Tu học GĐPT

Ngành Thiếu · Bậc 7/16 trên lộ trình

Bậc Sơ Thiện

Tinh thần chủ đạoTứ Nhiếp Pháp

  • 1 năm
  • 46 bài
6 phần · 46 bài

Phật pháp – Kiến thức12 bài

  1. 1Tam độc
    Hình minh họa: Ba thứ độc : Tham – Sân – Si

    Văn:

    Á Châu có một loại khỉ đặc biệt. Người ta cột một trái dừa đã được khoét lỗ vào một gốc cây hay nọc chặt xuống đất. Bên trong trái dừa được để một ít thức ăn cố mùi thơm. Chiếc lỗ trên trái dừa chỉ nhỏ vừa đủ cho khỉ dúm tay đun vào. Nếu khỉ nắm tay lại thì không thể rút tay ra được. Khi ngửi thấy mùi thơm của thức ăn, khỉ bèn đến gần rồi đút tay vào trái dừa nắm lấy thức ăn, nhưng không làm sao rút tay ra được. Thấy người thợ săn đến gần, khỉ sợ hãi cuống quýt nhưng đành chịu.

    Ai đã giữ chú khỉ trong bẩy?

    Không ai có thể bắt giữ chú khỉ ngoại trừ sức mạnh của lòng tham.

    Muôn thoát khỏi bẩy, khỉ chỉ cần buông nắm thức ăn ra. Nhưng vì sức mạnh của lòng tham quá mãnh liệt nên hiếm có con khỉ nào có thể buông tay ra.

    Cũng thế, muốn tự đo giải thoát, hãy buông tay ra để cho tự ngã và lòng thâm muốn ra đi.

    Lòng tham không những chỉ có thể giết chết khỉ mà cũng có thể giết chết con người (chúng ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ dẫn chứng trong xã hội, trong lịch sử nhân loại, trong thương trường v.v…)

    Tham, Sân, Sỉ là ba thứ độc.

    Con người khi tham mà không được toại nguyện thì hay nổi sân và khi tham, sân đã chế ngự tâm ta thì trí óc u mê, lú lẩn, làm những điều xằng bậy, nói những lời không nên nói và những tư tưởng đen tối mặc sức khởi lên làm cho tâm náo động và hổn loạn. Con người sống trong sự bất an và phiền não khổ đau nhất định theo sau.

    Thiền sư Sogyal Rinpoche nói: con người được huấn luyện một cách thuần thục bởi sinh tử và cho sinh tử, được luyện để nổi ghen ghét đố kỵ, giận dữ; được luyện để bám víu và chấp thủ, được luyện để phiền muộn, thất vọng và thèm khát; được luyện để phản ứng một cách tức giận bất cứ gì khiêu khích ta! Được luyện đến nỗi những cảm xúc ấy nổi lên một cách tự nhiên, không cần mời gọi, không cần một chút cố gắng nào cho chúng phát sinh. Như vậy mọi sự đều do huấn luyện và năng lực của thói quen. Nói cách khác, nếu ta chuyên chú thực tập Vô minh (Tham, Sân, Si), ta sẽ trở thành chuyên viên của Vô minh, nếu ta tĩnh thức nhờ tu tập thiền định ta sẽ mở được những gì gút buộc chặt ta với phiền não khổ đau, đưa ta đến giác ngộ giải thoát.

    Tư:

    Ba độc Tham, Sân, Si được đức Phật thuyết giảng trong Kinh Tham Sân Si trích từ kinh Trung A Hàm.

    Tam độc Tham Sân Si được cấu kết từ nhiều đời kiếp. Khi con người sinh ra là đã có những chủng tử câu sanh thiện ác, tham sân si rồi.

    Trong 10 kiết sử quyện chặt con người vào trong vòng luân hồi sanh tử thì Tham Sân Si thuộc về phần Độn sử, phải có công năng tu tập thì mới diệt trừ được.

    • Tham là gì? Là lòng ham muốn thu góp, dành hết mọi thứ vào cho cá nhân mình, tập thể mình … Nói chung, cái gì có là mình đều muốn thu gom vào, từ tiền bạc, của cải vật chất… cho đến danh tiếng, quyền thế, địa vị, kiến thức.
    • Sân là gì? Là sân hận, thù hằn, giận dữ.
    • Si là gì? Là cuồng tín, mê tín dị đoan.

    Con người thường tự bào chữa và ngụy trang tham sân si một cách tế nhị và khéo léo, vì nó được huân tập nhuần nhuyễn trong quá khứ, nên một Phật tử phải biết quán xét và nhờ thiện trí chỉ điểm cho. Do vậy phải thân cận bạn hiền, dốc lòng nghe pháp và thà bỏ thân mạng quyết không làm điều xấu.

    Tham Sân Si quả thật là nguy hiểm, chúng đe dọa đời sống chúng ta, chúng là nguyên nhân của đau khổ phiền não và là mối lo chung của xã hội. Những người phạm tội sát nhân, cướp bóc v.v.. đều do lòng tham (tham tiền, tham ái dục, tham danh lợi…) xúi giục. Vậy muốn thanh lọc tâm và muốn có sự an lạc chung cho xã hội, mỗi chúng ta phải loại trừ ba thứ độc hại nầy ra khỏi tâm mình.

    Trước hết ta tự đặt câu hỏi: Tại sao tham? Tham để làm gì?

    • Tham là vì ta thấy có “cái Tôi” (cái Ngã). Ta thương cái Tôi đó nhất, cái gì cũng “của tôi”, “cho tôi”, “vì tôi”. Bao nhiêu công sức, trí khôn đều tập trung lo cho “cái Tôi”: tôi phải giàu, tôi phải giỏi, tôi phải hạnh phúc, tôi phải là số 1 v.v… Do si mê, lầm lạc, thiếu hiểu biết, cho rằng cuộc đời nầy là vĩnh viễn, thân nầy là chắc bền, là “của ta” và từ cái ta nhỏ hẹp ấy khởi lên lòng ham muốn vơ vét hết vào cho mình.
    • Tham lam không thỏa mãn thì đưa tới sân hận và “khi một niệm sân nổi lên có thể đốt cháy cả rừng công đức”.
    • Khi ngọn lửa tham lam và sân hận đã ngự trị tâm ta thì chúng đốt cháy ta, trí óc không còn sáng suốt nữa, tâm hồn thì mê muội; đó là trạng thái si mê, con người lúc ấy thật không khác gì loài cầm thú vì không còn biết luân lý, đạo đức, phải trái, thiện ác nữa. Đây chính là đầu mối của tất cả mê lầm gây ra mọi thứ tội ác.

    Tu:

    Muốn loại bỏ tham sân si, cần phải huấn luyện tâm mình. Thật vậy, một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn phản ứng, dính mắc vào lạc thú, chán ghét khổ đau, nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi cái ghét bỏ; phản ứng với mọi chuyện xảy ra qua tham ái và sân hận, đó là một cái tâm “mất quân bình và mỏi mệt”

    Muốn đưa tâm trở lại quân bình và thảnh thời, ta phải đối diện với những tư tưởng, tình cảm và cảm giác của chính mình. Ta phải quan sát một cách đơn thuần những gì đang xảy ra trong tâm ta và đối diện với nó. Quan sát đơn thuần là chỉ quan sát một cách khách quan khi chúng khởi lên, không chọn lựa, không so sánh, không đánh giá, không kỳ vọng hay tính toán, không can thiệp vào những gì đang xảy ra. Nói cách khác là ta thực tập chánh niệm trong mọi lúc và ở mọi nơi vậy.

    Khi việc tu tập về sự quan sát đơn thuần nầy được phát triển, tiến bộ, chúng ta sẽ đối diện với tư tưởng và cảm giác của mình, với hoàn cảnh và với tha nhân một cách khách quan, không còn bị tham ái và sân hận chi phối. Từng bước, chúng ta sẽ loại dần ba thứ độc Tham, Sân, Si ra khỏi tâm mình để thật sự có an lạc và giải thoát.

    Tóm lại, Tam, Sân, Si là ba độc cần phải bỏ.

    • Muốn bỏ tham tài, Phật tử chúng ta phải thực hành hạnh bố thí cúng dường. Muốn bỏ tham sắc, ta phải học hạnh thanh tịnh chánh hạnh. Muốn bỏ tham danh, ta phải tự xét phận mình phải chu toàn. Muốn bỏ tham vật thực, ta phải biết ăn chỉ là để sống, coi thức ăn như thuốc để chữa bệnh. Phải ít muốn biết đủ. Muốn bỏ tham ngủ, ta phải học hạnh tỉnh thức, thiền môn gọi là chỉ tịnh, chứ không nói là ngủ, ngủ nhiều sinh làm biếng và si mê ngu đần.
    • Muốn bỏ sân, ta phải thực hành hạnh nhẫn nhục, biết tha thứ.
    • Muốn bỏ Si, phải thực hành hạnh tinh tấn.

    Câu hỏi:

    • Tam độc là gì?
    • Tại sao nói: Tham là nguyên nhân của đau khổ phiền não? Cho ví dụ.
    • Sân có phải là nguyên nhân của đau khổ và phiền não không? Cho 1 ví dụ.
    • Giải nghĩa câu: “Một niệm sân nổi lên đốt cháy cả một rừng công đức”
    • Em phải thực hành loại bỏ ba độc như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Ý nghĩa pháp khí và pháp cụ trong đạo Phật
    Hình minh họa: Ý nghĩa Pháp khí – Pháp cụ trong đạo Phật

    Văn:

    Chuông, Báo chúng, Khánh, Linh, Trống, Mõ, Bảng, Tích trượng, Bình bát… Mỗi vật có một ý nghĩa riêng, cũng như có một âm thanh riêng. Vì thế khi sử dụng, cần bảo trì một cách cẩn trọng.

    1. CHUÔNG

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: “Mỗi khi tiếng chuông chùa ngân lên, mọi hình phạt trong chốn ác đạo đều tạm thời dừng nghỉ. Muôn loài chúng sinh đang chịu cực hình cũng được tạm thời an vui”.

    Trong Cảm Thông truyện có chép: “Ngày xưa, khi Đức Phật Câu Lưu Tôn ở tại viện Tu Đa La xứ Càng Trúc có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường đánh vào lúc mặt trời vừa mọc. Tiếng chuông ngân lên, liền trong ánh mặt trời có các vị Phật hoá hiện ra diễn nói mười hai bộ kinh, làm cho người nghe chứng được chánh quả không kể xiết”.

    Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo La Hầu La đánh chuông để diễn giảng giáo lý Viên thường cho A Nan và đại chúng nghe.

    Như vậy, Chuông đã có từ thời quá khứ các đức Phật còn tại tiền.

    Trong bộ Bách Trượng Thanh Quy (trang 68, quyển 87) có chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng Đế đời nhà Đường nghe lời sàm tâu của nịnh thần Tống Tề Khúc giết lầm tôi trung là Hoà Châu, nên khi lâm chung bị đọa vào địa ngục, bị gông cùm kềm kẹp, khảo tra đánh đập rất khổ sở. May nhờ hồn người Bao Tự lạc đến, vua than thở nhờ hồn người Bao Tự đúc chuông cúng dường, làm việc phước thiện. Khi trở lại dương thế, người Bao Tự y lời nhắn gởi tâu lên Hậu chúa, Hậu Chúa thân hành đến chùa Thanh Lượng phát nguyện đúc một quả chuông, lập đàn cầu siêu bạt độ và cúng dường chuông, hồi hướng công đức cho vua Cao Hoàng”.

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Trong các chùa, Phật Học viện thường dùng 3 loại chuộng:

    * Đại Hồng Chung (Chuông): Là loại chuông lớn, cũng thường gọi là chuông u Minh; thường đánh vào đầu hôm, cuối đêm tối và khuya, có ý nhắc nhỡ mọi người tinh tấn tu hành để mau ra khỏi luân hồi. Chuông thường đánh 108 tiếng, tiêu biểu tiêu trừ 108 phiền não của chúng sanh. Vì vậy, trong bài kệ chuông có câu: “Mỗi khi nghe tiếng chuông, lòng phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, tâm giác ngộ sanh …”

    * Gia Trì Chuông: Là loại chuông thường dùng trong các khóa lễ, đánh như chấm câu trong bài Kinh, Sám hay báo hiệu khi bắt đầu hoặc chấm dứt buổi lễ, đồng thời cũng để điều hoà buổi lễ nhịp nhàng, trang nghiêm, hướng hành giả vào chỗ chí tâm thành kính.

    * Báo Chúng Chuông: Là loại chuông báo tin cho chúng Tăng nhóm họp, thọ trai, chuẩn bị khóa lễ, khai chung … trong các tự viện.

    2. TRỐNG

    a. Xuất xứ:

    Kinh Kim Quang Minh chép: “Một hôm Ngài Tin Tướng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống lớn bằng vàng chiếu hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang hiện vô số Phật ngồi trên tòa Lưu Ly, dưới những gốc cây báu, thuyết pháp cho vô số vị đệ tử ngồi quanh chăm chú lắng nghe. Rồi một vị giáo sĩ Bà La Môn cầm dùi đánh mạnh vào trống vàng. Tiếng trống rền vang nghe như lời sám hối. Lúc tỉnh mộng, Ngài đem giấc mộng trình lên Đức Thế Tôn”.

    Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy A Nan: “Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, và tiếng chuông mỗi khi họp Đại chứng trong Tinh xá Kỳ Đà nầy”.

    Như vậy, trống cũng đã có từ thời Phật còn tại thế.

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Trống có hai loại:
    * Đai cổ (trống lớn): được đánh lên vào các lúc:
    • Trước khi đánh chuông u Minh, vào đầu hôm và cuối đêm (chuyển trống) mang ý nghĩa, vì tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp, chúng sanh khi được nghe tiếng trống chánh pháp thì nghiệp chướng tiêu trừ, thoát ly luân hồi sinh tử.
    • Khỉ thăng tòa thuyết pháp, đánh ba hồi trống lớn (trống phổ cáo) để triệu tập Thánh chúng.
    • Khi cử hành các lễ lớn như: Thỉnh Tam bảo, khai kinh, cúng ngọ … thì đánh chuông trống Bát Nhã.

    KỆ TRỐNG BÁT NHÃ

    Bát nhã hội (3 lần) x xx

    Thỉnh Phật thượng đường xx xx (1 lần)

    Đại chúng đồng văn xx xx

    Bát nhã âm x xx

    Phổ nguyện pháp giới xx xx

    Đẳng hữu tình x xx

    Nhập bát nhã x xx

    Ba la mật môn xx xx

    xx xx

    * Tiểu cổ (trống nhỏ): dùng đánh trong lúc tụng Kinh, bài Sám và các trai đàn lớn, nên còn gọi là trống Kinh.

    3. MÕ

    a. Xuất xứ:

    Trong sách sắc Tu Thanh Quy Pháp khí có ghi lời tuyên truyền: Loài cá luôn luôn thức không ngủ, rất tỉnh táo và linh hoạt bất cứ lúc nào. Vậy chạm mõ theo hình cá với ý nghĩa đánh thức mọi sự mê muội.

    Sách Chính Môn đời Đường chép: có một cư sĩ hỏi một trưởng lão ở Thiên Trúc “Sao các Tăng xá đều có treo mõ?” Sư đáp: “Tiếng mõ cảnh tỉnh chúng Tăng.

    Hình con cá, là loài ngủ không nhắm mắt, luôn cảnh tỉnh. Ý muốn người tu hành ít ngủ, cảnh tỉnh tu hành, sau được đạo quả

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Mõ có hai loại:

    * Loại hình bầu dục có chạm hình đầu con cá dùng để đánh khi tụng niệm

    * Loại mõ chạm hình con cá nằm dài, hình điểu treo ở nhà trù, để báo tin giờ thọ trai.

    Người đánh mõ gọi là Duyệt chúng (làm đẹp lòng chúng). Trong khi tụng niệm, cố đánh mõ đều đặn, nhịp nhàng mới hướng người tụng nhất tâm thành kính, làm buổi lễ trang nghiêm. Duyệt chúng phải ăn nhịp với Duy Na (người đánh chuông).

    4. BẢNG – KHÁNH

    a. Xuất xứ:

    Theo sách Tượng Khí Tiêu có chép: Hình Bảng giống như đám mây chế bằng đồng hoặc sắt, nên gọi là Vân bảng. Ngài Tục Thư Hoà thượng thì dạy: Vua Thái Tổ cho rằng tiếng trống làng làm giật mình người ngu nên vua cho thiết Khánh Vân Bảng. Bảng có thể chế bằng đá cẩm thạch. Trong luật còn gọi là Kiền Chùy (Vân Kiền Chùy thinh, tức đương chỉnh y phục).

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:

    Bảng – Khánh dùng để báo tin giờ tu học, chấp tác, thiền tọa, tụng kinh, thọ trai, trong các Tòng lâm, Tu viện, Phật Học viện …

    5. BÌNH BÁT

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Phật Bản Hạnh có chép: Sau khi Phật thành đạo có hai thương gia tên là Đề Lê Phú Bà (Tripussa) và Bạc Lê Ca (Bhallika) cúng dường. Trời Tứ Thiên Vương vội xuất hiện dâng bình bát để Phật nhận đồ tín cúng.

    b. Ý nghĩa và cách sử dụng:

    Bình bát tiếng Phạn là Baydaka, Tàu dịch là ứng Lượng Khí, là đồ dùng đựng thức ăn vừa đủ cho một người dùng. Bát chỉ được làm bằng đá, sành sứ, không dùng các kim khí quý. Bằng gỗ là bát của Bà La Môn.

    Ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy, chư Tăng thường đi khất thực, trì bình nên luôn luôn dùng bát. Chư Tăng Bắc Tông thì dùng bình bát trong ba tháng hạ để thọ trai (lúc Qua đường).

    6. TÍCH TRƯỢNG

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Tích trượng có chép, Phật dạy: Nầy các tỳ kheo, các Thầy nên thọ trì Tích trượng, vì đó là món pháp khí mà ba đời các Đức Như Lai đều có thọ trì.

    b. Ý nghĩa và cách sử dụng:

    Kinh Tích trượng có đoạn, Ngài Ca Diếp bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tích trượng?

    Tích trượng gồm có các nghĩa sau: Khinh – Minh – Tĩnh – Sơ, tức là nhờ có chiếc gậy đức hạnh nầy mà: Phiền não được khinh bạt ra khỏi ba cõi của sinh tử; Trí tuệ được minh mẫn (Minh); Tỉnh ngộ được Khổ Không Vô thường (Tĩnh); Sơ là không còn say đắm ngũ dục.

    Tích trượng là chữ Tàu, dịch từ tiếng Phạn Nghiệt Đa La, tức là chiếc gậy của tỳ kheo đi đường, cũng có nghĩa là Trí Tượng, Đức Tượng.

    Tích trượng to vừa tầm tay người cầm, cao không quá đầu. Trên đầu Tích trượng có bốn vòng (Tứ đế) và mười hai khoen nhỏ (12 nhân duyên) bằng đổng do Đức Thích Ca chế tác. Có loại Tích trượng do Đức cổ Phật Ca Diếp truyền thừa thì trên đầu có hai vòng Chơn và Tục đế cộng với sáu khoen (6 pháp lục độ).

    Tư:

    Trong đạo Phật, Pháp khí là phương tiện để thúc liễm thân tâm, để điều chúng tạo sự nhịp nhàng khi tụng niệm đông người và cũng là phương tiện đưa chúng sanh đến giải thoát.

    l. Người Phật tử là người quyết dứt bỏ nẽo sanh tử, phiền não, phải vâng lời Phật dạy.

    2. Học và hiểu sâu sắc ỷ nghĩa các pháp khí, pháp cụ để giới thiệu và trình bày cho bất cứ ai khi đến chùa, tháp, tham quan tìm hiểu những nét đặc thù của Phật giáo.

    Tu:

    1. Ngồi dậy khi nghe tiếng chuông, tiếng trống, giữ thân tâm thanh tịnh, dõi theo âm thanh, quán tưởng về những nẽo bất thiện đang khổ não, được pháp âm soi thâu mà được an tịnh.

    2. Không sử dụng phi thời các pháp khí, phải bảo vệ cẩn trọng vì đây là Pháp Phương tiện độ đời.

    3. Em tập cách đánh chuông U Minh, kệ văn, danh hiệu, hạnh nguyện của các vị Bồ tát Thánh chúng.

    4. Em tập đánh mõ, chuông, trống Bát Nhã.

    5. Em bảo vệ Pháp khí như hộ trì Già Lam, bảo tồn Đạo pháp.

    Câu hỏi:

    • Hãy kể các loại Pháp khí, Pháp cụ trong chùa?
    • Hãy phân biệt Đại hồng chung và chuông gia trì?
    • Trống lớn (đại cổ) được đánh lên vào lúc nào?
    • Hãy nêu lên xuất xứ của cái Mõ?
    • Em phải sử dụng Pháp khí trong chùa như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Mười điều thiện
    Hình minh họa: Mười điều thiện

    Văn:

    Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.

    Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.

    ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.

    Nghiệp là gì?

    Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).

    Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý

    1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:

    a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh

    b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.

    c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.

    2. Nh ữ ng nghiệp dữ:

    Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.

    A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:

    1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:

    Tất cả chúng sanh đều kính mến
    Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
    Trừ sạch thói quen giận hờn
    Thân thể thường được khỏe mạnh
    Tuổi thọ được lâu dài
    Thường được thiên thần hổ trợ
    Ngủ ngon giấc và không ác mộng
    Trừ hết các mối oán thù
    Không đọa vào ba đường ác

    10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.

    2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:

    1. Được nhiều người tin cậy.

    2. Không bị lừa dối gạt gẫm.

    3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.

    4. Lòng được an ổn.

    5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.

    6. Khi chết được sanh lên cõi trời.

    3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích

    • Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
    • Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
    • Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
    • Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
    B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:

    1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.

    Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.

    Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:

    • Miệng thường thơm sạch.
    • Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
    • Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
    • Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
    • Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.

    2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:

    • Được người trí thức yêu mến.
    • Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
    • Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.

    3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:

    • Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
    • Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
    • Đức tin bất hoại.
    • Pháp hạnh bất hoại.

    4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:

    • Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
    • Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
    • Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
    C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:

    1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:

    • Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
    • Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
    • Phúc đức tự tại.
    • Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

    2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:

    • Tâm không khổ não.
    • Tâm không giận hờn.
    • Tâm không tranh giành.
    • Tâm nhu hòa ngay thẳng.
    • Tâm từ bi như Phật.
    • Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
    • Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
    • Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.

    3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.

    Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.

    Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:

    Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
    • Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
    • Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
    • Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
    • Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
    • Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
    • Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
    • Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
    • Ở yên vào nơi chánh kiến.

    10. Không bị nạn dữ.

    * Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.

    Tư:

    Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
    • Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
    • Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
    • Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
    • Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.

    Tu:

    Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.

    Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.

    • Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
    • Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
    • Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.

    Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.

    Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.

    Câu hỏi:

    • Mười điều thiện là gì?
    • Nghiệp là gì?
    • Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
    • Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Nhân quả
    Hình minh họa: Nhân quả

    Văn:

    Đối với dân tộc Việt Nam, có lẽ không mấy ai là không tin nhân quả. Đối với các em là con nhà Phật, thì Luật Nhân Quả các em đã được nghe qua lời dạy của các bậc cha mẹ từ lúc mới lên 5, lên 6. Hôm nay các em học lại cho kỹ để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

    Phật thuyết kinh Nhân Quả để giải thích cho chúng ta hiểu tại sao chúng sanh lại gồm có nhiều loài, ở trên không, dưới nước, cầm thú côn trùng, nhân thiên, A tu la. Mỗi loài đều có kẻ đẹp, người xấu, thân thể toàn vẹn hay tật nguyền đều do nhân quả mà ra.

    A. ĐỊNH NGHĨA:

    NHÂN là nguyên nhân, QUẢ là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không có Quả thì biết không có Nhân.

    B. NHỮNG ĐĂC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ:

    1. Nhân Quả là định luật hiện thật: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý Nhân Quả, Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên đời sống thực tế để thuyết giảng Lý Nhân Quả cho chúng ta hiểu.

    2. Nhân Quả chi phối tất cả: sở dĩ mọi thứ trên đời khác nhau vì được câu tạo bởi nghiệp nhân khác nhau. Vì thế định luật Nhân Quả chi phối tất cả sự vật. Định luật Nhân Quả không thiên vị, không bênh vực một ai. Không ai có thể phủ nhận hoặc sửa đổi định lý tất nhiên này.

    3. Nhân Quả là một Định luật rất phức tạp; Lý Nhân Quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên hệ, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả thường tạo nên phức tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, những ai có sự hiểu biết thấp, thường khó nhận thức được sự chính xác của Lý Nhân Quả và gây nên những ngộ nhận về Lý Nhân Quả.

    C. SƯ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ:

    Đức Phật dùng đạo lý Nhân Quả để giải thích sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan này rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó nhận định.

    1. Một Nhân tự nó không thể sinh ra Quả: Sự vật được hình thành giữa vũ trụ này đều do sự tổng hợp của nhiều nhân duyên. Một nhân không thể nào tự nó phát sinh ra quả được. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa tạo thành mà cần phải có các nhân khác giúp vào như đất, nước, ánh sáng mặt trời, phân bón… thì hạt lúa mới nẩy mầm được.

    2. Nhân nào Quả nấy: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy chứ không bao giờ tương phản, mâu thuẩn nhau. Nếu ta muốn có quả cam thì phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói cách khác, Nhân với Quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.

    3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Nhân, chính nó cũng là quả đồng thời của sự thuần thục của nhiều nhân duyên trước nó. Quả, chính nó cũng là nhân đồng thời cho sự phát sinh của quả khác. Ví dụ: tốt nghiệp đại học là kết quả của nhiều năm tháng học hành nhưng sự tốt nghiệp đó cũng là nhân chính cho sự tìm kiếm việc làm và ngược lại.

    D. SỰ LIÊN HỆ GIỮA NHÂN VÀ QUẢ QUA THỜI GIAN:

    1. Nhân Quả một thời: Nhân quả nối liền nhau. Nghĩa là vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng, như khi hai luồng điện âm dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian mới thuần thục.

    2. Nhân Quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này. Như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.

    3. Nhân Quả trong hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới có kết quả, nhân tạo đời này đến đời sau mới có kết quả; nghĩa là cần một thời gian khá lâu quả mới thuần thục. Ví dụ, trong đời sông hiện tại biết bố thí cúng dường thì đời sau sẽ được giàu sang.

    4. Nhân Quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới có kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến nhiều đời sau mới có kết quả. Ví dụ, muôn thoát khỏi sanh tử luân hồi phải cần trải qua nhiều kiếp tu hành.

    * Những ví du về Nhân Quả:

    1- Nhân Quả nơi hiện Cảnh: Rừng rậm (Quả) là kết quả của nhiều cây hợp lại (Nhân). Sự tàn phá rừng (Nhân) sẽ gây ra lũ lụt tàn phá nhà cửa ruộng vườn (Quả).

    2- Nhân Quả nơi tự Thân: Ăn uống điều độ, thường tập thể dục (Nhân) sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng (Quả).

    3- Nhân Quả nơi tự Tâm: Tánh tình, tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự chi phối của Luật Nhân Quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục. Học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.

    E. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ:

    Luật Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu. Không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đặt trọng tâm vào “nhân quả đối với con người”.

    1. Về phương diện thể chất:

    Thân tứ đại là do bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, và đo hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ như thế tiếp nôi mãi. Nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.

    2. Về phương diện tinh thần:

    Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta một tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình trong nếp sống hiện tại là quả. Tính tình và nếp sông này lại làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.

    Để nhận rõ phần tinh thần này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.

    F. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN:
    1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
    • Tham: Thấy tiền của người khác nổi lồng tham lam sinh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân, bị chủ đánh đập phải tàn tật hay bị nhà chức trách bắt giam, đánh đập tra tấn là quả.
    • Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con, phá hoại nhà là nhân, khi hết giận đau đớn nhìn thấy vợ con bệnh hoạn, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.
    • Si: Người si mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không còn biết sự hay dở, phải trái là nhân, làm cho gia đình lụn bại, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.
    2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:

    Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi xấu tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những kết quả sáng lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.

    Người không có tính tham lam, bỏn xẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thời. Người không nóng giận tức được sông trong cảnh hiền hòa, gia đình êm âm. Người không si mê theo sắc dục thì được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện.

    Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, người ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy.

    G. LƠI ÍCH ĐEM LAI CHO CHÚNG TA DO SƯ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ:

    1. Luật nhân quả tránh cho chúng ta những mê tín di đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:

    Luật nhân quả cho chúng ta thấy được những thực trạng của sự vật, không có gì là mơ hồ bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận thuyết chủ trương “Vạn pháp do một vị thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.

    2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính mình:

    Khi đã biết cuộc đời của mình là do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở nơi ai nữa? Lòng tin tưởng ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả tốt đẹp.

    3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách mốc:

    Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là vì đã cỏ thói quen ỷ lại kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã hiểu rõ tất cả hoàn cảnh mình đang hưởng thọ đều do chính mình gây ra. Người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại hay nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc, chỉ lo tự cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện để được hưởng kết quả tốt đẹp, thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giông ác để khỏi mang quả ác.

    4. Người hiểu Luật Nhân Quả chỉ lo tạo Nhân lành và nghĩ đến kết quả trước khi hành đông:

    Đã hiểu rõ những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ, nếu muôn được kết quả tốt đẹp trong tương lai thì hiện tại cần phải siêng năng làm những hành động có lợi cho mình, cho người, cho chúng sanh đúng theo lời Phật dạy.

    Tư:

    Chúng ta đã biết rõ giá trị của Luật Nhân Quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng vào đời sống hàng ngày.

    Em suy nghĩ: có người cả đời hiền từ mà gặp lắm tai nạn khổ sở, trái lại có người hung ác sao lại vẫn được bình an?

    Trong kinh Nhân Qủa có nói: Muốn biết nhân đời trước thì phải nhìn kết quả hiện tại đang thọ hưởng, muốn biết quả tương lai thì hãy xem nhân gây ra trong hiện tại.

    Vậy có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền lành, còn nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau họ sẽ chịu quả báo. Ví dụ như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ, thì do năm rồi họ làm có tiền của để dành. Còn cái nhân ăn chơi, không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.

    Có người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn khổ sở, là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả an vui. Ví dụ có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là do nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm tới họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó cổ nhân có câu:

    “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo

    Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”

    (Việc lành hay việc dữ đều có quả báo

    Chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).

    Do đó khi làm một việc gì, phái nghĩ đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều để phải chịu hậu quả đau khổ trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành ngày càng tăng trưởng. Và do sự gieo nhân lành toàn diện đó, từ địa vị Người, chúng ta có thể tiến dần đến quả vị Thánh hiền, được giải thoát giác ngộ.

    Tu:

    • Em ăn chay mỗi tháng ít nhất là hai ngày, vì đó là gieo nhân lành, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì quả phúc sẽ tròn đầy.
    • Xa lìa các việc ác, dù là việc ác nhỏ cũng không làm.
    • Luôn làm những việc thiện, dù là việc thiện nhỏ cũng không bỏ qua.
    • Hàng ngày thường xuyên niệm Phật, luôn nghĩ đến trí tuệ của chư Phật, các hạnh lành của chư vị Bồ tát một cách thiết tha để noi theo những hạnh lành ấy, đó là cách thực hành tốt đẹp nhất.

    Câu hỏi:

    • Hãy định nghĩa hai chữ NHÂN và QUẢ?
    • Hãy nêu đặc tính của Luật Nhân Quả?
    • Hãy nêu một ví dụ về Nhân Quả nơi tự tâm của mình?
    • Em hiểu thế nào câu nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”?
    • Hiểu biết Luật Nhân Quả đem lại lợi ích gì?
    • Đã hiểu rõ Luật Nhân Quả, em áp dụng vào đời sống như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Tứ nhiếp pháp
    Hình minh họa: Tứ Nhiếp Pháp

    Văn:

    Hoàng pháp lợi sanh là hạnh nguyện của chư Phật, chư vị Bồ tát. Đức Phật ra đời với một ý nguyện lợi sanh. Cho nên trong, tất cả phương tiện giáo hoá khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.

    Người Phật tử theo dấu chân Phật và Bồ tát, học Phật không chỉ riêng giác ngộ cho mình mà còn làm cho người khác cùng hiểu biết và hành trì pháp Phật cũng như mình, nghĩa là phải lợi sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không chỉ là lời nói suông mà người Phật tử phải thể hiện trọn vẹn trong quá trình học đạo, tu đạo và sống đạo của mình.

    Tứ nhiếp pháp còn gọi là 4 nhiếp sự, là nền tảng đạo đức của thế gian. Thế gian xoay quanh 4 nhiếp sự như bánh xe quay quanh trục. Đây là cương thường đạo lý của người Phật tử tại gia.

    Tứ nhiếp pháp được Phật kiến lập trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Bốn pháp.

    Muốn thực hiện tinh thần lợi sanh, đức Phật kiến lập pháp môn TỨ NHIẾP PHÁP để dạy chúng ta hành đạo như sau:

    1. Định nghĩa:

    Tứ là bốn.

    Nhiếp là nhiếp hóa, nghĩa là thâu lại gần mình.

    Pháp là pháp môn, là phương pháp thu phục người khác.

    Tứ nhiếp pháp là bôn phương pháp giúp mình xa lìa những thói hư tật xấu, hoàn thiện nhân cách, tăng trưởng phẩm hạnh, từ đó tiến đến chính phục kẻ khác. Đây là bốn phương pháp để người Phật tử thâu phục người khác về với mình, để cùng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có đưa người khác đến với ta, thì ta mới có cơ duyên hóa độ.

    Bốn phương pháp ấy là: “Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự”.

    2. Nội dung Tứ nhiếp pháp:
    a. Bố thí:

    Nói nôm na bình dân thường nói là “Cho”, nói có tình nghĩa hơn là “Giúp đỡ”, nói văn vẽ là “Tặng”, nói trang trọng đối với người trên là “Dâng”, chứa đầy màu sắc đạo vị là “Cúng dường”.

    Cho dù được gói ghém dưới nhãn hiệu nào, chữ THÍ là lấy của mình cho kẻ khác. Lấy của mình đem cho, tức ngầm chứa một sự hy sinh, dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều.

    Bố có nghĩa là cùng khắp, rộng rãi.

    Bố thí là cho một cách rộng rãi.

    Một khía cạnh khác của Bố thí, khi đã hy sinh của mình đem cho người khác là đã biểu lộ lòng thương, lòng vị tha, thay thế cho lòng vị kỷ. Đây là động cơ đầu tiên cho lòng thương rộng lớn đó là lòng Từ bi.

    Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn bằng tất cả nữa.

    Bố thí có ba phương diện:

    * Tài thí: gồm có Nội tài và Ngoại tài.

    • Ngoại tài: nghĩa là đem của cải, tiền bạc, vật dụng nằm ngoài thân để giúp đỡ đời sông thiết thực cho chúng sanh.
    • Nội tài: là bố thí chính thân mạng của mình, sức lực, lời nói, tư tưởng, ý kiến v.v… một thứ tài sản dù nghèo đến mấy cũng có và tài sản ấy mới thật là của mình. Đừng viện cớ: tôi nghèo quá, không có gì để bố thí. Cho dù nghèo tận cùng con số không, vẫn còn có thân mạng của mình, đó là vật sở hữu vô giá. Có thân mạng là có sức lực, có trí tuệ bố thí cho người khác như gặp người gánh nặng ta gánh giúp, đẩy hộ một chiếc xe lên đốc cao … Đó cũng là cách bố thí. Phật dạy rằng: “Đời ai không có thân, có thân là có thể bố thí được”

    * Pháp thí: nghĩa là đem giáo pháp chân chính mà giảng dạy cho chúng sanh thoát khỏi những đau buồn, đắng cay của cuộc đời, tạo niềm hân hoan vui sống cho họ hoặc tụng kinh niệm Phật để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.

    Đem Phật pháp cảm hoá mọi người đó mới là phương tiện chính của người tại gia phục vụ xã hội.

    Đức Phật dạy, trong mọi cách cúng dường, cúng dường Pháp là tối thắng, vì Pháp đem lại an vui lợi lạc cho đời này và vô lượng phước báu cho đời sau, là nhân giải thoát trong tương lai.

    * Vô úy thí: tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “Sự không khiếp sợ” trong những lúc nguy biến, ấy là vô uý thí.

    Làm thân người ai cũng có nỗi lo sợ, sợ đói, sợ nghèo, sợ bệnh tật, sợ thiên tai, ách nước. Vô úy thí là dùng tất cả phương tiện bố thí để giúp chúng sanh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Gặp những tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương cách giải cứu. Sự khổ sống trong sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.

    Vị Bồ tát có năng lực đem lại sự bình an cho chúng sanh là Ngài Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm thực hành như vậy mà thế giới Ta Bà gọi Ngài là “đấng bố thí sự vô uý”.

    Ngoài Tài thí, Pháp thí, chỉ riêng Phật giáo mới đặc biệt chú trọng đến pháp Vô úy thí.

    Thực hành tài thí để tương trợ đời sống vật chất cho chúng sanh. Thực hành Pháp thí để giáo hoá chúng sanh và thực hành hạnh Vô uý thí để loại bỏ những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.

    Bố thí mà chỉ mong cầu báo đáp thì chỉ có phước báu, chứ không thực sự giúp ta ta vĩnh ly khổ ách, đạt cứu cánh Niết Bàn.

    Bố thí Ba La Mật là hình thức bố thí cao cả nhất của Phật giáo. Đó là cách bố thí không thấy có kẻ bố thí, người được bố thí và của được bố thí, nên gọi là Tam luân không tịch. Câu chuyện Thái tử Tu Đại Noa nói lên ý nghĩa cao cả của việc bố thí này.

    b.Ái ngữ:

    Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hoá.

    Dùng lời nói dịu dàng, hoà ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến, rồi từ đó thân cận với mình. Nói lời hoà nhã nhằm an ủi, giúp người vượt qua sự khổ sở. Dù với bất cứ hoàn cảnh nào như đứng trước một nhân vật hung hăng, lời lẽ mình vẫn nhu hòa để cảm hóa họ trở về con đường thiện lành.

    Muốn có ái ngữ phải luôn luôn trầm tĩnh, nụ cười nở trên môi. Không nên xem thường ái ngữ, vì ái ngữ dễ nhiếp phục lòng người vô cùng. Ái ngữ là khí cụ sắc bén mà không mất tiền mua và đủ công năng khích động kẻ khác tiến lên đến chỗ tốt đẹp.

    c. Lợi hành:

    Là kết duyên với mọi người. Mỗi người sống đều có mục đích. Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích tốt đẹp mà họ mong muốn, là làm việc vì mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác.

    Lợi hành là cách thu phục lòng người nhanh nhất, hữu hiệu nhất.

    Hình ảnh vị Bồ tát Trì Địa là một tấm gương sáng về Lợi hành, suốt cuộc đời chuyên lo tu sửa đường sá, lấp các ao rạch ngăn trở lối đi, bắc cầu qua các kênh mương, gánh giúp cho người già cả, giúp đỡ kẻ tật nguyền neo đơn, từ những việc lặt vặt đến những việc lớn lao đều không từ chối nên được Phật ấn chứng.

    d. Đồng sự:

    Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục đích cảm hoá họ.

    Cùng hòa mình vào trong cảnh ngộ của người khác để dẫn dắt họ về với chánh pháp. Đây là một pháp vừa có hiệu quả lớn mà cũng vừa rất tế nhị. Cùng một cảnh ngộ thì để cảm thông với nhau hơn. Cụ thể, những người cùng nghề nghiệp rất dễ thương yêu nhau. Một tấm gương đồng sự của Bồ tát Duy Ma Cật: Đến nơi cờ bạc thì Ngài dùng nơi đó để độ người. Thấy ai Ngài cũng kính nhường. Ngài nhiếp phục kẻ lớn người nhỏ. Dạo chơi nơi ngả tư đường, Ngài giúp cho chúng sanh dự vào việc chánh trị. Vào nơi giảng luận, Ngài dùng pháp Đại thừa mà dẫn dắt kẻ khác. Vào nơi học đường, Ngài khuyên dụ và khai hóa học viên. Vào chốn ăn chơi, Ngài chỉ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào quán rượu, Ngài vẽ phác chí hướng cho những đệ tử của lưu linh. (Phẩm Phương tiện).

    Đồng sự với mọi người, với mục đích là giáo hoá. Do đó, không một chỗ nào dù là chỗ xấu xa như nơi cờ bạc, chốn buôn hương bán phấn, Duy Ma Cật lại không bước chân vào.

    Gần chúng ta hơn, Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng từ bi thương xót chúng sanh và muốn chúng sanh an lạc tự tại, Ngài hiện 32 ứng thân tùy sở cầu của chúng sanh mà thi hiện cứu độ.

    Đồng Sự với ý nghĩa cao sâu hơn, Đồng sự tức là Đồng ngã: nâng người lên ngang với mình về phương diện đạo đức. Đây là phần về Phật pháp: giúp người hiểu Phật pháp giữ giới ngang với mình, thấy người phạm giới giáo dục cho họ không phạm giới và giữ giới đã thọ như mình, giúp người khác (bạn tại gia) có kinh điển để học. Đối với người xuất gia: Kiến hoà đồng giải và Giới hoà đồng tu, đó là Đồng sự.

    Yếu tố Lợi hành, Đồng sự giúp người Phật tử chóng thích nghi với mọi môi trường ở cuộc đời và luôn tạo cho mình niềm an lạc tự tại để sống.

