốc đỏ:
- Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như trầy da, chảy máu …
- Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bông gòn, nhúng thuốc bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.
(Ghi chú: hiện nay không còn dùng thuốc đỏ)
3. Cách dùng cồn 90° (Alcol):
Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tập băng đầu gối, khuỷu tay bằng băng tam giác theo cặp.
6Trò chơi: điều khiển trò chơi nhỏ cho cả Đàn – sổ tay trò chơi

- Điều khiển trò chơi nhỏ cho cả đoàn.
- Sổ tay trò chơi.
I. Điểu khiển trò chơi:
1. Muc đích:
Trò chơi là một phương pháp giáo dục linh hoạt hữu hiệu nhất đối với lứa tuổi thanh thiếu nhi, nhằm mục đích:
- Luyện giác quan.
- Phát triển thân thể.
- Luyện đức tính tốt.
- Biết tâm lý trẻ.
- Vui, sống động sau những giờ mệt mỗi.
2. Các loại trò chơi:
- Trò chơi luyện chuyên môn
- Trò chơi luyện thân thể.
- Trò chơi luyện đức tính
- Trò chơi luyện giác quan.
Trong các trò chơi này, chúng ta tuỳ theo hoàn cảnh, địa điểm mà tổ chức trò chơi.
3. Điều khiển trò chơi:
Khi chưa quen điều khiển, các em có thể tập bằng cách cho một trò chơi quen thuộc nhưng thay đổi vài chi tiết để trò chơi hứng thú hơn, sau đó em tập điều khiển những trò chơi mới.
Điều nên nhớ là trò chơi phải được vạch tuần tự theo các việc sau đây:
a. Chuẩn bị:
Chọn trò chơi: Trò chơi phải thích hợp với mục đích, vừa sức, thời gian không quá 10 phút. Có thể nên chọn hai trò chơi cùng một lúc (một dùng trong nhà, một dùng ngoài trời) để tránh trường hợp thời tiết thay đổi bất ngờ.
b. Dụng cụ:
Những dụng cụ cần thiết cho một trò chơi phải được chuẩn bị đầy đủ (thí dụ: khăn tay, cờ, còi, sỏi ….)
c. Địa điểm:
Là yếu tố quyết định thành công của trò chơi. Địa điểm bằng phẳng, có bóng mát, đất cát càng tốt.
d. Điều khiển:
- Giải thích thật rõ ràng nguyên tắc và mục đích trò chơi. Nếu được, nên kể thành một câu chuyện lý thú.
- Phổ biến luật chơi cho toàn thể thấu hiểu.
- Giới thiệu thành phần giám sát trò chơi.
- Khi thấy trò chơi cần phải linh động hơn, nên cho vừa hát vừa chơi.
- Nhận xét khả năng từng người.
- Chấm dứt trò chơi khi đàn hay đoàn vui nhất để gây dự luyến tiếc, lần sau thích hơn.
- Trò chơi không nên quá 10 phút.
e. Chấm dứt trò chơi:
- Tuyên bố kẻ thắng (reo hò, bài hát, …)
- Nhận xét, khuyến khích các bạn kém.
II. Sổ ghi trò chơi:
Sổ ghi trò chơi có thể làm riêng bằng một quyển sổ cỡ bỏ túi, hay ghi chung vài sổ ghi bài hát của mỗi em.
Mục đích của sổ ghi trò chơi là để ghi hay soạn trước những trò chơi em đã thu thập được để khi cần đem ra sử dụng (điều khiển Đoàn hay Đàn chơi).
Mỗi trò chơi em nên ghi riêng và sau đó để thêm một khoảng trống để sau này ghi thêm phần ưu, khuyết điểm bổ túc thêm.
Khi ghi một trò chơi, em nên ghi nhớ các điều sau đây:
- Tên trò chơi.
- Mục đích.
- Chuyện kể (nếu có càng tốt và nên dùng).
- Câu chuyện nên có tính cách Phật giáo để Phật hóa trò chơi.
- Số người chơi, địa điểm, dụng cụ.
- Cách chơi và luật chơi.
Muốn điều khiển đoàn hay đàn, chơi có kết quả và nhất là luyện cho mình sự dạn dĩ, tập điều khiển tạo được hứng thú, hăng say cho người chơi. Sau mỗi lần chơi nhớ ghi thêm vào các khuyết điểm cần bổ túc để lần sau chơi vui hơn.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Mỗi em ghi vào sổ tay 3 trò chơi và điều khiển một trò cho cả Đàn.
7Thể dục: thể dục buổi sáng, ném banh, nhảy dây

