Phật pháp – Kiến thức24 bài
1Quy y Tam Bảo – Ăn chay – Niệm Phật
Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

Tam bảo và quy y tam bảo
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
Văn:
Tam Bảo là ba ngôi quý báu: PHẬT, PHÁP và TĂNG
1. PHẬT: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, có 3 nghĩa:
- Tự giác: Tự mình giác ngộ.
- Giác tha: Giác ngộ cho mọi người, mọi loài.
- Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn.
Đức Phật (BUDDHA) là người tỉnh thức tuyệt đối, toàn diện. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân tướng của vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta là một bậc tỉnh thức (giác ngộ) hoàn toàn. Người chỉ đường cho tất cả chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên người tỉnh thức.
PHẬT là NGÔI BÁU THỨ NHẤT.
2. PHÁP: (DHARMA) là chân lý, là sự thật về nhân sinh, vũ trụ. Đức Phật tìm ra và Người đã chỉ dạy cho chúng ta những điều này, đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, dẫn ta đến chân trời tự do, an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát triển trong ta. Từ bi và trí tuệ là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, tất cả lời dạy của Ngài được kiết tập lại thành Kinh, những giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia gọi là Luật. Về sau, nhằm giải thích Kinh, Luật mà tạo thành Luận. Tóm lại, Pháp gồm KINH, LUẬT, LUẬN thường được gọi chung là “Tam Tạng kinh điển”.
PHÁP là NGÔI BÁU THỨ HAI.
3. TĂNG: (SANGHA) là đoàn thể những người xuất gia tu hành, thực tập đạo tỉnh thức và cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Tăng gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo 6 phép hoà kính, giữ gìn giới luật, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.
Các hàng Tăng chúng:
- Tì kheo: Hàng nam giới xuất gia giữ 250 giới.
- Tì kheo ni: Hàng nữ giới xuất gia giữ 350 giới.
TĂNG là NGÔI BÁU THỨ BA.
* QUY Y TAM BẢO là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.(Quy: trở về, Y: nương tựa)
- Trở về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời.
- Trở về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
- Trở về nương tựa Tăng, đoàn thể những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
* LỄ QUY Y:
” Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài. “
Những lời này được phát nguyện dưới sự chứng minh của vị thầy truyền giới. Vị này sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người quy y. Sau đó, người này được chính thức gọi là Phật tử.
Cần nhớ lễ quy y chỉ là hình tướng bên ngoài, chúng ta phải biết tự quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình. Phật nơi tự tâm là bản tánh sáng suốt, Pháp nơi tự tâm là bản tính từ bi, bình đẳng và Tăng nơi tự tâm là bản tánh thanh tịnh, hoà hợp. Dù đã phát nguyện quy y, người Phật tử không bao giờ cầu xin ân huệ mà chỉ tự nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để thanh lọc và thành tựu giải thoát. Phật dạy: “Con phải tinh cần nỗ lực, các Đức Như Lai chỉ là những vị thầy. “
Tư:
Biết được ý nghĩa của ba ngôi báu và quy y rồi, em phải làm sao để sống đúng theo truyền thống một Phật tử, là một người đã hướng về, nương tựa, sống theo Phật, Pháp, Tăng.
“Nhất giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai”
Lễ kính chư Phật sẽ được vô lượng công đức.
Mỗi người chúng ta đều có tính Phật hay khả năng tỉnh thức trong lòng. Vì vậy, ai cũng có thể trở thành người giác ngộ như Đức Phật. Tính Phật này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức thì chúng ta làm cho tính Phật trong ta sẽ đạt được tự do và an lạc hoàn toàn như Phật. Phật ở ngay trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta phải trở về tìm Phật ngay trong tâm ta. Đức Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.
Pháp của Đức Phật chỉ dạy cách thức TU- HÀNH, giữ giới luật để phát triển trí tuệ, hiểu biết chân lý của cuộc đời. Đức Phật dạy chúng ta phải tự cứu mình bằng cách làm theo phương pháp Phật chỉ dạy.
Muốn tu tập đạo giải thoát, ta phải nương tựa vào Tăng đoàn. Một mình đơn độc sẽ gặp nhiều khó khăn trong sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Người xuất gia cũng như người tại gia phải biết về nương tựa nơi Tăng để có thể đi xa trên con đường tu tập.