    Tư:

    • Tứ nhiếp pháp giúp em tạo dựng cuộc sống an lạc, tự tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
    • Tứ nhiếp pháp là một phương tiện thiện xảo để nhiếp phục, cảm hóa những người chung quanh.
    • Tứ nhiếp pháp còn giới hạn thân khẩu ý tạo tác các vọng nghiệp, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp chúng ta sớm gần với chân lý giải thóat giác ngộ.
    • Thấy người thực hành Tứ nhiếp pháp mà sanh tâm hoan hỷ thì công đức vô lượng.
    • Câu chuyện “Gã cùng tử” trong kinh Pháp Hoa làm nổi bật vai trò Thế Tôn cũng như tâm nguyện của chúng ta trên con đường phục vụ chánh pháp.

    Tu:

    • Em thực hành hạnh Bố thí để xả bỏ dần tánh tham lam keo lẩn.
    • Em dùng lời nói nhu hòa để cảm hóa những người chung quanh.
    • Luôn làm mọi việc ích lợi cho tất cả chúng sanh.
    • Tự đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân mới thấu hiểu những trăn trở của họ, từ đó sẽ thông cảm, vị tha, độ lượng, nhân từ.

    Tứ nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể. Tứ nhiếp pháp không phải là một giáo lý xuất thế, mà là yếu tố xây dựng cuộc đời, đưa mọi người vào ánh sáng chánh pháp.

    Với hạnh nguyện lợi tha, Tứ nhiếp pháp là phương tiện khéo và đủ vậy.

    Câu hỏi:

    • Tứ nhiếp pháp là gì?
    • Giải thích nghĩa 2 chữ Bố thí trong các trường hợp?
    • Thế nào là Vô úy thí?
    • Đồng sự là gì? Vị Bồ tát nào đã thực hành Đồng sự một cách rốt ráo?
    • Em thực hành Tứ nhiếp pháp như thế nào trong cuộc sống?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Ý nghĩa Đản sanh, Xuất gia của Thái tử Tất Đạt Đa
    Hình minh họa: Ý nghĩa Đản Sanh và Xuất Gia của Thái tử Tất Đạt Đa

    Văn:

    Cần ôn lại sơ lược lịch sử của Ngài trước khi tìm hiểu ý nghĩa Đản sanh và Xuất gia.

    • Thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại nước Ấn Độ, giữa một xã hội phong kiến đầy áp bức bất công, phân chia giai cấp.
    • Thời niên thiếu: Thái tử ra đời vào ngày rằm tháng tư âm lịch, vào năm 624 trước Tây lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, lúc hoàng hậu Ma Gia đang dạo chơi ngắm cảnh. Tiên A Tư Đà nhìn Thái tử và nói rằng: “Nếu làm vua thì sẽ làm vị Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia thì sẽ thành Phật”
    • Thái tử chào đời được 7 ngày hoàng hậu Ma Gia qua đời, Ngài được Bà dì nuôi dưỡng. Thái tử nổi tiếng thông minh, văn võ song toàn, lại luôn khiêm tốn lễ độ nên được mọi người yêu mến.
    • Đến năm 17 tuổi, Thái tử cưới công chúa Da Du Đà La làm vợ và sanh được đứa con trai tên La Hầu La.
    • Cuộc sống trong cung điện với đầy đủ tiện nghi và cung phi mỹ nữ ngày đêm ca múa để làm cho Thái tử vui lòng. Nhưng mọi lạc thú và hạnh phúc của thế gian không lay chuyển được lòng thương chúng sanh ở con người cao cả ấy được thể hiện trong lần đầu tiên theo cha dự lễ hạ điền nhìn thấy người và vật xâu xé, tranh giành nhau trong cuộc sống.
    • Những lần du ngoạn ngoài hoàng cung, Thái tử cảm nhận nỗi đau khổ của nhân loại với sự chứng kiến hình ảnh cụ già da nhăn, lưng còm; hình ảnh người bệnh rên la thảm thiết; chứng kiến một đám tang thân nhân khóc la sầu thảm. Và lần du ngoạn thứ tư nhìn hình ảnh thanh thoát của vị sa môn làm Thái tử nảy sanh ý muốn xuất gia tìm phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi khổ đau.
    • Một đêm kia sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người ngủ say, thái tử nhìn vơ con lần cuối rồi cùng Xa Nặc phi ngựa Kiền Trắc vượt thành xuất giá tìm đạo.

    Tư:

    Khi tìm hiểu Lịch sử của một vị Phât có 2 phương diện:

    * Về bản thể: từ vô thỉ đến vô chung, khi có chúng sanh là có chư Phật thị hiện để cứu độ chúng sanh.

    * Về lịch sử: có bia đá ghi chép thời đại, nơi chốn xuất hiện.

    1. Ý nghĩa Đản sanh:

    Trong kinh Trường A Hàm, theo cổ lệ thì mười phương ba đời chư Phật khi thị hiện ra đời (sự kiện Đản sanh) đều giống nhau như:

    * Người mẹ khi sanh đều về quê ngoại.

    * Lấy mội trường sinh thái làm nhà: Đản sanh, Xuất gia, Thành đạo, nhập Niết bàn đều dưới gốc cây.

    Sự xuất hiện của Đức Phật Thích Ca cũng không ngoài cổ lệ đó. Sự kiện Đản Sanh được giải thích trên 3 phương điện:

    a. Về Huyền thoại:

    Mang ý nghĩa triết học là một hệ tư tưởng. Những bậc vĩ nhân xuất hiện trong thế gian không thể diễn tả như người thường mà được thần thánh hoá, như nguồn gốc dân tộc Việt Nam là con rồng cháu tiên, bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng …

    • Phật như hoa Ưu Đàm ngàn năm mới xuất hiện một lần, tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mới xuất hiện, vì thế mới có Phật tiền, Phật hậu: sinh ra trước hoặc sau khi Phật ra đời (sinh ra lúc không gặp Phật). Các đức Phật liên tiếp xuất hiện ra giữa đời để cứu độ chúng sanh, liên tiếp vị này đến vị khác, nhưng không bao giờ xuất hiện cùng một lần.
    • Với những hiện tượng lạ xuất hiện khi Thái tứ Tất Đạt Đa đản sanh cho thấy Ngài không phải là người bình thường mà đây là lần thọ sanh sau cùng của muôn ngàn kiếp trước đây (qua những chuyện tiền thân đức Phật). Lần thọ sanh này không phải thọ thân do nghiệp lực mà là do nguyện lực của một Bồ tát (Ngài là Bồ tát Hộ Minh ở cung trời Đâu Suất).
    b. Về biểu tượng:
    • Sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa là sự thị hiện của một vị Bồ tát. Công hạnh của Ngài trong các kiếp trước đã gần viên mãn và do hạnh nguyện của Ngài nên lần này thị hiện, xuống cõi Ta Bà để hoàn tất việc tu chứng, để cứu độ chúng sanh đang quằn quại trong đau thương mà điển hình nhất là xã hội Ân Độ lúc bây giờ. Hiểu được sự thị hiện này mới thấy lòng từ bi của 1 đấng Thế Tôn thật quá bao la. Vì lẽ đó trong kinh Khánh Đản có đoạn: “Đêm dày tăm tối, Đuốc tuệ rạng soi, Nguyện cứu muôn loài. Pháp dùng phương tiện, Ta Bà thị hiện, Thích chủng thọ sanh …”. Và cũng chính do sự thị hiện nên khi vừa ra đời Thái tử Tất Đạt Đa đã thốt lên câu nói: “Thiên thượng thiện hạ duy Ngã độc tôn”. Ý nghĩa câu này: Trong 3 cõi, Phật là đấng Chí tôn, không ai xứng đáng hơn Phật. Đây là lời xác định địa vị chí tôn của Phật và chỉ có giáo pháp của Phật mới đưa chúng sanh vượt thoát ba cõi sáu loài, chứng đạt quả vị Vô thượng Bồ đề. Lời tuyên bố trên là tiếng rống của sư tử.
    • Đi 7 bước trên 7 hoa sen: Đây là biểu tượng của một vị Phật. “Khể thủ năng nhân đệ thất tiên”, chỉ cho đức Phật Thích Ca là vị Mâu Ni thứ 7.
    • Ý nghĩa con số 7: ngôi sao Bắc Đẩu là ngôi sao thứ 7, ngôi sao chỉ đường. Cả thế giới xoay quanh sao Bắc Đẩu. Ngày xưa khi chưa có La bàn, chưa có đồng hồ, người ta nhìn sao Bắc Đẩu mà đi, nhìn sao Bắc Đẩu mà đoán giờ.

    Thế giới lấy con số 7 làm chuẩn, 7 ngôi sao là 7 vị tiên chỉ đường, Phật đi 7 bước là 7 ngọn đuốc soi sáng thế gian.

    • Với 32 tướng tốt và 80 vẽ đẹp của Thái tử Tất Đạt Đa cho thấy tuy là thân người nhưng lại vô cùng cao quý, đặc biệt hơn người bình thường. Đó là báo thân do công phu tu tập của Ngài nhiều kiếp về trước.
    c. Về Lịch sử:
    • Sự có mặt của Ngài không phải là một huyền thoại. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã chứng minh Ngài là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật.
    • 200 năm sau khi Phật nhập diệt, đời vua A Dục là vị vua ngưỡng mộ Phật pháp đã dựng một trụ đá đánh dấu nơi Đản sanh của Thái tử Tất Đạt Đa.
    2. Ý nghĩa Xuất gia:
    • Tuy sống trong cung vàng điện ngọc, nhưng Thái tử Tất Đạt Đa không tham đắm những gì ngươi đời cho là hạnh phúc nhất thế gian (ngôi báu, vợ đẹp, con ngoan) mà Ngài luôn nghĩ đến sự khổ đau của chúng sanh và tìm phương cách cứu khổ cho muôn loài.
    • Thái tử Tất Đạt Đa đã có lần xin vua cha được xuất gia, vua Tịnh Phạn không cho. Thái tử đưa ra 3 yêu cầu, nếu vua cha thoả mãn được những yêu cầu đó thì Thái tử sẽ ở lại để nôi nghiệp đế vương. Đó là:

    1. Làm sao cho con trẻ mãi không già. 2. Làm sao cho con mạnh hoài không đau. 3. Làm sao cho chúng sanh hết khổ được vui.

    Vua Tịnh Phạn không làm sao đáp ứng được những yêu cầu đó của Thái tử Tất Đạt Đa. Một hoàng tử làm vua có giúp cho mọi người hết khổ đau hay không? Quyền lực, danh vọng, của cải thế gian có giúp người được hạnh phúc vĩnh cửu hay không?

    • 4 cửa thành Thái tử đi qua biểu trưng cho sanh, lão, bệnh, tử, những nỗi khổ đau của chúng sanh ai cũng biết, nhưng không thể vượt qua được. Thái tử đã hiểu sâu sắc những nỗi khổ đấy và Ngài đủ năng lực để vượt qua.
    • Thái tử xuất gia lúc tuổi tráng niên, tóc còn xanh mượt, ra đi cha mẹ khóc đầm đìa. Ngài ra đi vì lý do gì? Ra đi tìm lẽ sông an ổn chí thượng, hạnh phúc an lạc chân thật cho cuộc đời mình và cho tất cả chúng sanh. Hạnh phúc hiện tại tuy có, nhưng chỉ là tạm bợ nên Ngài đi tìm cái hạnh phúc tối thượng hơn. An lạc thế gian tuy có nhưng mong manh, Ngài ra đi tìm sự an lạc chân thật.
    • Với ý chí dũng mãnh, Thái tử Tất Đạt Đa đủ năng lực vượt qua bể ái sông mê (biểu tương Ngài nắm đuôi Kiền Trắc vượt qua dòng sông A Nô Ma) và vượt qua mọi gian khổ trên bước đường xuất gia tìm đạo giải thoát.
    • Vì lòng thương muôn cứu độ chúng sanh, Thái tử đã xem nhẹ danh lợi, tài sắc, giã từ hạnh phúc nhỏ bé của gia đình để đi tìm hạnh phúc chân thật vĩnh cửu, tìm một con đường giải thoát sanh tử luân hồi cho muôn loài.

    Tu:

    Em học được bài học ở cậu bé Tất Đạt Đa:

    Vào cái tuổi mà mọi cậu bé chỉ biết học hành và vui chơi thì Thái tử Tất Đạt Đa đã biết trầm tứ về cuộc sông khổ cực của mọi loài và phát khởi lồng thương rộng lớn trước những giành giật vì sự sống của con người và muôn vật.

    Thái tử Tất Đạt Đa ở vào tuổi thanh xuân như các em mà Ngài đa từ bỏ nếp sống vương giả, đầy quyền uy, dấn thân vào con đường vô cùng gian khổ đi tìm chân lý giải thoát cho mình và cho muôn loài.

    Do đó em nguyện:
    • Không đua đòi theo thế gian, không ăn chơi quá độ, tập hướng suy nghĩ của mình vào những vấn đề thoát tục, nhận rõ tính chất vô thường, vô ngã trong mỗi sự vật và trong chính bản thân mình.
    • Luôn nghĩ đến những khổ đau của người khác để chia xẻ và giúp đỡ họ.
    • Thương yêu mọi người như thương chính bản thân mình.
    • Tập suy tư về vấn đề hạnh phúc, danh vọng của thế gian để thây rõ bản chất thật sự của nó, để hiểu được ý nghĩa sự ra đi tìm đạo của. Thái tử Tất Đạt Đa cũng như tập cho mình một cuộc sống “Ít muốn, biết đủ” và tiến đến sông đạo.
    • Không hơn thua ganh tỵ, không hèn nhát để nhận ra lẽ phải.
    • Tinh tấn trong việc tu học cũng như trong công việc làm.
    • Luôn mở rộng lòng từ bi, hoà ái, khiêm cung học tập theo những đức tính của Thái tử Tất Đạt Đa.

    Và cao hơn, để hoàn thiện nhân cách của một người Phật tử, các em cần thực hành những điều sau đây trong cuộc sống:

    * Tập sống có nghị lực, có ý chí, dũng mãnh vượt qua mọi chướng duyên để tu học và ứng dụng những lời Phật dạy vào đời sống thường nhật, đó là thực hành hạnh Tinh tấn Ba La Mật.

    * Tập kham nhẫn trước mọi hoàn cảnh ngang trái, chịu đựng các pháp vô thường biến đổi của thế giản mà không sinh lòng hờn oán, đó là thực hành hạnh nhẫn nhục Ba La Mật.

    * Biết đem của cải bố thí, dâng hiến cho người, “Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”, bố thí cho người sự không khiếp sợ trong những lúc nguy biến, bố thí với tâm không phân biệt, không thấy có người đem cho, người nhận và của cho, đó là thực hành hạnh Bô” thí Ba La Mật.

    * Tập sống bình thản, trầm tĩnh trước mọi biến cố của cuộc đời với tâm an nhiên tự tại, đó là thực tập Thiền định Ba La Mật.

    * Luôn luôn gương mẫu về đạo đức, chuyên tâm giữ gìn giới luật đã thọ, xem Giới đã thọ lãnh là mạng mạch của đời mình mà không bao giờ dám vi phạm, đó là thực hành hạnh Trì giới Ba La Mật.

    * Biết quan sát sự vật chung quanh, quan sát thiên nhiên, thế giới loài người với một sự hiểu biết sáng suốt, hướng về chân lý, đó là thực hành hạnh Trí tuệ Ba La Mật.

    Thực hành 6 Ba La Mật cũng là toàn thiện nhân cách của mình, là đem lại hạnh phúc, an lạc cho bản thân, cho gia đình và mọi người quanh ta.

    Một đời sống đạo hạnh được thể hiện trong hiện tại và tương lai hướng đến sự toàn thiện cao nhất là thành Phật, mục đích tối thượng của người con Phật.

    Câu hỏi:

    • Trước khi thọ sanh, Thái tử Tất Đạt Đa là ai? Ở tại đâu?
    • Việc du ngoạn cửa thành lần thứ tư đã đem đến cho Thái tử Tất Đạt Đa ý muốn gì?
    • Sự thị hiện của Thái tử Tất Đạt Đa với sự giáng thế của các đấng tối cao các tôn giáo khác nhau như thế nào?
    • Hãy nêu lên dũng lực của Thái tử Tất Đạt Đa qua hành động giã từ vợ con trong đêm xuất gia như thế nào?
    • Nêu lên ý nghĩa Xuất gia của Thái tử Tất Đạt Đa?
    • Noi gương Thái tử Tất Đạt Đa, qua cuộc đời của Ngài, em có những tư duy và thực hành được gì cho chính bản thân mình?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  7. 7Sơ lược 10 Đại đệ tử của Đức Phật

    Sơ lược về 10 vị đại đệ tử của Phật

    Hình minh họa: Sơ lược về 10 vị đại đệ tử của Phật

    Văn:

    Trong suốt 45 năm giáo hóa, từ Thành đạo cho đến Niết Bàn, Phật quy tụ xung quanh hào quang của Ngài một số đệ tử cả xuất gia lẫn tại gia. Trong số này, những bậc xuất sắc ưu tú, chứng được thánh quả A La Hán gồm có 1250 vị. Đặc biệt có 10 vị mệnh danh là Thập Đại Đệ tử, trong 10 vị này mỗi vị đều có sở trường riêng, sở chứng riêng và đạo hạnh riêng. Mười vị Đại Đệ tử của Đức Phật là:

    Ngài Xá Lợi Phất
    Ngài Mục Kiền Liên
    Ngài Ma Ha Ca Diếp
    Ngài A Nậu Đà La
    Ngài Tu Bồ Đề
    Ngài Phú Lâu Na
    Ngài Ca Chiên Diên
    Ngài Ưu Ba Ly Tai
    Ngài A Nan Đà
    Ngài La Hầu La

    1. Tôn giả XÁ LỢI PHẤT: Trí tuệ đệ nhất

    Ngài được xem là trưởng tử của đức Phật, là chấp pháp tướng quân, thường giảng dạy đồ chúng thay cho đức Phật và hướng dẫn cho nhiều vị đắc quả A La Hán.

    Ngài luôn luôn tỏ ra khiêm tốn, tận tụy, nhiệt tình, được chư Tăng thán phục và được Đức Phật khen là Trí tuệ bậc nhất. Ngài đắc quả A La Hán 4 tuần sau khi xin gia nhập giáo đoàn.

    Xá Lợi Phất là con trong một gia đình danh giá Bà La Môn ở vùng Ubatissa. Từ nhỏ rất thông tuệ, học giỏi, được mọi người trọng vọng. Ngài có người bạn thân là Mục Kiền Liên. Cả hai Ngài là môn đệ xuất sắc của một vị thầy nổi tiếng, đã đạt được những thành quả tột đỉnh của môn phái ấy nhưng chưa vừa ý nên khi gặp đệ tử Phật (Ngài Assaji: A Tháp Bà Trì) liền nhận ra chánh pháp và quy y Phật.

    Khi về già, Ngài xin phép về quê, độ được cho mẹ và Ngài cũng thị tịch ở đó (trước Đức Phật).

    2. Tôn giả MỤC KIỀN LIÊN: Thần thông đệ nhất

    Ngài là con một gia đình Bà La Môn đanh tiếng. Ngài theo Tôn giả Xá Lợi Phất quy y Phật và sau 7 ngày đắc quả A La Hán, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Phật trong Định, khi Ngài đang sống độc cư trong rừng. Ngài được Đức Phật khen và đại chúng công nhận là Thần thông bậc nhất. Ngài đã nhiều lần thi triển thần thông như phương tiện để giáo hóa cứu độ mọi người. Ngài cùng với Xá Lợi Phất điều hành và hướng dẫn Tăng chúng, cũng như độ cho nhiều người chứng đắc Thánh quả. về sau, Ngài bị phái Ni Kiền Tử hãm hại bằng cách lăn đá làm Ngài bị tử thương. Đức Phật xác nhận Ngài Mục Kiền Liên đã nhập Niết Bàn ngay tại chỗ thọ nạn, nơi Ngài bỏ thân tứ đại.

    3. Tôn giả MA HA CA DIẾP: Đầu Đà số 1

    Ngài được Đức Thế Tôn nhiếp hóa trước hai tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được Thế Tôn cho là Đầu Đà đệ nhất. Sinh hoạt theo hạnh đầu đà là một lối sinh hoạt cực kỳ đơn giản nhằm mục đích tịnh hoá tâm hồn, rất thích hợp với những ai thích tu phạn hạnh như Ngài Ca Diếp. Sau khi xuất gia tu hạnh Đầu Đà trong 8 ngày liền, Ngài đắc quả A La Hán. Ngài tinh thông con.đường thiền định, nêu gương sáng cho chúng Tăng về các hạnh: “Ít muốn, biết đủ, tinh tân, viễn ly”. Ngài thường độc cư trong rừng dù tuổi đã cao.