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)
1. Tâp thể dục buổi sáng:
(Tập thở và vận động ban mai)
Sáng dậy, khi tung chăn ra khỏi giường em nên ra sân hoặc vườn ngay để hít thở không khí trong lành, tập vài cừ động nhẹ cho máu lưu thông đều và thân thể nở nang.
Các động tác sau đây có thể giúp em tập hít thở buổi sáng:
* Đứng dạng hai chân khoảng 30 đến 40 cm, hai tay chống nạnh, giữ đầu gối thật thẳng.
- Uốn mình cúi xuống càng nhiều càng tốt: thở ra.
- Từ từ ngẩng đầu lên vị trí cũ: hít vào.
- Làm như vậy độ 10 lần.
* Đứng dạng hai chân như trên, hai tay sát nhau đưa lên cao, lòng bàn tay hướng về phía trước, giữ thẳng đầu gối.
- Từ từ uốn mình xuống, hai mũi bàn tay chạm mũi bàn chân phải: thở ra.
- Đưa hai tay lên cao như cũ: hít vào.
- Sau đó uốn mình hai mũi bàn tay chạm mũi bàn chân trái và đưa tay về như cũ, độ 10 lần.
* Đứng thẳng người, hai gót chân chạm nhau, mũi hai bàn chân tạo thành chữ V (khoảng 60°), hai tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa lên trời, duỗi thẳng.
- Từ từ duỗi thẳng hai tay đưa lên đầu, uốn mình cúi xuống, hai đầu bàn tay chạm đất: thở ra.
- Kéo thẳng hai tay từ từ đưa lên cao và dang ra như cũ: hít vào.
- Làm như vậy độ 10 lần.
2. Ném banh:
a. Ném một mình:
Khi đã có quả banh rồi, em tìm bức tường phía trước có khoảng đất trống hay sân chơi, em đứng cách tường độ 5 mét. Ném banh vào tường, banh dội trở lại, cố gắng bắt banh đừng cho rơi xuống đất. Khi đã bắt banh giỏi, em có thể đứng xa tường 7 mét rồi 10 mét, …
b. Ném banh đồng đôi: (trên hai người).
Sắp đoàn thành vòng tròn hay hai hàng ngang, mỗi người cách nhau 5 mét và mỗi hàng cách nhau khoảng 10 mét (nếu vòng tròn thì đường kính khoảng 15 mét), cố gắng chuyền banh cho nhau đừng để rơi xuống đất. Ai bắt banh trật phải chạy hai vòng sân chơi.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) 1. Tâp thể dục buối sáng : (Tập thở và vận động ban mai) Sáng dậy, khi tung chăn ra khỏi giường em nên ra sân hoặc vườn ngay để hít thở không khí trong lành, tập vài cừ động nhẹ cho máu lưu thông đều và thân thể nở nang. Các động tác sau đây có thể giúp em tập hít thở buổi sáng : * Đứng dạng hai chân khoảng 30 đến 40 cm, hai tay chống nạnh, giữ đầu gối thật thẳng. – Uốn mình cúi xuống càng nhiều càng tốt : thở ra. – Từ từ ngẩng đầu lên vị trí cũ: hít vào. – Làm như vậy độ 10 lần. * Đứng dạng hai chân như trên, hai tay sát nhau đưa lên cao, lòng bàn tay hướng về phía trước, giữ thẳng đầu gối. – Từ từ uốn mình xuống, hai mũi bàn tay chạm mũi bàn chân phải : thở ra. – Đưa hai tay lên cao như cũ: hít vào. – Sau đó uốn mình hai mũi bàn tay chạm mũi bàn chân trái và đưa tay về như cũ, độ 10 lần. * Đứng thẳng người, hai gót chân chạm nhau, mũi hai bàn chân tạo thành chữ V ( khoảng 60°), hai tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa lên ười, duỗi thẳng. – Từ từ duỗi thẳng hai tay đưa lên đầu, uốn mình cúi xuống, hai đầu bàn tay chạm đất : thở ra. – Kéo thẳng hai tay từ từ đưa lên cao và dang ra như cũ : hít vào. – Làm như vậy độ 10 lần. 2. Ném banh : a. Ném một mình : Khi đã có quả banh rồi, em tìm bức tường phía trước có khoảng đất trống hay sân chơi, em đứng cách tường độ 5 mét. Ném banh vào tường, banh dội trở lại, cố gắng bắt banh đừng cho rơi xuống đất. Khi đã bắt banh giỏi, em có thể đứng xa tường 7 mét rồi 10 mét, … b. Ném banh đồng đôi : ( trên hai người ). Sắp đoàn thành vòng tròn hay hai hàng ngang, mỗi người cách nhau 5 mét và mỗi hàng cách nhau khoảng 10 mét ( nếu vòng tròn thì đường kính khoảng 15 mét), cố gắng chuyền banh cho nhau đừng để rơi xuống đất. Ai bắt banh trật phải chạy hai vòng sân chơi. Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
8Lều trại: xây tổ Đàn
Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.
A. lều trại:
1. Chuẩn bị:
- Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
- 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
- 1 dây nóc.
- Búa, cuốc.
2. Thực hiên:
a. Chọn vị trí và hướng trại:
Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.
Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).
b. Dựng trại:
- 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
- Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
- 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.
Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.
Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

B. xây tổ đàn:
Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.
Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.
Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.
Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…
1. Chuẩn bị:
- Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
- Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
- Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
- 1 tấm tăng lót trải.
2. Thực hiện:
Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.
Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.
Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).


Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Mỗi Đàn tự xây tổ Đàn ở sân chùa: chọn chỗ, căng dây, trang trí.
Hoạt động xã hội2 bài
1Đạo đức: bổn phận đối với xã hội

I. EM NGHE:
Con người là tế bào của cộng đồng xã hội. Nói đến xã hội ta liên tưởng ngay cả một cộng đồng rộng lớn, trong đó có ngăn cách bởi chủng tộc, biên giới, xóm làng, thôn, bản, xã, huyện, tỉnh, quốc gia, khu vực, toàn cầu trong quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, môi trường, sinh thái.
Đoàn sinh GĐPT em hiểu thế nào là bổn phận đối với xã hội? Đó là sự sống của chúng ta không thể tách rời khỏi xã hội, phải nương tựa vào xã hội trong sinh tồn có nhau. Có cơm ăn, nhờ người trồng cây lương thực; có áo mặc, nhờ người trồng bông dệt vải; khi đâu ốm nhờ thầy thuốc và thuốc; có nhà ở nhờ vật liệu, thợ xây; mở mang kiến thức nhờ sách vở, thầy cô giáo; trưởng truyền đạt; đường sá sạch sẽ nhờ người công nhân hốt rác; muốn có phương tiện đi lại và thông tin nhanh chóng ta phải nhờ kỹ nghệ, …
Đoàn sinh GĐPT em là nhân tố lành mạnh hóa xã hội. Không có tệ nạn mại dâm, ma túy, cờ bạc, rượu chè, kình chống lẫn nhau. Cuộc sống có đầy đủ tất cả là nhờ cộng đồng xã hội trong đó có ta dù làm được những việc rất nhỏ mà có lợi ích chung.
Thí dụ:
Em lượm rác:
Kìa cọng rác yêu thương
Rơi vãi trên mặt đường
Tay em vui nhặt lấy
Em làm sạch môi trường
II. EM TRẢ LỜI:
- Vì sao em phải có bổn phận với xã hội?
- Em phải làm gì để thực hiện tốt bổn phận đối với xã hội?
- Hãy kể một số mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội?
III. EM CẦN NHỚ:
Nhằm góp phần làm cho xã hội có cuộc sống ổn định, bình yên, an lạc, em phải nỗ lực học hành để phục vụ xã hội theo tinh thần Phật Giáo, mới xứng đáng là đoàn sinh GĐPT.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Tham gia một việc chung của xóm hoặc chùa: dọn vệ sinh, phát quà cho người khó khăn.
2Thường thức: tiếp khách

Thường thức – tiếp khách
Nhiều khi anh chị hay cha mẹ đi vắng, nhưng có khách đến nhà, em phải tiếp khách.
Trước hết em xin lỗi và hỏi khách muốn gặp ai (cha mẹ hay anh chị). Tiếp theo em phải nhã nhặn bảo cho khách biết cha mẹ hay anh chị vắng nhà. Nếu khách cần đợi, em nên lễ phép mời vào phòng khách ngồi chờ nhưng phải nhớ xưng hô cho lễ phép để chứng tỏ em là người có giáo dục.
Ngoài ra em còn lấy nước, thuốc ra mời khách. Khi khách hỏi em phải trả lời nhã nhận. Khách hỏi đến những điều riêng tư của gia đình thì em khôn khéo trả lời không biết để tránh những người tò mò.
Khi cha mẹ về hay đang tiếp xúc với khách thì em phải tránh không nghe chuyện của người lớn.
Khi thấy cha mẹ tiếp khách thì em phải đứng gần chứ đừng ngó ngay khách hoặc bỏ đi nơi khác.
Thường thức – hộp phước sương
Thường thường các cuộc lễ lớn, đúc chuông, khánh thành chùa mới, … các chùa đều có đặt thùng phước sương.
Mục đích của hộp phước sương để người đi chùa lễ Phật tùy tâm, tùy lòng của mình cúng dường một số tiền nào đó. Số tiền này được người cúng dường nguyện và thành tâm bỏ vào hộp phước sương sau khi lễ Phật và cầu nguyện.
Tiền được dùng vào các việc thiện như: xây chừa, bố thí người nghèo, làm các việc hữu ích trong chùa, cúng lễ, …
Việc cúng đường vào hộp phước sương là để làm phước, không bắt buộc mà là việc làm tình nguyện và thành tâm cúng dường số tiền của mình vào công tác Phật sự. Việc cúng dường này quý ở tâm thành và ý nguyện của người cúng dường, thay vì dùng số tiền ấy tiêu xài phung phí.
Các em Oanh Vũ có thể bắt chước làm các việc thiện.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Hoạt động tham khảo thêm
- Đóng vai tiếp khách đến nhà: mời ngồi, mời nước, thưa chuyện lễ phép.