Tu:
Tin không chưa đủ, em phải tu nghĩa là tự sửa mình. Mặc dù Đức Phật nói “Chúng sanh là Phật sẽ thành” nhưng nếu không tu tập, hành trì giáo pháp thì mãi mãi, chữ “sẽ” chỉ là tương lai không vươn tới được.
Vậy sau khi Quy Y Tam Bảo, hằng ngày, ta phải năng lễ Phật, tu dưỡng bản thân để tiến tới làm người giác ngộ.
Tu dưỡng nghĩa là bồi dưỡng và chuyển đổi.
- Về tình cảm: chuyển đổi tham lam, giận hờn thành yêu thương và hoà thuận, đem vui cứu khổ.
- Về lý trí: chuyển đổi si mê, lầm lạc thành sáng suốt, hiểu biết chân chánh.
- Về ý chí: chuyển đổi hèn nhát, thụ động thành tinh tấn, hỷ xả và dũng cảm.
Làm vậy tức là em đã Quy y Tam Bảo một cách đúng đắn và tích cực. Song song với việc tu dưỡng bản thân, em phải noi gương Đức Phật và các vị Tăng, Ni, khuyến khích, giúp đỡ mọi người sống tốt, hướng thiện và hướng thượng.
Cuộc sống chỉ có thể tốt đẹp khi tập thể chúng ta tốt đẹp. Một con én không làm nên được mùa xuân nên ta phải quan tâm đến mọi người, cùng nhau tu dưỡng thì xã hội sẽ tốt đẹp vì đó là tập thể những người tốt. Từ đó, cuộc sống riêng và chung sẽ được an lành, hạnh phúc.
IV.CÂU HỎI:
- Định nghĩa ba ngôi báu?
- Thế nào gọi là Quy y Tam Bảo?
- Tại sao muốn có an lạc và hạnh phúc phải tu dưỡng bản thân và giúp đỡ mọi người cùng tu? Cho ví dụ cụ thể?
- Làm sao biết được Phật là bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
- Em hiểu thế nào là sự quy y và lý quy y?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ngũ giới
I. VĂN:
Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.
Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.
- Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
- Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
- Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
- Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
- Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.
Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.
II. TƯ:
Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:
- Thành thật với chính mình.
- Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
III. TU:
Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
- Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.
Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:
- Không giết hại mà còn phóng sanh.
- Không trộm cướp mà còn bố thí.
- Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.
Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:
- Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
- Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
- Không khởi ác niệm đối với người khác.
Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.
Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.
IV. CÂU HỎI:
- Giới là gì? Nội dung của năm giới?
- Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
- Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
- Ích lợi của năm giới?
- Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
- Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ăn Chay – Niệm Phật
A. ăn chay
I. VĂN:
1. Ý nghĩa:
Ăn chay là ăn những thức ăn tịnh lạt, chế biến bằng các loại rau, quả, củ, sữa…, tránh sự sát sanh, ăn những món không có mạng sống, không ăn 5 món tân thái(hành, hẹ, kiệu, tỏi, nén).
2. Lợi ích của việc ăn chay:
a. Thân thể được khoẻ mạnh, tránh được bệnh tật.
- Rau trái là những thức ăn nhẹ nhàng, dễ tiêu. Trái lại, thịt cá là những món khó tiêu, nặng bụng, nhiều vi khuẩn (các trường hợp ngộ độc, trúng thực thường xảy ra do các bữa tiệc, đình đám dùng nhiều thịt).
- Rau trái, hoa quả để lâu ít hư, dễ cất trữ, dễ kho nấu.
- Cá thịt thì mau ươn thối.
- Người ít ăn thịt thì ít bệnh (nông dân ăn nhiều rau trái thường khoẻ mạnh)
b. Trí được sáng suốt, tánh tình thuần hậu, phát triển được đức từ bi, dứt dần tính sát hại.
c. Cách sống giản dị, được mọi người thương yêu.
Trong Kinh Thập Thiện, Phật dạy: “Nếu xa lìa sát sanh thì thì thành tựu được mười pháp, không còn bức não” (Bức bách khổ não)
- Đối với các loài sinh vật bố thí đức “không sợ hãi”.
- Thường khởi lòng đại từ bi đối với các loài sinh vật.
- Dứt sạch tất cả chủng tử giận hờn.
- Thân thường không bệnh.
- Mạng sống lâu dài.
- Thường được mọi người hỗ trợ.
- Thường không ác mộng, giấc ngủ an vui.
- Diệt trừ oán nghiệp, oán thù tự giải.
- Không sợ sa đường dữ.