    4. Tôn giả A NÂU ĐÀ LA: Thiên nhãn số 1

    Ngài được Đức Thế Tôn khen và đại chúng khâm phục là Thiên nhãn số 1.

    Trong tăng chúng Ngài nổi tiếng là bậc tu hành rất thanh tịnh, không bao giờ bị nữ sắc cám dỗ, vì vậy được mọi người kính ngưỡng.

    Trong tăng chúng Ngài nổi tiếng là bậc tu hành rất thanh tịnh, không bao giờ bị nữ sắc cám dỗ, vì vậy được mọi người kính ngưỡng. Duy có một tật nhỏ là tật ưa ngủ gục mỗi khi ngồi nghe Phật thuyết pháp, từng bị Phật quở trách đôi ba phen. Từ đó Ngài lập hạnh “không ngủ” từ đầu hôm đến suốt sáng, từ tản sáng đến chiều đêm, Ngài ngồi mở to đôi mắt nhìn vào khoảng không, không chớp mắt, cho đến một hôm thì hai mắt xưng vù rồi bị mù loà. Chính đức Phật cầm tay chỉ dạy giúp Ngài may áo và dạy phương pháp tu định để khiến mắt sáng ra, Ngài thực hành một cách triệt để nên được sáng mắt trở lại và chứng được Thiên nhãn thông, bất quản xa gần, bất luận trong ngoài, mắt Ngài đều thấy suốt. Phật dùng chánh pháp phương tiện dạy cho Ngài thể nhập tánh thây viên dung, không lệ thuộc vào nhãn căn. Ngài chứng đắc pháp này và thấy ba cõi như một quả Amla được cầm trên tay, được Phật ấn chứng là Thiên nhãn đệ nhất.

    Ngài là một trong những vị cùng với Đức Phật giáo hóa chúng sanh, truyền bá chánh pháp. Ngài là người chủ trì trong việc hỏa táng và thu xá lợi khi Phật nhập diệt.

    5. Tôn giả TU BỒ ĐỀ: Giải Không số 1

    Theo truyền thuyết của kinh sách Đại thừa, lúc Ngài mới sanh, trong gia đình Ngài toàn hiện ra những triệu chứng “không”. Các đồ vật trong nhà, từ kho lẫm, lu vãi… mọi vật biến đâu mất cả, chỉ thuần tịnh một mùi hương chiên đàn và hào quang sáng soi chấn động cả ba cõi, không thấy đâu là tường vách giới hạn. Hỏi về ý nghĩa điềm lạ này thì được thầy tướng bảo rằng đó là điều cực lành. Rồi nhân vì điềm “không” ấy, nên cha mẹ Ngài mới đặt tên cho Ngài là Tu Bồ Đề, nghĩa là Không Sanh. Lại cũng có nghĩa là Thiện Cát (tốt lành) hay Thiện Hiện (hiện điềm tốt).

    Ngài có biện tài, lại thấu rõ sâu xa đạo lý Chân Không, có nhận thức sâu sắc về Không tánh của các pháp, vì Ngài thật chứng Không trí và hiểu rốt ráo Không lý. Ngài được Đức Thế Tôn cho là Giải Không bậc nhất hay còn gọi là Thanh tịnh và Vô tránh đệ nhất. Ngài thấy được những chướng ngại trong tâm chứng sanh trong tương lai và tìm cách hỏi Phật để giải nghi khai ngộ cho mọi người, giúp chúng Tăng hiểu rõ hơn trong kinh Kim Cang Bát Nhã.

    6. Tôn Giả Phú Lâu Na: Thuyết pháp số 1

    Ngài được Đức Thế Tôn phong tặng “Biện Tài Vô Ngại và Nhạo thuyết đệ nhất”. Ngài đã giúp Đức Thế Tôn đắc lực trong việc giảng đạo, không từ nan bất cứ hiểm nguy nào.

    7. Tôn giả CA CHIÊN DIÊN: Luận Nghị số 1

    Ngài có biệt tài dùng lời nói rất đơn giản khiến những ai vấn nạn Ngài đều phải thần phục. Trong suốt cuộc đời hành hoá, nhờ tài nghị luận xảo diệu, Ngài đã cảm hoá được rất nhiều người, khiến họ tỉnh ngộ trở về với Tam bảo, sống một đời sống thanh thản an vui.

    Ngài được đức Thế Tôn khen ngợi và đại chúng công nhận là Luận nghị đệ nhất.

    8. Tôn giả ƯU BA LY: Trì giới số 1

    Ưu Ba Ly vốn thuộc giai cấp nô lệ Thủ Đà La, xuất thân làm nghề thợ cạo tóc, hầu hạ trong vương cung. Ngày Phật về thăm Ca Tỳ La lần đầu tiên và chấp thuận cho các vương tử xuất gia, Ưu Ba Ly tủi hổ cho phận mình sanh ra trong chốn hạ tiện, ở thế gian làm thân nô lệ đã đành, muốn lìa thế gian đi tu cũng không được phép. Ngài là người nô lệ đầu tiên được Phật cho xuất gia, thu nhận vào tăng đoàn. Xuất gia tu thiền sau một thời gian ngắn Ngài chứng quả A La Hán.

    Ngài được Đức Phật cho là đệ nhất Trì giới và được giao việc xử lý và tuyên luật.

    Theo sử liệu Bắc truyền thì sau khi Phật nhập diệt, trong cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên dưới quyền chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp, chính Ngài Ưu Ba Ly là vị trưởng lão tụng đọc các giới luật do Phật chế cho đại chúng nghe, kết tập thành bộ Bát Thập tụng Luật là quyển luật căn bản đầu tiên của Phật giáo.

    9. Tôn giả A NAN: Đa Văn đệ nhất

    Ngài là em họ Đức Phật, xuất gia khi Phật về thăm hoàng cung, Ngài là vị tỳ kheo đệ nhất về 5 phương diện: Đa văn, cảnh giác, sức khỏe đi bộ, lòng kiên trì và hầu hạ chu đáo. Được thánh chúng đề nghị làm thị giả Đức Phật khi Đức Phật được 56 tuổi. A Nan hoan hỷ chấp thuận với điều kiện: Thế Tôn từ chối 4 việc và chấp thuận 4 việc:

    • Từ chối: không cho tôn giả y, đồ ăn, phồng ở riêng và mời ăn.
    • Chấp thuận: Thế Tôn cho phép nếu Tôn giả được thí chủ mời đi thọ trai. Nếu có người từ xa đến xin ý kiến, Thế Tôn cho phép khi A Nan giới thiệu. Thế Tôn cho A Nan yết kiến khi Ngài gặp điều khó xử. Thế Tôn giảng lại những giáo lý cho; Ngài, trong những lúc A Nan vắng mặt.

    Tôn giả là người khéo nói bậc nhất, có cử chỉ rất đẹp trong xã giao, học rộng bậc nhất, là thị giả rất chu toàn và tận tụy, được Đức Thế Tôn hết lời ca ngợi tán thán. Ngài chứng quả A La Hán sau khi Phật nhập diệt (trước hôm kết tập kinh điển lần thứ nhất). Ngài được Ca Diếp giao trách nhiệm kết tập tạng Kinh.

    10. Tôn giả LA HẦU LA:M ậ thanh số 1

    Ngài là con của Thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Da Du Đà La. Khi về thăm quê lần đầu tiên, Phật phương tiện tìm cách đưa La Hầu La đi xuất gia và giao cho Xá Lợi Phất dạy bảo.

    Được Phật và Xá Lợi Phất từ mẫn giáo hoá, tập khí cương cường của giồng máu vương giả trong người La Hầu La mỗi ngày mỗi lạt phai và tánh tình lần lần trở nên ôn hoà nhu thuận.

    Ngài nghiêm trì giới luật, tinh tấn đạo tâm, quyết luyện mật hạnh. Sau một thời gian chăm chú luyện mật hạnh và từ câu nói đơn giản của Phật “Hãy nhìn vào vạn tượng sum la kia, rồi nhìn lui vào tâm niệm và thân thể của mình, để xem có gì đứng yên một chỗ không? Vô thường! Vô thường tất cả! Nên biết như thế

    và đừng để cho tâm chấp trước dính mắc vào đâu cả”. Chiêm nghiệm lời Phật dạy, Ngài đã chứng được tận cùng của Mật hạnh và được Phật khen là Mật hạnh đệ nhất.

    Tư:

    Đức Phật là vị Trí tuệ bậc nhất, được tôn xưng là Tuệ giác Vô thượng, với 10 đức tính của Ngài như 10 ngón tuyệt kỷ mà 10 vị đại đệ tử mỗi vị thể hiện một phần đức tính ấy mà thôi.

    Đời sống, sự tu hành, các đức tính … của các vị Đại đệ tử Phật là những gương sáng cho em suy tư, chiêm nghiệm và học tập theo các Ngài. Những gương sáng này xây dựng niềm tin cho em, cũng cố lồng tự tín của em và khích lệ niềm tự hào em được làm con của Phật.

    Ở mỗi vị đệ tử của Phật, em rứt ra được nhiều bài học cho tự thân, cũng như nhiều bài học trong quan hệ của Thế Tôn với các vị đệ tử của Ngài.

    Tu:

    Mười vị Đại Đệ tử của Phật là 10 tấm gương sáng về các hạnh nguyện, đức tính và năng lực đặc biệt, em cảm thấy an lạc và giải thoát khi đọc về cuộc đời của các vị.

    Những bài học sáng giá:
    • Bài học về đức khiêm tốn của Ngài Xá Lợi Phất.
    • Bài học về tình bạn sâu sắc giữa Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
    • Bài học về nghiệp báo nhân quả trong cái chết của Ngài Mục Kiền Liên.
    • Bài học vệ việc hành hóa độ tha của Ngài Phú Lâu Na.
    • Bài học về lòng hiếu thảo.
    • Bài học về sự khôn ngoan mẫu mực của Ngài A Nan khi được đề cử vào một công việc rất vinh dự …

    Học tập đức tính của các Ngài, em áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, noi gương các Ngài để tập xử sự ăn ở, mẫu mực với mọi người.

    Thực hành 10 hạnh nguyện của các Ngài để xứng đáng là con của Phật và con của các Ngài.

    Câu hỏi:

    • Hãy nêu lên tình bạn sâu sắc giữa hai Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
    • A Nan là vị đệ tử có tài gì được Đức Phật ca ngợi?
    • Ngài Ca Diếp được nêu gương sáng cho chúng Tăng về hạnh gì?
    • Cho biết bài học về việc hành hóa độ tha của Ngài Phú Lâu Na?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Phần đọc thêm : Ngài Phú Lâu Na – Thuyết pháp số 1

    Phú Lâu Na (PURANA), còn gọi là Pùma Maitràyani putra, Tàu dịch là Mãn Từ Tử (con bà Mãn Từ).

    Ngài là bậc có tín tâm thâm hậu, thái độ uy nghi, rất có tài hùng biện, sử dụng ngôn từ vô cùng xảo diệu, giúp Phật hết sức đắc lực trong công việc tuyên dương chánh pháp và được bất cứ loại thính chúng nào cũng đều nhiệt liệt hoan nghênh. Ngoài ba đức tánh cần có của một nhà đại hùng biện nói trên, Ngài lại còn hơn tất cả các đại đệ tử ở một điểm vừa căn bản vừa đặc biệt khác nữa: ấy là tinh thần bố giáo cao độ của Ngài.

    Thông lệ của Phật là hàng năm sau ba tháng hạ an cư, Phật phân bổ chúng đệ tử thành nhiều đoàn phụ trách bố giáo tại từng địa phương. Trong số các giáo khu phân bổ, Phú Lâu Na chưa thấy tên nước Du Na (Suna), một vùng biên địa rất hiểm trở, giao thông khó khăn, dân tình quen thói man rợ bạo ngược. Đó là một xứ mà trước kia người ngoài chỉ nghe tên chứ ít ai dám bước chân đến, vì sợ mất mạng, Phú Lâu Na bèn đề nghị với Phật xin cho Ngài đến đấy bô” giáo một phen.

    Phật hỏi: Ông không sợ nguy hiểm sao?

    Phú Lâu Na mỉm cười, bạch rằng: Vì mục đích bình đẳng độ sanh, thì bất cứ địa phương nào cũng đáng được lưu ý ngang nhau. Hơn nữa, dân tình chỗ nào càng man rợ bao nhiêu thì lại càng phải được thừa hưởng sự giáo hóa nhiều bây nhiêu. Như vậy mới thật là bình đẳng. Đối với đệ tử, nguy hiểm hay không nguy hiểm không thành vấn đề. Chỉ thành vấn đề là làm sao trên báo đáp được hồng ân Phật, dưới hóa độ được chúng sanh. Vì sứ mạng thiêng liêng cao cả ấy, thân này dù có tan xương nát thịt, tưởng cũng chưa vừa.

    Phật hỏi: Giả sử đến Du Na mà bị người mắng nhiếc nhục mạ thì ông nghĩ sao và đối tộ bằng cách nào?

    • Đệ tử nghĩ rằng như thế là họ còn quá tốt, chưa phải đã hoàn toàn dã man. Vì họ chửi rủa mà không dùng gậy gộc đánh đuổi.
    • Nếu họ dùng gậy gộc đánh đuổi hoặc dùng gạch ngói đá sỏi ném vào người ông thì ông nghĩ sao?
    • Họ cũng còn là người tốt, vì không nhẫn tâm gây thương tích cho đệ tử.
    • Nếu họ gây thương tích?
    • Cũng vẫn còn là người có lương tri, vì họ không nỡ giết hại đệ tử một cách oan uổng.
    • Nếu họ giết ông?
    • Cũng chưa phải là người xấu, vì nếu họ chấm dứt cái thân hư ảo này của đệ tử thì đó chính là họ ban trợ cho đệ tử mau nhập Niết Bàn, đem đến cho đệ tử một cơ hội hiếm có, được mang thân mạng này báo đáp hồng ân Phật. Việc ấy nếu xảy ra, riêng đệ tử không những không ân hận mà lại còn hân hoan đón nhận. Có ân hận chăng là chỉ ân hận cho họ không được nghe chánh pháp mà thôi.
    Phật cảm động, bèn khen rằng:
    • Này Phú Lâu Na! Ông quả không hổ danh là một đại đệ tử chân chánh của ta. Hạnh tu đạo, hạnh bố giáo, hạnh nhẫn nhục của ông thật là viên mãn.
    Quay lại chúng đệ tử, Phật bảo:
    • Này các tỳ kheo! muốn theo đuổi sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, nên có tinh thần như Phú Lâu Na. Phàm làm giảng sư đi bố giáo, cần hội đủ 10 đức tánh sau đây:
    • Thông hiểu giáo nghĩa.
    • Nói năng lưu loát.
    • Không e sợ trước đám đông.
    • Có biện tài vô ngại.
    • Vận dụng phương tiện khéo léo.
    • Biết tùy thuận hoàn cảnh và căn cơ chúng sanh.
    • Có đầy đủ uy nghi.
    • Tinh tấn dõng mãnh.
    • Có sức khỏe thể xác và tinh thần.

    10. Hội đủ oai lực.

    Này các tỳ kheo! Tất cả các đức tánh ấy Phú Lâu Na đều có đủ. Ông là

    người duy nhất trong Tăng chúng hội đủ điều kiện cần thiết để đi bố giáo tại Du Na. Ta không còn e ngại gì nữa.

    Quả thật như lời Phật dạy, Phú Lâu Na đã thành công rực rỡ tại Du Na. Ở nước này chưa đầy một năm, Ngài đã thâu vào Tăng đoàn hơn 500 đệ tử và kiến lập khoảng 50 cảnh già lam.

    Từ đó, trong Tăng chúng, ai ai cũng công nhận Ngài là bậc Thuyết pháp số 1. Được như thế là nhờ Ngài đã thành tựu được 4 pháp bồ tát:

    1/ Đối với bất cứ giáo pháp nào chưa tòng nghe, thái độ Ngài luôn luôn trầm tĩnh để tư lương nghĩa lý mà không vội phê phán.

    2/ Không cầu đa văn, vì đa văn thì dục tâm dễ khởi; không cầu nhàn hạ, vì nhàn hạ thì lạc tâm dễ sạnh. Trái lại, lo tu Từ quán để đoạn trừ sân nhuế, tu Bất tịnh quán để đoạn trừ tham dục, tu Nhân duyên quán để đoạn trừ ngu si.

    3/ Thấu rõ triệt để 5 ấm, 12 nhập, 18 giới, 12nhân duyên để thành tựu trí vô sở đắc, trí vô y chỉ. Trí này có thành tựu mới không còn niệm phân biệt và nhờ đó mới đủ sức tuyên dương đại pháp.

    4/ Rộng thực hành bố thí, nghiêm trì giới luật, thường dõng mãnh nhẫn nhục, tịnh tinh tân bồ đề.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  8. 8Khái lược lịch sử Phật giáo Việt Nam thời du nhập

    Đai cương:

    Lịch sử Phật giáo Việt Nam không những chỉ cống hiến sự lợi ích về tìm hiểu lịch sử Phật giáo đơn thuần mà cồn nối lên tình cảm tôn giáo của dân tộc nữa.

    Việc tìm hiểu Phật giáo Việt Nam thời du nhập thì có nhiều tài liệu sai khác về thời gian, địa điểm khai phá và nhân vật lịch sử.

    Có 3 thuyết bàn về niên đại du nhập:

    * Phật giáo được truyền trực tiếp vào Việt Nam trước Trung Hoa (Cổ Châu Pháp Vân, Phật bản hành ngũ lục).

    * Phật giáo được truyền vào Việt Nam đồng một lúc với việc truyền vào Trung Hoa (Nam Phong tạp chí 1928).

    * Phật giáo được truyền vào Việt Nam theo ngã Trung Hoa (Thuyết Chavannes).

    Phật giáo du nhập vào việt nam:

    1. Con đường du nhập:

    Đạo Phật được truyền vào Việt Nam bằng con đường trực tiếp từ Ấn Độ, do các thương nhân Ân đem vào, trước khi truyền vào Trung Hoa, nhưng vào thời gian nào thì chưa được xác định và tín ngưỡng Ấn Độ đã Việt hóa trước Công nguyên rất nhiều. Tuy nhiên nếu dựa vào các nhân chứng lịch sử thì Phật giáo được truyền vào Việt Nam cuối đời Linh Đế (Trung Hoa 168 – 189) do Ma Ha Kỳ Vực và Khâu Đà La trực tiếp đem vào Việt Nam (PGVN.TVG.Trg 59).

    2. Nhân vật lịch sử:

    a. MA HA KỲ VƯC: (hay còn gọi là Ma Ha Kỳ Thành Marajivaka – hay Jivaka).

    Nguyên quán Tây Trúc vân du khắp nơi, không trụ bất cứ chỗ nào, có các hành động mà các đệ tử không thể nào biết được. Vào Việt Nam năm 189 sau công nguyên. Ngài đi từ Ân Độ đến Phù Nam, rồi đi dọc bờ biển đến Giao Châu (Việt Nam). Sau chống tích trượng qua Trung Hoa.

    Phép lạ: Một lần đến bến sông Tương Dương, Ngài muốn đi đò qua sông, nhưng người lái đó thấy Ngài quần áo rách tả tơi, khinh bỉ không cho Ngài xuống thuyền. Nhưng thật kỳ lạ Ngài lại quá sông trước con thuyền. Đến khỏang năm 306 Ngài về lại Ấn Độ.

    b. KHÂU ĐÀ LA:

    Ngài người Ấn Độ vân du hoằng hóa vào Việt Nam khỏang năm 189 sau công nguyên. Ngài cùng với cư sĩ Tu Định (Man Tu Định) người Cao Miên ở tại làng Cổ Châu lập chùa Dâu tu tập (Huyện Siêu Loại, Phủ Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh). Ngài Khâu Đà La còn có tên là Cà La Chà Lê. (Kà Ka Cà Rya hay Hắc Sư). Khâu Đà La tu Mật tông.

    Một hôm Ngài tụng một bài kệ rồi biến mất, người ta nghe tiếng nói của Ngài vang trên đỉnh núi phía Tây, rồi tìm kiếm Ngài nhưng vô hiệu, nên không rõ rồi Ngài ra sao.

    c. KHƯƠNG TĂNG HỘI:

    Theo Lương Cao Tăng truyện do Huệ Hạo soạn 519, Ngài dòng dõi người Khang Cư (Sogdian) thuộc giống người Transoxiane lập cư tại Thiên Trúc. Nhưng Khương Tăng Hội theo cha vào Việt Nam từ lúc còn rất nhỏ (khỏang 189) Ngài xuất gia lúc 10 hay 13 tuổi. Ngài là một người trác tuyệt có biệt tài học thức và rộng lượng, thấu suốt tam tạng kinh điển.

    d. CHI CƯƠNG LƯƠNG: (Kàlaruci) tên ngài có nhiều nghi vân:
    • Cương Lương Tiếp (Kiang – Leang – Isie).
    • Cương Lương Lâu (Kiang – Leang – Loa).
    • Chi Cương Lương (Kiang – Leang – Leon Lehe Kàlaruci) nghĩa là Chân Hỷ.

    Kàla nghĩa là đen, Ruci nghĩa là vui vẽ như vậy không thể dịch Kala là Chân được. Phạn văn KaLiana có nghĩa là tốt hay đẹp. Vậy Chi Cương Lương phải là Kalianaruci mới đúng.

    Ngài người xứ Lục Chi, vào Việt Nam năm 255 ở lại giảng đạo khoảng 10 năm, đến năm 266 qua Quảng Châu và dịch kinh Thập Nhị Du kinh.

    e. MÂU BẮC: tức là Mâu Tử.

    Ngài sinh ở Thương Ngô (nay là Ngô Châu) bên cạnh sông Tây Giang. Khoảng năm 165 hay 170 Ngài đến Việt Nam cùng với Mâu Thân trước năm 189 sau trở về Thương Ngô, lúc 25 tuổi và lập gia đình ở đây khoảng năm 194 đến 195 Mâu Tử theo Phật giáo và nhiều người Trung Hoa ở Việt Nam bấy giờ cũng theo đạo Phật giống Ngài.

    3. Những nhà sư du hành:

    a. Đoàn thứ nhất: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ tư gồm Pháp Sư Minh Viễn, Thiền sư Huệ Mạng, Thiền sư Vô Hành (Bát Nhã Đề Bà).

    b. Đoàn thứ hai: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ V đến thứ VII gồm: Thiền sư Đàm Nhuận, luật sư Trí Hoằng, Tăng Cà Bát Ma.

    c. Đoàn thứ ba: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ VIII đến thứ X gồm: Sư Vận Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Pháp sư Khương Xuy, Pháp sư Huệ Diện, Pháp sư Trí Thành, Thiền sư Đại Thành Đăng.

    Kết luân:

    Thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy ở Việt Nam có vị trí thuận lợi, nơi giao tiếp giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.

    Mặc dù Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ân Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khởi, xuyên qua các dữ kiện lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa. Do đó người Việt Nam thời bấy giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận chuyển tư tưởng nói trên.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  9. 9Tinh thần tự tin, tự chủ, khoa học

    Văn:

    Tự tin là tin ở chính mình. Tự tín là một đức tính không thể thiếu được, vì thiếu tự tín sẽ trở thành thiếu tự chủ, luôn ỷ lại, không biết vận dụng hiệu quả khả năng của tự thân để giải quyết và xây dựng bản thân. Vì vậy, thiếu tự tín sẽ đưa đến tự ti và hậu quả sẽ chuốc lấy nhiều sầu muộn.

    Tự chủ là làm chủ được bản thân mình. Tuy chỉ nói gọn trong hai chữ Tự Chủ, nhưng làm chủ bản thân là điều tối cần thiết mà ai cũng ước mong đạt được. Tự chủ là tự mình thoát ra khỏi mọi trói buộc, mọi ách nô lệ nghiệt ngã nhất chính là những đục vọng của mình.

    Do đó, một người tự chủ sẽ sống lợi ích cho bản thân và cho xã hội, sẽ vì hạnh phúc của xã hội (trong đó có hạnh phúc của bản thân) đập vỡ mọi trói buộc bên trong và bên ngoài.

    Một học sinh tự chủ được các bạn yêu mến vì luôn luôn kềm chế mọi sự nóng giận của mình, luôn dịu dàng, kiên nhẫn với bạn bè, không ồn ào khoe khoang, thù vặt… Tất cả những đức tính có được là nhờ học sinh ấy có đức tự chủ. Một thầy giáo cô giáo, Huynh trưởng… có tự chủ không hề nóng giận, la mắng nạt nộ người dưới dù người ấy lỡ lầm, mà sẽ ôn hòa giảng dạy điều phải. Dù đời sống khó khăn, không trút hết giận hờn lên người dưới, dù của cải vật chất đem đến trước mặt để mua chuộc cũng không nao núng, không để vàng bạc mua được tư cách, danh dự mình.

    Tất cả những người ấy đã tự chủ, đã chiến thắng sân si, tham lam của chính mình để giữ trọn lòng thanh bạch.

    Một quốc gia tự chủ là tập hợp nhiều công dân tự chủ. Thực vậy, vì chính là sự đoàn kết của toàn dân, sự trong sạch của bộ máy hành chánh … mới là những đảm bảo bền vững nhất cho nền tự chủ của dân tộc. Sự mất đoàn kết dẫn đến cảnh ly tán là chuyện thường tình xảy ra.

    Tinh thần khoa học là tinh thần yêu mến sự thật, sự chính xác. Không dễ cảm tình, sự mê tín dị đoan, những hủ tục … làm cho mờ sự phán đoán của mình. Người có tinh thần khoa học có cái nhìn trung thực và trong sáng không bị méo mó bởi bất cứ lý do nào. Tinh thần khoa học là kim chỉ nam hướng dẫn ta không lao vào tà kiến hay thiên vị lệch lạc… tránh các phiền não gây ra do thành kiến và thiếu hiểu biết. Có khoa học mới biết phân tích sự việc một cách có hệ thông để đặt lòng tin vững chắc.

    Tư:

    Lòng tự tín tự chủ và tinh thẫn khoa học không thể thiếu ở một đoàn sinh GĐPT. Không tin ở người khác thì có thể sống được, chứ không tin ở mình thì cuộc sống sẽ mất hết ý nghĩa. Là Phật tử, phải làm chủ mình. Đức Phật dạy “Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất” nên Phật tử phải làm chủ mình, chiến thắng mình hàng ngày từ từng lời nói ý nghĩ và hành động; phải luôn trau dồi trí tuệ để đánh giá sự việc một cách khá chính xác và khách quan.

    Tu là sửa, từ những điều nghe và suy nghĩ ở trên dẫn em đến việc tự tu, tức là tự sửa mình. Gắng rèn luyện cho mình có những đức tính tự tín, tự chủ và có tinh thần khoa học. Muốn vậy, không được ỷ lại vào cha mẹ, anh chị em, thầy cô, bạn bè… Phải luôn luôn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ và việc làm (nếu trong tập thể phải tuân thủ theo ý kiến của đa số). Em luôn luôn dùng lý trí để xét đoán sự việc, dùng công tâm để phê phán không thành kiến, không thiên vị, không theo đuôi.

    Ngoại ra, phải luôn luôn trau dồi trí tuệ, tinh tấn làm các việc lành, tích cực diệt trừ tham sân si. Đó là ba thứ giặc đáng sợ nhất của tự tín, tự chủ và khoa học.

    Tu:

    Mỗi đêm, trước khi đi ngủ, hãy luôn nhớ lại những việc làm trong ngày, những lời đã nói trong ngày, rồi tự soi rọi lại mình. Mỗi sáng, trước khi ra khỏi phòng ngủ, tâm nguyện sống đúng tinh thần tự chủ, tự tín và khoa học mà đã được biết qua bài này. Em hãy tập hát bài hát:

    “Mỗi sáng nghĩ điều lành,

    Mỗi trưa làm việc lành,

    Mỗi tối mộng điều lành,

    Ta có một ngày vui,

    Ta có một đời vui

    Ta sẽ có Niết Bàn trong chính cuộc đời này,

    Ta sẽ có Niết Bàn trong chính trái tìm ta”

    Câu hỏi:

    • Phân biệt tinh thần tự tín tự chủ và tự cao tự đại?
    • Độc lập suy nghĩ có phải là không tuân theo kỷ luật không? Cho ví dụ?
    • Trong giao tiếp hàng ngày em còn gặp những mê tín dị đoan nào? Kể những hậu quả tai hại của chúng?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  10. 10Thời gian vật lý và tâm lý

    Văn:

    Nói đến thời gian và không gian, người ta thường có một nét nhìn tổng quát là: “Không gian vô cùng, thời gian vô tận”. Khoa học ngày càng tiến bộ, người ta sử dụng kiến thức của mình được một cách khá rộng rãi, chẳng những bay được trên không gian mà còn đổ bộ lên mặt trăng và ở lại lâu ngày trên vũ trụ. Mới đây một nhà khoa học khác đã phát hiện ra thêm một giải Ngân Hà nữa, ngoài giải Ngân Hà mà chúng ta, hành tinh của chúng ta là một thành viên của nó. Đó là chuyện mang tính cách chơn thường trong duyên sinh vũ trụ. Chúng ta trở lại với thời gian thực tế và cụ thể hơn.

    1. Thời gian vật lý:

    Là khoảng thời gian bởi sự vận hành của vũ trụ, các nhà bác học nương vào sự vận hành đó quy định ra ngày giờ năm tháng và gọi đó là thời gian pháp định, mục đích để quy ước với nhau, liên hệ nhau trong cuộc sống.

    2. Thời gian tâm lý:

    Chỉ khác ở chỗ nó đã đi sâu vào tâm lý, tình cảm của con người. Như người ta thường nói “Một giờ mong đợi, cầm lâu bằng một thế kỷ”.

    Thời gian tuy có vô tận, nhưng đối với người tu hành không được phép luống bỏ thì giờ. Thời gian trung bình của một kiếp người là 60 năm, nếu ai vượt quá tuổi này là một điều hiếm có trong xưa nay (nhân sinh thất thập cổ lai hy). Sáu mươi năm so với sự vô tận của thời gian thật qua ngắn ngủi, mà dù cho các vị tiên ông luyện phép trường sinh, kéo dài mạng sống đến ngoài 70 hay cả một thế kỷ thì đối với tâm lý cũng không có nghĩa lý gì của một kiếp sống.

    Tư:

    Đối với người Phật tử, Tổ Quy Sơn Đại Viên dạy chúng ta như thế này:

    “Thân tứ đại thường hay đau ốm, cảnh sinh già bệnh chết đâu có hẹn với chúng ta là bao nhiêu năm. Có thể là sáng còn chiều mất, chỉ trong sát na ta đã qua đời khác, ví như sương mùa xuân có trong chốc lát lại liền không, như dây bò ở miệng giếng, cây đứng ở bờ mé đâu có hay lâu dài, mỗi niệm, mỗi niệm nhanh chóng trôi qua. Chỉ chuyển đổi một hơi thở thì đời ta đã qua một kiếp khác”.

    Các em đã khái niệm về thời gian vô tận của vật lý, mạng sống của con người lại ngắn ngủi không cùng như thời gian tâm lý. Từ ngoài trăm năm cho đến một ngày một giờ, và ngắn đến nỗi chỉ còn một hơi thở, một sát na. Nhưng biết như vậy nghĩa là chúng ta đã biết khổ. Biết để mà trừ, để mà tu, chứ không phải chúng ta kể hành tướng của khổ ra để mà buông xuôi hay sợ hãi. Hành động buông xuôi hay sợ hãi là một hành động hoàn toàn thiếu dũng, thiếu trí mà đạo Phật không chấp nhận. Diệu lý bốn sự thật chỉ cho chúng ta thấy rõ: biết khổ để trừ, khổ đã trừ thì an vui, giải thoát sẽ đến, tịch diệt Niết Bàn sẽ chứng.

    Tu:

    Biết mạng sống của chúng ta ngắn ngủi, biết thân người khó có được để chứng ta liệu mà tu tập, vượt thoát ra khỏi sự ràng buộc của thời gian mà hòa đồng với bản thể chân như vũ trụ.

    Câu hỏi:

    • Thời gian vật lý là gì?
    • Thời gian vật lý khác thời gian tâm lý như thế nào?
    • Biết được mạng sống con người ngắn ngủi thì người Phật tử chúng ta phải làm gì để cuộc sống có ý nghĩa?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  11. 11Khái niệm về kiến trúc Phật giáo
    Hình minh họa: Khái niệm kiến trúc Phật giáo

    Đai cương:

    1. Địa thế Viêt Nam:

    Nước Việt Nam nằm ở ngã ba giao lưu giữa ba nền văn minh Âu, Ân, Trung Hoa.

    2. Tư tưởng dân tộc Viêt Nam:

    Thâm nhuần hai nền tư tưởng mạnh nhất Châu Á, đó là học thuật Khổng Tử và triết lý Phật giáo.

    3. Nền kiến trúc Phật giáo:

    Nền kiến trúc Phật giáo có từ đầu kỷ nguyên Tây lịch cùng với thời kỳ đầu tiên đạo Phật du nhập vào Việt Nam.

    4. Đặc tính kiên trúc Phật giáo Việt Nam:

    Chịu ảnh hưởng mạnh của nền kiến trúc Phật giáo Trung Hoa và Ấn Độ, hòa hợp với lối kiến trúc dân tộc gọi là “Nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam”.

    Kiến trúc phật giáo việt nam:

    1. Hệ tư tưởng căn bản của kiến trúc Phật giáo Viêt Nam:
    a. Tư tưởng Sắc và Không:

    Là hệ tư tưởng căn bản để thiết kế các ngôi chùa, tháp, tượng, cảnh trí phối hợp tạo được cái tinh thần KHÔNG man mác bao trùm không gian và thời gian như cảnh chùa Non Nước (Quảng Nam).

    b. Tư tưởng Thiền:

    Phôi cảnh tạo sự thanh tịnh, thuần khiết, nhiều khi vắng lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu,“nước chảy làm con người lắng xuống thanh thản như chùa Chúc Thánh (Quảng Nam), Thiên Mụ (Huế).

    2. Giá trị cấu trúc Phật giáo:

    Tìm hiểu ba phương diện chính về giá trị cấu trúc Phật giáo: lịch sử, tinh thần, vật chất.

    a. Chùa:
    Lịch sử cấu trúc các kiểu chùa qua các thời đại:
    * Hình dáng:
    • Chữ Đinh đối với các chùa nhỏ (T).
    • Chữ Công đối với các chùa vừa (I)
    • Chữ Tam ()
    • Chùa lớn theo kiểu nội công ngoại quốc còn gọi là Tòng Lâm.
    * Nội điện:
    Bên trong thường chia làm ba phần:
    • Án tiền: nơi tín đồ lễ bái.
    • Tam Bảo: nơi thờ Phật.
    • Hậu điện: còn gọi là nhà Tổ, nơi thờ các vị Tổ hay Tăng Ni khai sáng chùa.

    * Ngoài ra còn có những cảnh chùa có cấu trúc đặc biệt, không theo những bố cục thông thường như chùa Diên Hựu xây dựng để làm khởi nguyên.

    • Chùa Phật Tích: có dấu tích Phật ở Tiên Sơn.
    • Chùa Diên Hựu: Vua Lý Thái Tông nằm mộng, thấy Phật Quan Thế Âm ngồi tòa sen.

    * Về lịch sử: mỗi ngôi chùa thường căn cứ vào hoàn cảnh. Tên chùa thường được đặt theo địa dư, Tông phái, mục đích xây dựng chùa, các danh xưng trong kinh điển, các Thánh Tăng.

    Cấu trúc và giá tri các ngôi chùa:
    • Các kiểu chùa xưa, thường kiến trúc bằng danh mộc, mái lợp ngói cổ, tường gạch xây bằng vôi cát, vách tô vôi cát, trên một nền cao, thường xây chu vi nền bằng đá.
    • Các cấu trúc gỗ như cột chùa thường được kê trên một viên đá tảng, chân cột chạm một hình hoa sen. Các gốc mái chùa có hình con dao bằng sành, cột, kèo, xà bào nhẵn, rui mè đều có mộng, sườn nhà thường là các tác phẩm điêu khắc hay hoa văn.
    • Mái chùa đôi khi có kèo đôi, mái cong kiểu “lầu dao lá mái”, kiểu này còn gọi là chân lầu. Chân lầu giữ cho mái cong được vững, bền theo thời gian.
    • Mái ngói chùa Việt Nam làm theo kiến trúc kẻ chuyền bảy góc, nên không xòe ra quá rộng như mái chùa Nhật, Trung Hoa. Dốc mái bằng phẳng.
    • Các kiến trúc chùa hiện đại thường xây lầu (trùng lâu) phía trên là điện thờ, dưới thường là giảng đường. Các kiến trúc mái và hoa văn bằng ciment, thường mô phỏng theo các kiến trúc gỗ ở các chùa cổ.
    • Các kiểu mái, các điêu khắc trên sườn nhà, các hoa văn, long, lân, quy, phụng… nói lên giá trị văn hóa, văn minh của dân tộc ở thời đại xây dựng chùa. Như vậy mỗi ngôi chùa cổ đều mang lịch sử văn minh dân tộc và tôn giáo cũng như tư tưởng thời đại.
    b. Tháp:
    Các cấu trúc sau đây đều được coi là Tháp:

    * Tam quan: Trước chùa là Tam quan có khi là cấp Tam quan, Tháp chuông, Bảo tháp trúc chính, có khi chỉ là phụ. Tam quan có thể có gác chuông, trống, điện thờ ông Tiêu Diện, Hộ Pháp.

    Kiến trúc thông thường có 4 cột chính. Tam quan nghĩa là: Không quan, Giả quan và Không Giả quan tức là hư vô.

    * Tháp chuông: Là bộ phận quan trọng của kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Bảo tháp bắt nguồn từ Ấn Độ. Thoạt đầu là các trụ đá để kỷ niệm các Phật tích với các bia ký, ghi lại lịch sử Phật giáo.

    Sau biến đổi thành một kiến trúc gọi là các tòa Phù Đồ (stupa) do đó có một sắc thái đặc biệt. Hay các Bảo tháp (Pagoda).

    Bảo tháp Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của kiến trúc tháp Chàm, do đó có sắc thái đặc biệt, ngoạn mục và hùng vĩ.

    Kết luận:

    Các kiến trúc Phật giáo Việt Nam nói lên được:
    • Tinh thần Phật giáo.
    • Tinh thần dân tộc.

    Kiến trúc Phật giáo là cơ sở của nền văn minh dân tộc Việt Nam, là thước đo tinh thần tự chủ của dân tộc, cũng như sự hòa hợp thích nghi giữa Đạo và Đời.

    Câu hỏi:

    • Kiến trúc Phật giáo dựa vào hệ tư tưởng căn bản nào của Phật giáo?
    • Nội điện của chùa thường chia làm mấy phần?
    • Các kiến trúc của Phật giáo Việt Nam nói lên tinh thần gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  12. 12Hiểu nghi thức tụng niệm GĐPT
    1. Chuẩn bị:
    • Quyển nghi thức tụng niệm dành riêng cho GĐPT.
    2. Giờ học:

    Gọi một em đoàn sinh đọc bài sám hối (nếu không thuộc thì hỏi xem em nào xung phong đọc). Huynh trưởng điều chinh những chỗ thiếu, sai.

    Tương tự với các bài tiếp theo.

    • Sám hối.
    • Bảy danh hiệu Phật và Bố tát.
    • Bốn lời nguyện rộng lớn.
    • Tam tự quy.
    • Hồi hướng.
    3. Luyện tập:

    Đọc thuộc chính xác.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Rèn chí (chuyện tiền thân – chuyện đạo)2 bài

  1. 1Hạnh tu nhẫn nhục
    Hình minh họa: Mẫu chuyện đạo : Hạnh tu nhẫn nhục

    Xưa có một vị hoàng tử tên là Nhẫn Nhục, tướng tốt, thông minh và giàu lòng thương người. Đối với cha mẹ Ngài hết sức kính trọng, hiếu thảo và không bao giờ từ chối một việc gì mà có thể làm cha mẹ vui lòng.

    Một ngày kia vua cha đau nặng, thuốc thang chạy chữa hết phương mà bệnh cũng không lành. Hoàng tử lo buồn lắm nên Ngài mời các quan trong triều họp lại để xem có ai chỉ cách cứu chữa cho vua cha. Trong triều có một vị quan gian ác muốn giết chết hoàng tử để cướp ngôi sau khi vua mất. Vì thế vị quan gian ác này liền đứng lên thưa rằng:

    • Thưa Thái tử, bệnh của nhà vua chỉ có một thứ thuốc có thể chữa được nhưng rất khó kiếm. Hoàng tử vui mừng và hỏi:
    • Chẳng hay thuốc ấy là thuốc gì, nếu chữa được cho vua cha lành bệnh thì khó mấy tôi cũng tìm cách kiếm cho được.
    Vị quan gian ác thưa:
    • Đó là não của một người mà từ nhỏ đến lớn rất có hiếu với cha mẹ và biết thương yêu mọi người.
    Hoàng tử nói:
    • Vậy não tôi có được không? Có thể đem dùng cứu cha tôi lành bệnh không?
    Kẻ gian thần mừng rỡ nhưng giả bộ làm mặt buồn bả mà thưa rằng:
    • Thưa có thể được, còn ai hiếu thảo và giàu lòng thương hơn Ngài. Nhưng chúng tôi chẳng dám làm việc ấy vì Ngài là một người con hiếu thảo và biết thương người làm sao có người đành tâm thấy Ngài hy sinh như vậy được?
    Hoàng tử khẳng khái trả lời:
    • Nếu tôi chết mà cứu được vua cha thì lòng tôi vô cùng sung sướng, xin ông đừng lo ngại gì cả.