10. Khi về già, mạng chung được sinh lên cõi trời.
CÁC NGÀY CHAY GỒM CÓ: (Trai kỳ)
- Nhị trai: hai ngày mỗi tháng: rằm, mồng một (tính theo âm lịch).
- Tứ trai: bốn ngày / tháng(30, 01, 14, 15).
- Lục trai: sáu ngày / tháng(01, 08, 14, 15, 23 và 30).
- Thập trai: mười ngày / tháng(01, 08, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30).
- Nguyệt trai: một tháng liền(tháng giêng hay tháng bảy).
- Tam nguyệt trai: ba tháng(tháng giêng, tháng bảy và tháng mười).
- Trường trai: ăn chay trọn đời.
Khi chưa thể giữ trường trai, ta nên ăn theo những ngày qui định trên vì những ngày này có chư thiên tuần thú, nguyện giúp đỡ, hỗ trợ cho những người có tâm lành, hành thiện.
II. TƯ:
Đạo Phật là đạo “Từ bi”, tôn trọng sự sống nên theo đạo Phật, ta không ăn thịt cá.
Loài vật cũng ham sống sợ chết, biết đau đớn nên không vì một chút ngon miệng, ham thích theo thói quen mà ta nỡ giết hại sinh vật.
Các vị Tăng, Ni ăn chay trường, tính tình thuần hậu, điềm đạm, phong thái uy nghi, không giận hờn, mọi người kính mến.
Các loài vật ăn thịt, con nào cũng hung dữ chuyên giết mồi. Trái lại các loài ăn cỏ thì thường hiền lành, siêng năng.
Ăn thịt, uống rượu, kích thích dục vọng khiến con người dễ sa ngã vào hành động tầm thường. Người Phật tử ăn chay là vâng lời Phật dạy, là tưởng nhớ đến hạnh từ bi cao cả của Đức Phật.
Các bữa cơm tại trại, đoàn… GĐPT, với mùi vị đạm bạc, không khêu gợi sự thèm muốn. Em ăn chay là em tập sống giản dị, gần gũi với Đức Phật.
Hơn nữa, theo thuyết luân hồi, các loài chúng sanh trong nhiều đời, kiếp trước có thể đã từng là cha mẹ, anh em… của mình. An các loài vật có khác nào ăn thịt ông bà, cha mẹ mình.
III. TU:
Ăn chay để đoạn dứt điều ác, tăng trưởng việc lành, làm lợi lạc cho muôn loài.
Ăn chay là việc tuỳ nguyện, tuỳ sức, tuỳ hoàn cảnh.
Là Phật tử, mỗi tháng nên ăn chay ít nhất hai ngày: rằm và mồng một. Ngoài ra, các ngày vía Phật và Bồ Tát càng nên ăn chay để tưởng niệm.
Ăn chay thì phải thành thật, nguyện theo đúng, nên đạm bạc, không cầu kỳ, không khích bác người không ăn chay.
“Ăn chay sáng đức từ bi,
Tinh thần minh mẫn, thân thì ít đau.
Phước đức để lại đời sau,
Ít nhiều chẳng kể, miễn giàu thành tâm”.
IV. CÂU HỎI:
Ăn chay là gì? Tại sao phải ăn chay? Ăn chay có đầy đủ chất bổ không? Vì sao chỉ nên ăn đạm bạc? Ăn chay có ích lợi gì? Thế nào là ăn chay trường? Ăn chay kỳ? Kể các ngày thập trai? Khi ăn chay có nên làm giả mặn không? Tại sao?
- Ăn chay là gì?
- Tại sao phải ăn chay?
- Ăn chay có đầy đủ chất bổ không? Vì sao chỉ nên ăn đạm bạc?
- Ăn chay có ích lợi gì?
- Thế nào là ăn chay trường? Ăn chay kỳ? Kể các ngày thập trai?
- Khi ăn chay có nên làm giả mặn không? Tại sao?
B. niệm phật
Văn:
Ý nghĩa:
* NIỆM PHẬT: Niệm là tưởng nhớ. Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, dồn hết tâm trí, ý nghĩ hướng về Phật, hình dung tướng tốt và công hạnh của Phật để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài.
2. Lợi ích:
Con người thường khi mê mờ hôn ám, niệm Phật để được sáng suốt, minh mẫn.
Niệm Phật để suy tưởng đến tướng tốt trang nghiêm, đến hạnh lành của chư Phật mà noi gương, tu tập, tự nhũ sửa đổi tâm tính cho ngày càng tốt hơn.