    Nói xong Hoàng tử truyền lệnh đem cắt đầu mình và lấy não đem hoà thuốc cho vua cha uống.

    Lòng hiếu thảo của Hoàng tử động đến trời đất nên chén thuốc hóa ra hiệu nghiệm, và sau khi uống xong, vua cha liền lành bệnh ngay.

    Câu hỏi:

    • Vị Hoàng tử đã làm được việc gì rất khó làm?
    • Vị Hoàng tử bày tỏ tấm lòng của mình như thế nào đối với vua cha?
    • Em đã học được bài học gì qua câu chuyện tiền thân trên?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Cặp mắt Thái tử Câu Na La

    Ngày xưa ở xứ Ấn Độ có một vị vua tên là A Dục trị dân rất công bình, vợ Ngài là Hoàng hậu Liên Hoa rất hiền thục, người con trai đầu của hai người có cặp mắt đẹp và hiền từ như chim Câu Na La cho nên đặt tên Thái tử là Câu Na La. Thái tử có người vợ hiền tên là Ma Đa Vi, hoàng hậu Liên Hoa mất sau khi Thái tử lập gia đình.

    Sau đó vua A Dục cưới người vợ khác tên là Xích Di. Bà ta sinh được một người con trai và ước ao một ngày kia con bà sẽ nối ngôi vua thay vì Câu Na La. Một hôm vua A Dục bị bệnh nan y, tất cả lương y trong nước đều bó tay thì hoàng hậu Xích Di cứu chữa được bệnh tình của nhà vua. Nhớ ơn bà, nhà vua hỏi bà muốn đền ơn thế nào? Bà xin vua cho con bà được nối ngôi. Vua A Dục áy náy trong lòng vì trước khi hoàng hậu Liên Hoa từ trần nhà vua đã có hứa là sau này sẽ cho Câu Na La nối ngôi, nhà vua không thể quên lời hứa đó được. Bà ta thấy không xong nên xin nhà vua cho bà được cầm quyền một ngày. Nhà vua lo nghĩ nhưng cũng bằng lòng.

    Trong nước có thành Đắc Xô Thi La, dân chúng bị quan lại địa phương đóng thuế cao và bị đàn áp quá mức nên nổi lên chống đối triều đình. Có người về báo cho triều đình biết, nhằm đúng ngày hoàng hậu Xích Di cầm quyền, bà đề nghị với vua A Dục là Thái tử Câu Na La một người công bằng nên đến thành Đắc Xô Thi La trấn an dân chúng. Vua e ngại, nhưng Thái tử đứng ra tình nguyện xin đi, với sự quyết tâm của Thái tử, nhà vua đồng ý. Thái tử không ngờ đây là âm mưu của hoàng hậu Xích Di cho tiền quan địa phương để hà hiếp dân đến độ dân chúng phải nổi loạn.

    Thái tử Câu Na La giã từ vua A Dục và công chúa Ma Đa Vi cởi con ngựa Măng Đa La lên đường, theo sau Thái tử là một kỵ mã trung tín của hoàng hậu mang theo bên mình một sứ mệnh có niêm ấn của nhà vua rõ ràng. Khi Câu Na La đến nơi dân chúng đã ra quỳ hai bên đường để tạ tội cùng triều đình. Thái tử vào thành thay đổi luật thuế, lựa người công bình ra tri dân, muôn dân reo mừng mỏ tiệc mừng vui.

    Thành Đắc Xô Thi La đang vui mừng thì chiều hôm đó người kỵ mã kia đã đến và giao mệnh lệnh cho quan địa phương, mở ra coi họ đều sửng sốt, mệnh lệnh như thế này: “Phải móc mắt Thái tử Câu Na La, kẻ thù lợi hại của nhà vua và kẻ đã làm nhơ nhuốc nòi giống, phải thi hành ngay, và từ nay không ai được nhắc tới hay giúp đỡ Câu Na La”. Quan địa phương phân vân không biết phải làm sao, nhưng vẻ buồn hiện ra trên mặt họ. Câu Na La gạn hỏi họ mới giao mệnh lệnh cho Thái tử xem, Câu Na La sững sờ biết vua A Dục không thể nào ra lệnh như vậy, đây là mưu kế của hoàng hậu Xích Di. Nhưng có ấn tín rõ ràng chỉ biết tuân theo mà thôi.

    Đao thủ không ai dám ra tay cứ chần chờ mãi, sau cùng có một người lấy thanh sắt nóng dụi vào mắt Thái tử Câu Na La.

    Sau khi mệnh lệnh được thi hành dân chúng gạt nước mắt bỏ đi hết, bốn bề vắng lặng, thỉnh thoảng chỉ còn nghe tiếng kêu thảm thiết của con ngựa Mãng Đa La. Thái tử nghe được bèn nói với con ngựa là: “Con nên bỏ ta mà đi”. Con ngựa như hiểu tiếng người, quanh quẩn một lúc rồi quay lại đường cũ trở về kinh đô. Từ ngày Thái tử ra đi, công chúa Ma Đa Vi ngày đêm mong đợi, có linh tính điềm bất an đã xảy ra cho Thái tử. Một đêm kia thấy con ngựa Măng Đa La trở về một mình, bà ta đã ngất đi, tưởng chồng đã chết trên đường dẹp loạn. Sau một đêm suy nghĩ, bà quyết định ra đi dò tin tức của chồng. Bà thay đổi y phục thường dân và không thông báo cho vua A Đục biết vì sợ nhà vua không cho đi. Đến thành Đắc Xô Thi La dò tin mãi mới tìm được Câu Na La. Thái tử kể cho vợ nghe những chuyện đã xảy ra.

    Về phần vua A Dục hàng ngày mong tin Câu Na La trở về, nhưng nay nghe báo ngựa Măng Đa La đã trở về và công chúa Ma Đa Vi đã trốn đi, vua sai người đi thành Đắc Xô Thi La tra hỏi, nhưng quan địa phương biết mình đã mắc mưu sợ mang tội lớn với triều đình cho nên nói dối là Thái tử Câu Na La đã một mình trở lại kinh đô sau khi dàn xếp xong mọi việc. Sứ giả nghi ngờ nhưng dân chúng không ai dám hở môi cho nên đành phải về triều báo cáo với nhà vua.

    Trong lúc đó hai vợ chồng Câu Na La ca hát, xin ăn trên đường dẫn nhau trở về kinh đô. Một ngày kia hai người tới được cung điện nhà vua, xin vào gặp vua nhưng lính canh gác thấy hai người quần áo lam lũ nên không cho vào. Đêm hôm đó họ được cho ngủ ở nhà cất xe, mỏi mệt quá nên hai vợ chồng Câu Na La ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng hôm sau thức dậy hai người ca hát với nhau. Vua A Dục vì nhớ thương con nên hàng ngày ngóng trông về hướng thành Đắc Xô Thi La. Sáng hôm đó nhà vua đi dạo nghe tiếng ca quen thuộc phát ra từ nhà chứa xe, vua sai người tới xem xét. Lính hầu đưa hai người tới gặp nhà vua, vua nhận ra bà Ma Đa Vi, ôm chầm lấy con và dâu. Nhà vua hỏi cho ra sự tình mới biết tất cả nghịch cảnh này đều do hoàng hậu Xích Di tạo ra.

    Về phần bà Xích Di từ ngày ra lệnh móc mắt Thái tử ngày đêm phập phồng lo sợ chuyện sẽ bại lộ. Hôm nay nghe tin Thái tử đã trở về và có lệnh vua đòi gặp bà, trước triều đình bà chỉ còn biết cúi đầu nhận tội mà thôi, vua ra lệnh đưa bà ra hành quyết.

    Thái tử Câu Na La xin tha tội cho bà và thưa với vua rằng: “Ngày hôm qua đi đường mệt mỏi con nghĩ không biết mình đã làm điều gì lầm lỗi mà ngày nay phải chịu đọa đày như vậy, vì con đã nhìn thấy một kiếp trong đời trước của con, con là một người thợ săn đặt bẩy bắt được 50 con dê núi (sơn dương). Vì không thể nào một ngày tiêu thụ được cả bầy dê, cho nên con mới nghĩ cách là móc hết mắt bầy sơn dương và nhốt vào hang núi, dê không thấy đường cho nên không tìm cách trốn được. Mỗi ngày mang từng con xuống chợ bán, con đã làm khổ 50 chúng sanh thì ngày nay con phải chịu quả báo vậy”.

    Vua nghe thấy thật là cảm động, còn đang phân vân thì Thái tử ngồi ngay ngắn mà khẩn nguyện rằng: “Nếu lời tôi nói là đúng sự thật xin Đức Phật chứng minh cho đôi mắt tôi được sáng lại”. Lời nói vừa dứt thì cặp mắt của Câu Na La sáng lại như thường, vua A Dục và công chúa Ma Đa Vi xiết bao vui mừng.

    Vua tha tội cho hoàng hậu Xích Di và truyền lệnh cho bà tìm nơi yên tĩnh mà sám hối. Về sau Thái tử Câu Na La nối ngôi vua A Dục, và công chúa Ma Đa Vi là Hoàng hậu.

    Thái tử Câu Na La là tiền thân của đức Phật Thích Ca.

    Câu hỏi:

    • Hoàng hậu Xích Di đã hành xử như thế nào đối với Thái tử Câu Na La?
    • Thái tử Câu Na La thực hành hạnh gì khi bị hãm hại?
    • Qua câu chuyện tiền thân này em rút ra được bài học gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Tu dưỡng3 bài

  1. 1Thuộc nghi thức Cầu an, Cầu siêu (nghi GĐPT), Sám Vu Lan

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Dùng quyển Nghi thức tụng niệm của Gia Đình Phật Tử do Ban Hướng Dẫn phát hành, phần Cầu an, Cầu siêu và Sám Vu Lan.
    • Cầu an: tụng khi cầu nguyện cho người còn sống được bình an, khỏi bệnh; thường tụng phẩm Phổ Môn hoặc kinh theo nghi thức.
    • Cầu siêu: tụng khi cầu nguyện cho người đã mất được siêu thoát; thường tụng kinh A Di Đà, niệm Phật theo nghi thức.
    • Sám Vu Lan: đọc trong mùa Vu Lan để nhớ ơn cha mẹ, ông bà.
    • Tập từng phần: Huynh trưởng đọc mẫu, giải thích ý nghĩa; các em đọc theo, giữ chuông mõ.

    Gợi ý hoạt động

    • Khi Gia đình có anh chị em, phụ huynh đau ốm hoặc qua đời, Đoàn tổ chức tụng Cầu an, Cầu siêu để các em thực hành và thể hiện tình lam.
  2. 2Biết sử dụng chuông mõ
    Hình minh họa: Em tập đánh chuông mõ

    Chuẩn bị:

    Mượn bộ chuông mõ nhỏ ở chùa.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    Chuông mõ giúp cho buổi lễ Phật, tụng kinh được nghiêm trang, đều đặn và tạo được sự thành kính, thanh tịnh. Muốn đạt được ý nghĩa trên cần phải đánh chuông mõ thật đúng cách.

    a. Trước khi lễ:

    Hai đoàn sinh được chỉ định thủ sẵn chuông mõ vào chánh điện lau chùi, dọn dẹp bàn thờ Phật, Bồ Tát, Tổ cho sạch sẽ và ngăn nắp. Đốt nến, thắp hương cho mỗi lư hương và thắp riêng 3 nén hương dành cho vị chủ lễ.

    Hai đoàn sinh thủ chuông mõ đứng đối diện, nhìn thẳng nhau chứ không nhìn vào bàn Phật. Nhìn vị chủ lễ để theo dõi khi đánh chuông mõ.

    Đánh một tiếng chuông thong thả để tất cả đoàn sinh và Huynh trưởng vào chánh điện. Khi chủ lễ niệm tịnh pháp giới và tịnh tam nghiệp xong, chuông đánh 1 tiếng để tất cả cùng xá.

    b. Trong khi lễ:
    • Chủ lễ niệm hương:

    Đánh 1 tiếng chuông sau mỗi bài Cúng hương, Tán Phật.

    Sau mỗi câu đảnh lễ, đánh 1 tiếng chuông, tất cả đều lạy.

    • Khai chuông mỏ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời o o o

    Mõ đánh 7 tiếng (4 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời) xx xx xx x

    Chuông mõ: 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ (3 lần) o x o x o x

    Mõ: 1 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời xx xx

    Chuông nhập cùng lúc với tiếng mõ cuối.

    (o o o, xx xx xx x, o, x, o, x, o, x,x xx xx o)

    • Tụng bài sám hối:

    Mõ đánh tiếng thứ 2 (Đệ tử) chờ tiếng xướng của người chủ lễ, đánh tiếng thứ 4 (kính lạy) rồi đánh đều từ tiếng thứ 5 trở đi.

    Chuông đánh một tiếng sau câu “… thành tâm sám hối”

    Mõ đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối (Phật) và nhập ở tiếng cuối (đạo).

    Chuông đánh 1 tiếng khi còn 3 tiếng dứt bài.

    • Tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát, …

    Mõ cũng đánh theo người chủ lễ bằng cách vào ở tiếng thứ hai và tư, kết mỗi bài đều đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối và nhập ở tiếng cuối.

    Chuông đánh trước 1 tiếng trước khi kết thúc mỗi bài tụng hoặc mỗi câu Tự quy y.

    • Chấm dứt buổi lễ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời.

    Vị chủ lễ đánh chuông cho 2 đoàn sinh thủ chuông mõ lễ Phật (3 lạy).

    c. Sau khi lễ:

    Đoàn sinh rời chánh điện trong im lặng và trật tự.

    Hai em thủ chuông mỏ tắt đèn quạt, … dọn dẹp xong ra sau cùng.

    2. Em thực hành:

    Huynh trưởng chia đoàn sinh học đánh chuông mõ thành hai hàng ngồi đối diện nhau, 1 hàng đánh chuông, 1 hàng đánh mõ. Huynh trưởng chỉ các em dùng miệng và điệu bộ để tập chung. Sửa chỗ sai, sau đó cho từng cặp thực tập dùng chuông mõ.

    Chọn 2 em đánh khá thực tập để các em nhận xét, sau đó chia nhóm ôn lại.

    Chú ý: nâng dùi và đánh nhẹ nhàng. Dùi chuông hất nghiêng ở thành chuông, dùi mõ đánh thẳng.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Sổ tức quán

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    Sổ tức quán là phép đếm hơi thở để tâm được yên lặng, tập trung, bớt suy nghĩ lăng xăng. “Sổ” là đếm, “tức” là hơi thở.

    Cách tập

    • Ngồi thẳng lưng (kiết già, bán già hoặc ngồi trên ghế), hai tay để trên đùi, mắt khép hờ.
    • Thở tự nhiên, nhẹ nhàng bằng mũi.
    • Hít vào, thở ra, đếm “một”; hít vào, thở ra, đếm “hai”… cho đến “mười”, rồi bắt đầu lại từ “một”.
    • Khi đang đếm mà tâm nghĩ sang chuyện khác, hoặc đếm quá mười, thì nhẹ nhàng trở về đếm lại từ “một”, không bực bội.

    Em thực hành

    • Mỗi ngày tập 5 – 10 phút, buổi sáng hoặc trước khi ngủ.

    Gợi ý hoạt động

    • Đầu mỗi buổi sinh hoạt, cả Đoàn ngồi tĩnh tâm và đếm hơi thở 3 phút, bắt đầu và kết thúc bằng một tiếng chuông.

Văn nghệ12 bài

  1. 1Âm nhạc: nhịp, phách; nhịp 2/4, 3/4, 4/4

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • Phách là đơn vị đo thời gian trong âm nhạc, đều đặn như tiếng tim đập.
    • Nhịp là nhóm các phách có phách mạnh, phách nhẹ lặp lại đều đặn; mỗi nhịp được ngăn bằng một vạch nhịp, gọi là ô nhịp.
    • Số chỉ nhịp ghi ở đầu bài: số trên là số phách trong một ô nhịp, số dưới cho biết hình nốt bằng một phách (số 4 là nốt đen).
    • Nhịp 2/4: mỗi ô nhịp có 2 phách (mạnh – nhẹ), hợp với bài hát hành khúc, vui tươi.
    • Nhịp 3/4: mỗi ô nhịp có 3 phách (mạnh – nhẹ – nhẹ), nhịp đều như điệu valse.
    • Nhịp 4/4: mỗi ô nhịp có 4 phách (mạnh – nhẹ – vừa – nhẹ).

    Gợi ý hoạt động

    • Vỗ tay theo nhịp: phách mạnh vỗ to, phách nhẹ vỗ khẽ; hát một bài quen thuộc và đoán bài đó nhịp gì.
  2. 2Cách đánh nhịp 2/4, 3/4, 4/4

    Tham khảo thêm

    Cách đánh nhịp bằng tay phải

    • Nhịp 2/4: phách 1 đưa tay xuống, phách 2 đưa tay lên.
    • Nhịp 3/4: phách 1 xuống, phách 2 sang phải, phách 3 lên.
    • Nhịp 4/4: phách 1 xuống, phách 2 sang trái, phách 3 sang phải, phách 4 lên.

    Lưu ý

    • Phách 1 luôn đánh xuống, rõ và dứt khoát; tay mềm mại, không vung quá rộng.
    • Trước khi hát, đánh một ô nhịp “dự bị” để cả Đoàn bắt vào cùng lúc.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi em tập đánh nhịp cho cả Đội, Chúng hát một bài ngắn.
  3. 3Dấu chấm đôi – dấu lặng

    Tham khảo thêm

    Dấu chấm dôi

    • Dấu chấm đặt bên phải nốt nhạc, làm tăng thêm một nửa giá trị của nốt đó.
    • Ví dụ: nốt trắng (2 phách) có chấm dôi = 3 phách; nốt đen (1 phách) có chấm dôi = 1 phách rưỡi.

    Dấu lặng

    • Dấu lặng chỉ chỗ ngưng, không hát, không đàn; mỗi dấu lặng có giá trị bằng hình nốt tương ứng.
    • Dấu lặng tròn: 4 phách. Dấu lặng trắng: 2 phách. Dấu lặng đen: 1 phách. Dấu lặng móc đơn: nửa phách.

    Gợi ý hoạt động

    • Huynh trưởng ghi một câu nhạc có chấm dôi và dấu lặng, các em vỗ tay đúng trường độ, ngưng đúng chỗ lặng.
  4. 4Hát: thuộc 7 bài Phật giáo Việt Nam, Mừng Khánh Đản, Kính mến Thầy, Anoma – Ni Liên, Kết đoàn, Vui chung gia đình, Hồn lửa thiêng

    Tham khảo thêm

    Danh sách

    • Phật giáo Việt Nam, Mừng Khánh Đản, Kính mến Thầy, Anoma – Ni Liên, Kết đoàn, Vui chung gia đình, Hồn lửa thiêng.

    Hướng dẫn

    • Dùng bản nhạc trong tập nhạc ngành Thiếu của Ban Văn nghệ.
    • Phật giáo Việt Nam và Mừng Khánh Đản hát trong các buổi lễ: hát trang nghiêm, đúng lời, đúng nhịp.
    • Áp dụng bài nhạc lý đã học: đọc tên nốt, đánh nhịp khi tập.
  5. 510 bài hát ngắn (gợi ý: Bài ca Sơ Thiện, Tứ nhiếp pháp, Mừng Vu Lan, Xuất gia, Đêm Thành Đạo, Bài ca lửa tàn, Lửa Dũng)

    Tham khảo thêm

    Gợi ý trong tập nhạc ngành Thiếu

    • Bài ca Sơ Thiện, Tứ nhiếp pháp, Mừng Vu Lan, Xuất gia, Đêm Thành Đạo, Bài ca lửa tàn, Lửa Dũng.

    Cách dùng

    • Mỗi Đội, Chúng nhận tập một bài và tập lại cho cả Đoàn.
    • Các bài Mừng Vu Lan, Xuất gia, Đêm Thành Đạo tập trước các ngày lễ tương ứng.
  6. 6Sân khấu: kể lại một chuyện tiền thân đã đọc

    Kể chuyện : Tập kể chuyện

    Hình minh họa: Kể chuyện : Tập kể chuyện
    1. Em thể hiện:

    Huynh trưởng yêu cầu 2 đoàn sinh kể lại chuyện đạo, chuyện tiền thân được nghe.

    2. Em cần biết:

    Kể chuyện cũng như đóng kịch, là làm thế nào cho người nghe có cảm tưởng như mình đang sống trong khung cảnh xảy ra câu chuyện. Giọng kể phải thay đổi theo tình tiết của câu chuyện, lúc buồn bui, lúc linh động, lúc giận hờn,…

    Muốn kể chuyện có kết quả, nghĩa là người nghe thấu suốt câu chuyện và lấy làm thích thú, em cần chú ý các điểm chính sau đây:

    • Tập kể chuyện và tập nói trước ở nhà để tránh bỡ ngỡ và rụt rè vì không quen nói trước đàm đông. Vào phòng riêng hay ra vườn vắng và kể một câu chuyện, cứ xem đồ vật trong phòng hay cây cối ngoài vườn là người quen. Chính lúc này để em tự giữ bình tĩnh cũng như sửa giọng nói, điệu bộ.
    • Khi đứng trước bạn bè hay người quen, cũng giữ cảm tưởng như đang đứng trong vườn cây, đừng sợ sệt, cố giữ bình tĩnh giọng nói và điệu bộ.
    • Khi kể chuyện phải đóng ngay từng vai ở trong chuyện. Lúc vui, lúc buồn, lúc căm hờn, lúc dịu hiền, … cốt làm cho người nghe thấy hứng thú và cảm nghĩ như đang đứng trước sự việc xảy ra.
    • Giọng kể không mau, không chậm, nhất là tránh lối kể chuyện như đọc, luôn luôn theo dõi phản ứng của người nghe.
    • Kết luận: nếu cần để cho người nghe đoán.
    • Kết thúc: nếu cần, tóm tắt nhấn mạnh những điểm chính.

    Tóm lại, muốn cho câu chuyện được như ý của người nghe, người kể phải đi từ tình tiết này đến tình tiết khác của câu chuyện, phải chuẩn bị hoàn hảo.

    3. Em trả lời:
    • Em có nhận xét gì về cách kể chuyện của mình và của các bạn?
    • Các yếu tố nào giúp em thành công trong kể chuyện?

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Sân khấu: kể lại một chuyện tiền thân đã đọc

    Bậc Sơ Thiện

    • Mỗi em tự tìm đọc một chuyện tiền thân (ngoài các chuyện đã học), kể lại trước Đội, Chúng trong 5 – 7 phút.
    • Kể có điệu bộ, giọng thay đổi theo nhân vật; cuối chuyện nêu bài học.
  7. 7Đóng kịch ngắn, vui (lửa trại)

    Em đóng kịch

    Hình minh họa: Em đóng kịch

    MÚA – KỊCH

    Tùy nghi áp dụng mang tính giáo dục.

    1. Em cần biết:

    Đóng kịch tức là diễn lại một câu chuyện đã xảy ra, hoặc một câu chuyện đạo, một chuyện tiền thân mà em đã học.

    Kịch đối với ngành Đồng như các em không lấy gì làm khó khăn, không rườm rà, miễn sao có óc nhận xét, phải bạo dạn, diễn đạt được những đặc điểm của nhân vật trong vở kịch.

    Em cần bắt chước và làm đúng y hệt như từng vai trong chuyện nhưng phải chú ý và bắt chước những điều hay, tránh điều hung dữ, xấu xa không thích hợp với tinh thần Phật tử.

    Hóa trang lúc kịch em cũng khỏi lo, vì cần gì phải sửa soạn rườm rà mất công. Điều quan trong là làm thế nào em phải chuẩn bị nhanh, có óc sáng kiến và óc sáng tạo. Chẳng hạn chiếc mũ lộn ngược, thêm vài tua bằng lá là có thể dùng làm mũ của một tên cướp, cái tăng hay cái mềm quấn quanh đầu, em đóng được vai người nhà quê, chú lọ nồi vẽ sơ sài hay chút bông gòn thấm mực dùng làm bộ râu, táu lá chuối xé sơ hay tàu lá dứa quấn quanh người dùng làm chiếc khố, …

    Khi diễn kịch trên sân khấu có tính cách quan trong hơn, và cần nhiều nghệ thuật, … thì các anh chị đã lo cho các em rồi.

    2. Em trả lời:
    • Đóng kịch là làm gì?
    • Những yêu cầu cần có khi tham gia đóng kịch?

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Đóng kịch ngắn, vui (lửa trại)

    Bậc Sơ Thiện

    • Mỗi Đội, Chúng soạn một vở kịch vui dài 3 – 5 phút cho lửa trại: ít nhân vật, ít lời, nhiều động tác.
    • Đề tài lành mạnh, vui tươi, không chế giễu người khác.
    • Tận dụng đồ có sẵn để hóa trang: khăn quàng, nón, áo, giấy bìa.
  8. 8Múa những điệu múa đơn giản

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Chọn các bài múa minh họa cho bài hát sinh hoạt ngắn của ngành Thiếu, động tác đơn giản, lặp lại.
    • Tập theo nhóm: Huynh trưởng làm mẫu từng câu, ghép thành cả bài.
    • Động tác trang nhã, phù hợp với tinh thần GĐPT; tập đều tay, đều bước.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng tập một bài múa ngắn để trình diễn trong lửa trại.
  9. 9Hội họa: trình bày 1 tờ báo Đội, Chúng

    Tham khảo thêm

    Trang trí đầu báo tường

    Hướng dẫn

    • Đầu báo gồm: tên tờ báo, tên Đội, Chúng, số báo, chủ đề (Phật Đản, Vu Lan, Chu niên…).
    • Kẻ tên báo bằng chữ nét đều, to, rõ; thêm hình trang trí phù hợp chủ đề: hoa sen, cờ Phật giáo, lều trại.
    • Màu sắc hài hòa, không quá nhiều màu.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng làm đầu báo cho tờ báo tường của mình trong dịp lễ gần nhất.

    Tham khảo thêm

    Hội họa: trình bày một tờ báo Đội, Chúng

    Trình bày tờ báo

    • Khổ giấy lớn (A1 hoặc A0); đầu báo ở trên cùng.
    • Chia bài theo cột, mỗi bài có tựa; xen kẽ bài viết với tranh vẽ, ảnh.
    • Các mục gợi ý: lời mở đầu, bài Phật pháp ngắn, chuyện tiền thân, thơ, tranh, góc vui, tin sinh hoạt Đội, Chúng.
    • Chữ viết rõ ràng, chừa lề, không dán chồng lên nhau.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi báo tường giữa các Đội, Chúng nhân dịp Phật Đản hoặc Chu niên.
  10. 10Vẽ tranh chuyện đạo hay chuyện tiền thân

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Huynh trưởng kể lại một chuyện đạo hoặc chuyện tiền thân.
    • Các em chọn đoạn mình thích nhất và vẽ lại; có thể vẽ thành 3 – 4 khung nối tiếp như truyện tranh.
    • Mỗi em kể lại câu chuyện qua tranh của mình.

    Gợi ý hoạt động

    • Ghép tranh của cả Đàn thành một “quyển truyện tranh” của Đàn.
  11. 11Thi văn: tường thuật một buổi trại, một buổi du ngoạn

    Viết tường thuật

    Hình minh họa: Viết tường thuật
    I. CHUẨN BỊ:

    Chọn 1 bài tường thuật hay, ngắn gòn viết về 1 buổi lễ, 1 ngày trại gần nhất có các em tham gia để đọc cho các em nghe.

    II. GIỜ HỌC:
    1. Em nghe:

    Cho các em nghe bài tường thuật đã chọn, đề nghị 1 em thuật lại 1 buổi sinh hoạt mà em thích nhất.

    2. Em suy nghĩ:
    • Tường thuật là làm gì?
    • Bài tường thuật có thể thực hiện ở dạng thể nào?
    • Vì sao cần viết thành bài tường thuật?
    3. Em cần nhớ:

    Viết tường thuật giúp em lưu lại những suy nghĩ, cảm xúc cá nhân về các buổi sinh hoạt, chu niên, thi vượt bậc, công tác từ thiện xã hội, diễn đạt tâm tư, tình cảm đối với đạo pháp, tổ chức GĐPT, chùa tháp, quê hương…

    Những bài hay được tập hợp lại làm báo đoàn, báo gia đình.

    Quen viết tường thuật, em sẽ dễ dàng diễn đạt ý kiến, tư tưởng, tình cảm… của mình, lưu giữ được các bài viết hay giúp bạn bè, người thân hiểu thêm về em, về tổ chức em đang sinh hoạt.

    Bài viết có thể được thực hiện ở nhiều dạng thể khác nhau: văn, thơ, …

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thi văn: tường thuật một buổi trại, một buổi du ngoạn

    Bậc Sơ Thiện

    • Bài tường thuật có 3 phần: mở đầu (thời gian, địa điểm, ai tham dự), diễn tiến (các hoạt động theo thứ tự), kết thúc (cảm nghĩ, bài học).
    • Viết khoảng 1 trang, kèm vài tấm hình hoặc tranh vẽ.
  12. 12Nhiếp ảnh: tập chụp phong cảnh

    Tham khảo thêm

    Nhiếp ảnh: biết sử dụng máy ảnh

    Em cần biết

    • Các bộ phận chính: ống kính, nút chụp, màn hình hoặc kính ngắm, đèn flash, thẻ nhớ, pin.
    • Điện thoại cũng là một máy ảnh: tập chụp bằng điện thoại của gia đình khi được phép.

    Cách chụp cơ bản

    • Cầm máy chắc bằng hai tay, khuỷu tay sát người cho khỏi rung.
    • Lau sạch ống kính trước khi chụp.
    • Đứng thuận chiều sáng (mặt trời sau lưng người chụp), không chụp ngược sáng.
    • Đặt chủ thể vào khung hình, chạm màn hình hoặc nhấn nửa nút để lấy nét, rồi chụp.

    Lưu ý

    • Không chụp trong chánh điện khi đang hành lễ nếu chưa được phép; xin phép trước khi chụp hình người khác.

    Tham khảo thêm

    Nhiếp ảnh: tập chụp phong cảnh

    Chụp phong cảnh

    • Chia khung hình làm ba phần theo chiều ngang và chiều dọc; đặt đường chân trời ở 1/3 trên hoặc 1/3 dưới, không đặt chính giữa.
    • Chọn một điểm nhấn: mái chùa, cây cổ thụ, cột cờ.
    • Chụp vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh sáng dịu, màu đẹp.
    • Giữ máy thẳng, đường chân trời không bị nghiêng.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi em chụp 3 tấm phong cảnh chùa hoặc nơi cắm trại, cả Đội chọn tấm đẹp nhất để triển lãm.

Hoạt động thanh niên12 bài

  1. 1Gút: giữa, kẻ chài, sơn ca, trục gỗ, riết, ghế đơn, ghế kép, ngạnh trê

    Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    1. Chuẩn bị:

    Dây làm gút (2 loại lớn, nhỏ).

    2. Giờ học:
    a. Khái niệm:

    Đó là cách thắt buộc dây, sử dụng dây cho nhu cầu trong đời sống.

    Thắt buộc có phương pháp nhanh chóng, chắc chắn, ít tốn dây, dễ tháo gỡ,..

    b.Ích lợi:
    • Rèn tính tháo vát, nhanh nhẹn
    • Biết chọn dây và giữ gìn dây
    • Ứng dụng tạo tiện nghi trong đời sống
    c. Các gút cần biết:
    • Gút sơn ca: thuộc loại gút treo, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút quai chèo: dùng buộc chặc dây vào cọc, neo thuyền, buộc dây cái lều vào đầu gậy, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút thợ dệt: dùng nối chỉ hay nối 2 đầu dây không bằng nhau.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút kẻ chài: thuộc nhóm gút nối, để nối chỉ, nối các loại dây trơn, dây ngâm trong nước.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    I. GÚT GHẾ ĐƠN

    1. Công dụng:

    Loại gút cấp cứu dùng đưa người lên hoặc xuống một bức tường cao, giếng sâu, nhưng không có một nấc thang nào để leo.

    2. Cách làm:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cũng không thể cắt bỏ hay tháo.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    II. GÚT CẲNG CHÓ

    1. Công dụng:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cứng không thể cắt bỏ hay tháo.

    2. Cách làm:
    • Cách thứ nhất:

    Khóa gút cẳng chó

    Khóa con sẽ.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    • Cách thứ hai:

    Khóa buộc vấn.

    Khóa quai chèo sơn ca.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    III. GÚT GHẾ KÉP

    1. Công dụng:

    Như công dụng gút ghế đơn nhưng có hai vòng dây chạy hay không chạy.

    2. Cách làm:

    Ghế kép không chạy.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    3. Cách sử dụng:

    Vòng lớn làm vòng ngoài vòng nhỏ tựa qua lưng làm vòng tựa qua nách, khi đưa xuống hay kéo lên phải từ từ.

    Có một gốc cây hay trụ làm vòng hãm để khỏi tuột tay rất nguy hiểm.

    Ghế kép chạy có thể nới hay thâu lại vòng dây tùy theo cỡ người

    IV. GÚT THÂU DÂY

    A. Nút xúc xích đơn

    1. Công dụng:

    Ngoài việc thâu ngắn dây còn dùng trang trí vành nón, dây còi, đẹp mà dễ tháo.

    2. Cách làm:

    Thoạt đầu làm gút thong lọng, sau đó đưa vòng khoen vào vòng trước tạo nên vòng sau, cứ thế cho đến cuối dây mới kéo qua hẳn vòng.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    B. Nút xúc xích kép:

    Cách làm (như hình vẽ, làm như xúc xích đơn nhưng vòng khoen dưa vào lần lượt bên dây này đến bên dây kia)

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    C. Nút Garrot

    1. Công dụng:

    Dùng căng dây bị chùng, buộc chắc phía trên vết thương để cầm máu hoặc ngăn không cho chất độc về tim.

    2. Cách làm:

    Dùng 1 que cứng xoắn dây nhiều vòng cho đến khi căng thì nẹp lại.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút cẳng ngỗng:

    1. Công dụng:

    Dùng cườm vành cổ, quấn đầu sợi dây lớn hơn hoặc để làm tăng thêm sự chắc chắn của một gút khác.

    2. Cách làm:
    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút ghế anh:

    1. Công dụng:

    Như gút ghế kép hoặc ghế đơn nhưng dùng cứu người trong đám cháy hay dưới giếng lên.

    2. Cách làm:
    • Bắt đầu bằng thòng lọng.
    • Rồi bằng hoa hồng, khóa bằng sơn ca.
    3. Cách sử dụng:

    Phần gút thòng lộng hay gút hoa hồng, ở giữa dùng để gối đầu nạn nhân. Hai vòng hai bên luồn vào hai tay sát nách.

    Gút ngạnh trê:

    1. Công dụng:

    Dùng nối lạt hay mây.

    2. Cách làm:

    Ngạnh trê đơn

    Ngạnh trê kép.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Gút: giữa, kẻ chài, sơn ca, trục gỗ, riết, ghế đơn, ghế kép, ngạnh trê

    Gút trục gỗ

    Dùng để kéo một khúc gỗ, cây tre, hoặc buộc dây vào vật tròn.

    • Vòng đầu dây quanh khúc gỗ.
    • Quấn đầu dây một vòng quanh phần dây chính.
    • Quấn tiếp đầu dây vào chính nó 3 – 4 vòng; kéo phần dây chính cho gút siết chặt.
    • Khi thôi kéo, gút tháo ra dễ dàng.

    Lưu ý

    • Gút sơn ca, kẻ chài có trong bài bậc Cánh Mềm; ghế đơn, ghế kép trong bài bậc Chân Cứng; ngạnh trê trong bài bậc Tung Bay (ở trên).
    • Gút giữa và gút riết: anh chị trưởng hướng dẫn theo tài liệu Hoạt động thanh niên của Ban Hướng Dẫn.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi thắt đủ 8 gút theo thứ tự, tính thời gian; ứng dụng gút trục gỗ để kéo một khúc cây trong trò chơi lớn.
  2. 2Tham quan: ghi chú về lịch sử, kiến trúc một ngôi chùa

    Khái niệm kiến trúc Phật giáo

    Hình minh họa: Khái niệm kiến trúc Phật giáo

    Đai cương:

    1. Địa thế Viêt Nam:

    Nước Việt Nam nằm ở ngã ba giao lưu giữa ba nền văn minh Âu, Ân, Trung Hoa.

    2. Tư tưởng dân tộc Viêt Nam:

    Thâm nhuần hai nền tư tưởng mạnh nhất Châu Á, đó là học thuật Khổng Tử và triết lý Phật giáo.

    3. Nền kiến trúc Phật giáo:

    Nền kiến trúc Phật giáo có từ đầu kỷ nguyên Tây lịch cùng với thời kỳ đầu tiên đạo Phật du nhập vào Việt Nam.

    4. Đặc tính kiên trúc Phật giáo Việt Nam:

    Chịu ảnh hưởng mạnh của nền kiến trúc Phật giáo Trung Hoa và Ấn Độ, hòa hợp với lối kiến trúc dân tộc gọi là “Nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam”.

    Kiến trúc phật giáo việt nam:

    1. Hệ tư tưởng căn bản của kiến trúc Phật giáo Viêt Nam:
    a. Tư tưởng Sắc và Không:

    Là hệ tư tưởng căn bản để thiết kế các ngôi chùa, tháp, tượng, cảnh trí phối hợp tạo được cái tinh thần KHÔNG man mác bao trùm không gian và thời gian như cảnh chùa Non Nước (Quảng Nam).

    b. Tư tưởng Thiền:

    Phôi cảnh tạo sự thanh tịnh, thuần khiết, nhiều khi vắng lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu,“nước chảy làm con người lắng xuống thanh thản như chùa Chúc Thánh (Quảng Nam), Thiên Mụ (Huế).

    2. Giá trị cấu trúc Phật giáo:

    Tìm hiểu ba phương diện chính về giá trị cấu trúc Phật giáo: lịch sử, tinh thần, vật chất.

    a. Chùa:
    Lịch sử cấu trúc các kiểu chùa qua các thời đại:
    * Hình dáng:
    • Chữ Đinh đối với các chùa nhỏ (T).
    • Chữ Công đối với các chùa vừa (I)
    • Chữ Tam ()
    • Chùa lớn theo kiểu nội công ngoại quốc còn gọi là Tòng Lâm.
    * Nội điện:
    Bên trong thường chia làm ba phần:
    • Án tiền: nơi tín đồ lễ bái.
    • Tam Bảo: nơi thờ Phật.
    • Hậu điện: còn gọi là nhà Tổ, nơi thờ các vị Tổ hay Tăng Ni khai sáng chùa.

    * Ngoài ra còn có những cảnh chùa có cấu trúc đặc biệt, không theo những bố cục thông thường như chùa Diên Hựu xây dựng để làm khởi nguyên.

    • Chùa Phật Tích: có dấu tích Phật ở Tiên Sơn.
    • Chùa Diên Hựu: Vua Lý Thái Tông nằm mộng, thấy Phật Quan Thế Âm ngồi tòa sen.

    * Về lịch sử: mỗi ngôi chùa thường căn cứ vào hoàn cảnh. Tên chùa thường được đặt theo địa dư, Tông phái, mục đích xây dựng chùa, các danh xưng trong kinh điển, các Thánh Tăng.

    Cấu trúc và giá tri các ngôi chùa:
    • Các kiểu chùa xưa, thường kiến trúc bằng danh mộc, mái lợp ngói cổ, tường gạch xây bằng vôi cát, vách tô vôi cát, trên một nền cao, thường xây chu vi nền bằng đá.
    • Các cấu trúc gỗ như cột chùa thường được kê trên một viên đá tảng, chân cột chạm một hình hoa sen. Các gốc mái chùa có hình con dao bằng sành, cột, kèo, xà bào nhẵn, rui mè đều có mộng, sườn nhà thường là các tác phẩm điêu khắc hay hoa văn.
    • Mái chùa đôi khi có kèo đôi, mái cong kiểu “lầu dao lá mái”, kiểu này còn gọi là chân lầu. Chân lầu giữ cho mái cong được vững, bền theo thời gian.
    • Mái ngói chùa Việt Nam làm theo kiến trúc kẻ chuyền bảy góc, nên không xòe ra quá rộng như mái chùa Nhật, Trung Hoa. Dốc mái bằng phẳng.
    • Các kiến trúc chùa hiện đại thường xây lầu (trùng lâu) phía trên là điện thờ, dưới thường là giảng đường. Các kiến trúc mái và hoa văn bằng ciment, thường mô phỏng theo các kiến trúc gỗ ở các chùa cổ.
    • Các kiểu mái, các điêu khắc trên sườn nhà, các hoa văn, long, lân, quy, phụng… nói lên giá trị văn hóa, văn minh của dân tộc ở thời đại xây dựng chùa. Như vậy mỗi ngôi chùa cổ đều mang lịch sử văn minh dân tộc và tôn giáo cũng như tư tưởng thời đại.
    b. Tháp:
    Các cấu trúc sau đây đều được coi là Tháp:

    * Tam quan: Trước chùa là Tam quan có khi là cấp Tam quan, Tháp chuông, Bảo tháp trúc chính, có khi chỉ là phụ. Tam quan có thể có gác chuông, trống, điện thờ ông Tiêu Diện, Hộ Pháp.

    Kiến trúc thông thường có 4 cột chính. Tam quan nghĩa là: Không quan, Giả quan và Không Giả quan tức là hư vô.

    * Tháp chuông: Là bộ phận quan trọng của kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Bảo tháp bắt nguồn từ Ấn Độ. Thoạt đầu là các trụ đá để kỷ niệm các Phật tích với các bia ký, ghi lại lịch sử Phật giáo.

    Sau biến đổi thành một kiến trúc gọi là các tòa Phù Đồ (stupa) do đó có một sắc thái đặc biệt. Hay các Bảo tháp (Pagoda).

    Bảo tháp Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của kiến trúc tháp Chàm, do đó có sắc thái đặc biệt, ngoạn mục và hùng vĩ.

    Kết luận:

    Các kiến trúc Phật giáo Việt Nam nói lên được:
    • Tinh thần Phật giáo.
    • Tinh thần dân tộc.

    Kiến trúc Phật giáo là cơ sở của nền văn minh dân tộc Việt Nam, là thước đo tinh thần tự chủ của dân tộc, cũng như sự hòa hợp thích nghi giữa Đạo và Đời.

    Câu hỏi:

    • Kiến trúc Phật giáo dựa vào hệ tư tưởng căn bản nào của Phật giáo?
    • Nội điện của chùa thường chia làm mấy phần?
    • Các kiến trúc của Phật giáo Việt Nam nói lên tinh thần gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Tham quan: ghi chú lịch sử, kiến trúc một ngôi chùa

    Phiếu ghi chú khi tham quan

    • Tên chùa, địa chỉ, năm xây dựng, vị Tổ khai sơn, các đời trụ trì.
    • Kiểu kiến trúc: bố cục mặt bằng (cổng tam quan, chánh điện, nhà Tổ, tháp…), mái, cột, vật liệu.
    • Các tượng thờ chính, hoành phi, câu đối, chuông cổ đáng chú ý.
    • Những sự kiện lịch sử gắn với ngôi chùa.
    • Cảm nghĩ của em.

    Gợi ý hoạt động

    • Xin phép quý Thầy trụ trì, tổ chức một buổi tham quan; các Đội, Chúng hỏi chuyện, chụp hình, vẽ sơ đồ, sau đó viết thành bài báo tường.
  3. 3Thông tin: Morse bằng cờ và khăn tay

    Truyền tin : Bảng Morse

    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse
    • Tất cả bảng Morse. – Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    • Tất cả bảng Morse.
    • Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thông tin: Morse bằng cờ và khăn tay

    Cách truyền

    • Dùng một lá cờ (hoặc khăn tay) cầm ở tay phải, giơ thẳng lên giữa đầu làm tư thế chuẩn bị.
    • Quy ước thường dùng: phất cờ sang phải là “tích”, phất sang trái là “te”, trở về giữa sau mỗi ký hiệu; hết một chữ thì phất cờ xuống trước mặt.
    • Anh chị trưởng thống nhất quy ước của đơn vị theo tài liệu Hoạt động thanh niên trước khi tập.

    Gợi ý hoạt động

    • Hai Đội đứng hai đầu sân, truyền và nhận một câu ngắn bằng cờ; Đội nào chép đúng, nhanh hơn được điểm.
  4. 4Dấu đi đường: biết thực hiện bằng dấu đi đường

    Dấu đi đường

    Hình minh họa: Dấu đi đường

    Học ôn các dấu, đánh dấu bằng phấn, cây, đá.

    I. Phần lý thuyết:

    Dấu đi đường hay dấu lối đi là cách làm dấu bằng ký hiệu, theo đó người ta tìm đường đi, hướng dẫn lối để đi.

    1. Sự lợi ích:
    • Phát triển sự chú ý, gợi lên khiếu xét đoán, óc quan sát.
    • Làm sống dậy trí tò mò, óc xét đoán, biết suy nghĩ, lý luận để khỏi lầm lạc khi quan sát dấu lối đi.
    2. Cách đánh dấu:
    • Khi làm dấu có thể dùng: phấn, gạch, than, viết nét to, vẽ lên các vật cố định như: vách tường, thân cây vững chắc, nền nhà, bờ rào, sân … nói chung trên các vật không di chuyển.
    • Dùng các cách tự nhiên: lấy cây cỏ hay gạch đá xếp thành dấu.
    • Điều cần lưu ý khi đánh dấu: dấu phải đánh về phía bên mặt và đừng làm cao quá tầm mắt để cho dễ quan sát.
    • Dấu đánh thưa hay dày tùy theo khoảng đường cong hay thẳng, dài hay ngắn và tùy theo các bậc học của người tìm dấu.
    3. Cách tìm dấu:
    • Người tìm dấu phải quan sát kỹ lưỡng, nếu đến đoạn hết dấu, nghi ngờ bị lạc, phải chạy trở lại quan sát tỉ mỉ lại.
    • Khi tìm dấu không nên đoán mò để chạy trước mà phải ghi lại các dấu thật tỉ mỉ và những gì khả nghi trên đường vào sổ tay.
    II. Phần thực hành:

    Ôn lại tất cả các dấu của ba bậc học dưới. (theo trang 66, 67, 68, 69, 70, 71 sách HĐTN -Tâm Huy).

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Dấu đi đường

    Bậc Sơ Thiện

    • Thực hiện các dấu đi đường bằng nhiều cách: phấn, cây, đá, cỏ, dây buộc; tự đánh dấu một lộ trình dài cho Đội bạn đi theo.
  5. 5Cấp cứu: băng bó vết thương cùi tay, ngón tay, bàn tay, ngón chân, bàn chân; cách khiêng người bị thương, làm cáng bằng mền, áo, dây

    Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:

    Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.

    2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):

    Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.

    3. Cách dùng thuốc đỏ:

    Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …

    Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.

    4. Băng bàn tay bằng khăn tay:

    Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.

    5. Băng bàn chân bằng khăn tay:

    Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    6. Băng đầu:

    Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: băng bó, khiêng người bị thương, làm cáng

    Khiêng người bị thương

    • Ghế tay 2 người: hai em nắm cổ tay nhau thành chỗ ngồi; người bị thương ngồi lên, quàng tay qua vai hai người khiêng.
    • Chỉ di chuyển người bị thương khi cần thiết; nghi gãy xương cột sống, cổ thì không tự di chuyển, gọi ngay cấp cứu 115.

    Làm cáng

    • Cáng bằng mền: đặt hai cây sào dài song song, trải mền, gấp mền chồng qua lại hai cây sào nhiều lớp; sức nặng của người nằm giữ mền không tuột.
    • Cáng bằng áo: lấy 2 – 3 áo khoác, cài nút, lộn tay áo vào trong, luồn hai cây sào qua hai tay áo.
    • Cáng bằng dây: buộc dây qua lại giữa hai cây sào thành mặt lưới.
    • Thử cáng với người khỏe trước khi dùng.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội làm một cáng và khiêng “người bị thương” qua một đoạn đường ngắn.
  6. 6Trại: tìm chỗ và dựng lều, nhóm lửa, tự làm bếp ở trại

    Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.

    A. lều trại:

    1. Chuẩn bị:
    • Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
    • 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
    • 1 dây nóc.
    • Búa, cuốc.
    2. Thực hiên:
    a. Chọn vị trí và hướng trại:

    Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.

    Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).

    b. Dựng trại:
    • 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
    • Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
    • 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.

    Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.

    Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    B. xây tổ đàn:

    Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.

    Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.

    Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.

    Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…

    1. Chuẩn bị:
    • Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
    • Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
    • Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
    • 1 tấm tăng lót trải.
    2. Thực hiện:

    Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.

    Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.

    Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn
    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Lều trại: lều 2 mái

    Chuẩn bị

    • Một tấm bạt chữ nhật, 2 cây cọc đứng, 1 sợi dây nóc (hoặc 1 cây đòn nóc), 6 – 8 cọc nhỏ, dây giăng.

    Cách dựng

    • Chọn chỗ đất cao, bằng phẳng, không có kiến, không dưới cây có cành khô.
    • Trải bạt, xác định đường nóc ở giữa.
    • Dựng hai cọc đứng ở hai đầu, căng dây nóc qua hai đầu cọc, néo dây ra hai đầu và đóng cọc giữ.
    • Phủ bạt lên dây nóc, kéo hai mái xuống đều nhau; đóng cọc ở các góc và giữa hai cạnh bạt.
    • Chỉnh dây cho hai mái căng đều, không nhăn.

    Lưu ý

    • Đào rãnh nhỏ quanh lều để thoát nước khi mưa.
    • Khi nhổ trại, gỡ cọc, gấp bạt gọn, trả lại mặt đất sạch sẽ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đàn tự dựng một lều 2 mái; Huynh trưởng chấm điểm theo độ căng đều, chắc chắn và thời gian.

    Tham khảo thêm

    Trại: chọn chỗ dựng lều, nhóm lửa, tự làm bếp

    Chọn chỗ dựng lều

    • Đất cao ráo, bằng phẳng, dễ thoát nước; gần nguồn nước sạch nhưng không sát mép sông suối.
    • Tránh dưới cây có cành khô, gần tổ kiến, tổ ong; cửa lều không hướng thẳng vào gió.

    Nhóm lửa

    • Chọn chỗ đất trống, dọn sạch lá khô xung quanh; có sẵn xô nước hoặc cát.
    • Chuẩn bị ba loại: mồi (giấy, lá khô), củi nhỏ, củi lớn.
    • Xếp củi nhỏ hình chóp nón hoặc hình giếng quanh mồi, chừa chỗ cho gió vào; châm mồi ở phía đầu gió, thêm dần củi lớn.
    • Dập tắt hoàn toàn bằng nước hoặc đất khi không dùng nữa.

    Làm bếp

    • Bếp ba ông táo bằng ba viên đá hoặc gạch; bếp rãnh (đào rãnh nhỏ theo hướng gió, đặt nồi lên hai bên mép).

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội tự làm bếp và nấu nước pha trà trong buổi trại.
  7. 7Thể dục, thể thao: bơi tự do 20 mét, đi xe đạp 10 cây số, biết chèo đò

    Tham khảo thêm

    Nội dung

    • Bơi tự do 20 mét.
    • Đi xe đạp 10 cây số: kiểm tra phanh, lốp, xích trước khi đi; đi đúng phần đường, thành hàng một.
    • Biết chèo đò: ngồi giữa thuyền, chèo đều tay hai bên hoặc một mái chèo bên lái.

    An toàn

    • Bơi và chèo đò chỉ ở nơi an toàn, có người lớn biết bơi và có áo phao.
    • Không tổ chức bơi, chèo đò khi trời mưa giông, nước chảy xiết.
  8. 8Phương hướng: tìm phương hướng bằng địa bàn, mặt trời và mặt trăng

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: 8 phương của la bàn

    Em cần biết

    • 4 phương chính: Bắc, Đông, Nam, Tây (theo chiều kim đồng hồ).
    • 4 phương phụ nằm giữa các phương chính: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc.
    • Kim la bàn luôn chỉ về hướng Bắc. Đứng quay mặt về Bắc: tay phải là Đông, tay trái là Tây, sau lưng là Nam.

    Cách dùng la bàn

    • Đặt la bàn nằm ngang trên lòng bàn tay, tránh xa vật bằng sắt, điện thoại.
    • Xoay vỏ la bàn cho chữ N (Bắc) trùng với đầu kim chỉ Bắc; đọc các hướng còn lại.

    Gợi ý hoạt động

    • Đặt 8 bảng tên phương quanh sân; Huynh trưởng hô một phương, các em chạy về đúng hướng.

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: địa bàn, mặt trời, mặt trăng

    Bằng mặt trời

    • Mặt trời mọc ở hướng Đông, lặn ở hướng Tây.
    • Buổi sáng, đứng giơ tay phải về phía mặt trời: trước mặt là Bắc, sau lưng là Nam, tay trái là Tây.

    Bằng mặt trăng

    • Mặt trăng cũng mọc phía Đông, lặn phía Tây.
    • Đầu tháng âm lịch, trăng non thấy ở phía Tây lúc chiều tối; giữa tháng, trăng tròn mọc phía Đông khi mặt trời vừa lặn.

    Gợi ý hoạt động

    • Trò chơi lớn: các Đội tìm đến trạm theo mật lệnh “đi về hướng Đông Bắc 50 bước” bằng địa bàn.
  9. 9Vạn vật: 10 thứ cây làm thuốc ngoại khoa

    Tham khảo thêm

    Gợi ý theo kinh nghiệm dân gian

    • Cỏ mực (nhọ nồi): giã đắp giúp cầm máu vết trầy nhỏ.
    • Lá trầu không: rửa vết thương nhỏ, sát khuẩn.
    • Nghệ: giúp vết thương mau lành da.
    • Nha đam (lô hội): làm dịu vết bỏng nhẹ.
    • Ngải cứu: chườm nóng chỗ bầm, bong gân nhẹ.
    • Rau sam: đắp chỗ côn trùng cắn sưng đỏ.
    • Lá lốt: ngâm, xoa chỗ đau nhức.
    • Gừng: xoa ấm khi bị lạnh.
    • Sả: xua muỗi, côn trùng.
    • Lá ổi non: rửa vết loét nhỏ.

    Lưu ý

    • Chỉ dùng ngoài da cho vết thương nhẹ, rửa lá thật sạch; vết thương sâu, nhiễm trùng, bỏng nặng phải đưa đến cơ sở y tế.

    Gợi ý hoạt động

    • Sưu tầm, ép khô lá các cây trên, ghi tên và công dụng thành bộ sưu tập của Đội, Chúng.
  10. 10Thiên văn: đoán thời tiết bằng 3 cách thông thường

    Tham khảo thêm

    Quan sát loài vật

    • “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.”
    • “Kiến đen tha trứng lên cao, thế nào cũng có mưa rào rất to.”

    Quan sát mây, ráng

    • “Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ”: ráng vàng như mỡ gà báo trước gió lớn, bão.
    • Mây đen kéo đến dày, thấp, gió đổi hướng mạnh: sắp có mưa giông.

    Quan sát mặt trăng

    • “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.”

    Gợi ý hoạt động

    • Trong mỗi kỳ trại, một Đội giữ nhiệm vụ “dự báo thời tiết” mỗi sáng và đối chiếu với thời tiết thật cuối ngày.
  11. 11Lịch sử: những điểm chính trong lịch sử vẻ vang (gợi ý: khởi nghĩa Hai Bà Trưng; Lý Thường Kiệt đánh Ung Châu, Khâm Châu; bắt sống tướng Ô Mã Nhi; thắng quân Thanh khiến Sầm Nghi Đống tự vẫn)

    Tham khảo thêm

    1. Hai Bà Trưng khởi nghĩa (năm 40)

    Trưng Trắc, Trưng Nhị khởi binh ở Mê Linh chống ách đô hộ nhà Hán, đánh đuổi thái thú Tô Định, lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh.

    2. Lý Thường Kiệt phá Tống (1075 – 1077)

    Để phá thế chuẩn bị xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ động đem quân đánh vào các châu Khâm, Liêm, Ung, phá kho tàng, rồi rút về. Khi quân Tống sang đánh, ông lập phòng tuyến sông Như Nguyệt; tương truyền bài thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên làm quân ta thêm nức lòng. Kết hợp đánh và đàm, quân Tống phải rút về.

    3. Bắt sống tướng Ô Mã Nhi (1288)

    Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Hưng Đạo Đại Vương dùng trận địa cọc trên sông Bạch Đằng, đánh tan thủy quân giặc, bắt sống tướng Ô Mã Nhi.

    4. Đại phá quân Thanh (1789)

    Vua Quang Trung tiến quân thần tốc, đánh đồn Ngọc Hồi, Đống Đa; tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống thua trận, thắt cổ tự vẫn.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng nhận một sự kiện, tìm thêm tư liệu và trình bày trước Đoàn bằng tranh vẽ hoặc hoạt cảnh.
  12. 12Hiểu biết tổ chức: hệ thống tổ chức 1 đơn vị GĐPT

    Tham khảo thêm

    Hệ thống tổ chức một Gia đình Phật tử

    • Cố vấn Giáo hạnh: vị Tăng, Ni hướng dẫn tinh thần, đạo hạnh cho Gia đình.
    • Gia trưởng: phụ huynh được mời làm đại diện, hỗ trợ Gia đình.
    • Ban Huynh trưởng: Liên đoàn trưởng, Liên đoàn phó (nam, nữ), Thư ký, Thủ quỹ và các Đoàn trưởng; điều hành mọi sinh hoạt của Gia đình.
    • Các ngành: Oanh Vũ (ngành Đồng), Thiếu, Thanh; mỗi ngành chia Nam, Nữ.
    • Mỗi Đoàn có Đoàn trưởng, Đoàn phó; Đoàn chia thành các Đội (Thiếu nam), Chúng (Thiếu nữ), Đàn (Oanh Vũ).

    Lưu ý

    • Chi tiết tổ chức theo Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Quy chế Huynh trưởng hiện hành.

    Gợi ý hoạt động

    • Các em vẽ sơ đồ tổ chức của chính Gia đình mình, ghi tên các anh chị trong Ban Huynh trưởng.

Hoạt động xã hội5 bài

  1. 1Vệ sinh môi trường: tham gia vệ sinh khu phố, thôn, xóm

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Phối hợp với ban điều hành khu phố, thôn, xóm để chọn ngày, chọn khu vực.
    • Chuẩn bị: găng tay, kẹp gắp rác, bao đựng rác phân loại, chổi, khẩu trang.
    • Chia Đội, Chúng theo từng đoạn đường; không nhặt vật sắc nhọn bằng tay không.
    • Thu gom rác đúng nơi quy định; sau buổi làm, rửa tay sạch.

    Gợi ý hoạt động

    • Kết hợp treo biển “Giữ gìn đường phố sạch đẹp” do các em tự kẻ vẽ.
  2. 2Y tế: giúp đỡ các phái đoàn khám bệnh từ thiện tại khu vực sinh hoạt

    Tham khảo thêm

    Những việc các em có thể làm

    • Hướng dẫn bà con xếp hàng, phát số thứ tự, ghi tên.
    • Dìu người già, người khuyết tật; mời nước, quạt mát cho người chờ khám.
    • Giữ trật tự, vệ sinh khu vực khám bệnh.
    • Không tự ý phát thuốc; chỉ làm việc được nhân viên y tế phân công.

    Gợi ý hoạt động

    • Trước buổi khám, Huynh trưởng phân công cụ thể cho từng Đội, Chúng và tập dượt cách chào hỏi, hướng dẫn bà con.
  3. 3Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Bậc Sơ Thiện

    • Biển báo gồm 5 nhóm: biển báo cấm (hình tròn viền đỏ), biển báo nguy hiểm (hình tam giác viền đỏ, nền vàng), biển hiệu lệnh (hình tròn nền xanh), biển chỉ dẫn (hình vuông hoặc chữ nhật nền xanh) và biển phụ.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi nhận biết biển báo bằng thẻ hình giữa các Đội, Chúng.
  4. 4Cứu trợ: tham gia các đoàn cứu trợ của chùa

    Tham khảo thêm

    Những việc các em có thể làm

    • Phân loại, gấp xếp quần áo, sách vở quyên góp.
    • Đóng gói quà cứu trợ: gạo, mì, dầu ăn, nước uống.
    • Ghi danh sách, giúp phát quà theo hướng dẫn của quý Thầy và Ban tổ chức.
    • Thăm hỏi, động viên bà con với lời nói nhẹ nhàng, lễ phép.

    An toàn

    • Chỉ đến vùng thiên tai khi đã an toàn, đi theo đoàn và Huynh trưởng, có sự đồng ý của gia đình.
  5. 5Thường thức: mạng một chỗ rách, làm gáo múc nước, cột chổi, vá xe, đánh điện tín

    Tham khảo thêm

    Mạng một chỗ rách

    • Chọn chỉ cùng màu, luồn kim theo hàng ngang qua chỗ rách, rồi đan kim theo hàng dọc xen kẽ qua các sợi ngang như dệt vải.

    Làm gáo múc nước

    • Dùng nửa trái dừa khô đã nạo sạch cơm, đục hai lỗ đối diện gần miệng, tra cán bằng tre hoặc gỗ.
    • Ở trại có thể dùng ống tre lớn cắt chừa một mắt làm đáy, gắn thêm cán.

    Cột chổi

    • Gom bó cọng chổi (chổi đót, chổi rơm) cho đều, dùng dây cột chặt nhiều vòng ở phần cán, dùng gút cọc chèo khóa đầu dây.

    Vá xe đạp

    • Tháo ruột xe ra, bơm căng, nhúng từng đoạn vào chậu nước tìm chỗ sủi bọt (lỗ thủng), đánh dấu.
    • Chà nhám quanh lỗ thủng, bôi keo, chờ hơi khô rồi dán miếng vá, ép chặt.
    • Kiểm tra lốp ngoài xem còn đinh, gai không trước khi lắp lại.

    Đánh điện tín

    • Điện tín ngày nay hầu như không còn dùng; các em tập soạn một tin nhắn ngắn, đủ ý theo tinh thần điện tín: ai, việc gì, ở đâu, khi nào, cần gì.