Niệm Phật tâm hồn sẽ được lắng dịu, được gần Phật sẽ bỏ dần tính ác, phát triển hạnh lành; quên được đau buồn, sợ hãi, đời sống sẽ được an vui, tự tại, đem lại thiện nghiệp cho mình và người.
3. Các cách niệm Phật:
Niệm Phật có nhiều cách, tuỳ theo trường hợp và hoàn cảnh. Trong chương trình ngành đồng, oanh vũ phân biệt niệm Phật theo 5 cách:
a. TỤNG NIỆM
b. MẬT NIỆM
c. KHẨN NIỆM
d. QUÁN NIỆM
e. CHUYÊN NIỆM
Tựu trung, ta có thể niệm Phật theo 2 phương pháp: Trì danh và quán niệm.
II. TƯ:
Tùy lúc, tùy hoàn cảnh, niệm Phật theo cách nào cũng được. Điều cần ghi nhớ là luôn luôn nghĩ đến Phật, tuân lời Ngài dạy và noi theo gương sáng, hạnh lành của Ngài trong mọi ý nghĩ, việc làm để cải thiện đời sống của mình ngày càng tinh khiết, đem lại lợi ích cho mình và cho người xung quanh.
III. TU:
Lúc làm lễ, phải thành tâm, kính cẩn để tụng kinh,niệm Phật.
Đứng trước bàn Phật, em tụng kinh theo nhịp chuông, mõ. Em có thể tụng một mình hay tụng chung với nhiều người.
Mỗi ngày, trước khi đi ngủ, hãy niệm Phật để xét lại ý nghĩ, việc làm trong ngày có gì sai sót thì tự hứa ngày mai phải sửa đổi, không hề tái phạm. Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, niệm Phật và tự nguyện trong ngày làm việc lành, tránh thật nhiều điều ác.
Khi biếng nhác, chán nản, em niêm hạnh tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.
Khi giận buồn, em niệm hạnh hỉ xả của Đức Phật Di Lặc.
Khi tham muốn nhiều, em niệm hạnh thanh tịnh của Đức A Di Đà.
Khi không hiểu hay si mê, em niệm hạnh trí tuệ của Đức Văn Thù.
Khi có ý xấu với người, em niệm hạnh từ bi của Đức Quán Thế Âm.
IV. CÂU HỎI:
Niệm Phật là gì? Tại sao phải niệm Phật? Có những cách niệm Phật thế nào? Có thể niệm danh hiệu Phật nào? Phân biệt khẩn niệm và tụng niệm? Em thường niệm danh hiệu đức Phật nào? Vào lúc nào?
- Niệm Phật là gì? Tại sao phải niệm Phật?
- Có những cách niệm Phật thế nào?
- Có thể niệm danh hiệu Phật nào?
- Phân biệt khẩn niệm và tụng niệm?
- Em thường niệm danh hiệu đức Phật nào? Vào lúc nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
2Tam độc – Mười điều thiện
Ba thứ độc : Tham – Sân – Si

Văn:
Á Châu có một loại khỉ đặc biệt. Người ta cột một trái dừa đã được khoét lỗ vào một gốc cây hay nọc chặt xuống đất. Bên trong trái dừa được để một ít thức ăn cố mùi thơm. Chiếc lỗ trên trái dừa chỉ nhỏ vừa đủ cho khỉ dúm tay đun vào. Nếu khỉ nắm tay lại thì không thể rút tay ra được. Khi ngửi thấy mùi thơm của thức ăn, khỉ bèn đến gần rồi đút tay vào trái dừa nắm lấy thức ăn, nhưng không làm sao rút tay ra được. Thấy người thợ săn đến gần, khỉ sợ hãi cuống quýt nhưng đành chịu.
Ai đã giữ chú khỉ trong bẩy?
Không ai có thể bắt giữ chú khỉ ngoại trừ sức mạnh của lòng tham.
Muôn thoát khỏi bẩy, khỉ chỉ cần buông nắm thức ăn ra. Nhưng vì sức mạnh của lòng tham quá mãnh liệt nên hiếm có con khỉ nào có thể buông tay ra.
Cũng thế, muốn tự đo giải thoát, hãy buông tay ra để cho tự ngã và lòng thâm muốn ra đi.
Lòng tham không những chỉ có thể giết chết khỉ mà cũng có thể giết chết con người (chúng ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ dẫn chứng trong xã hội, trong lịch sử nhân loại, trong thương trường v.v…)
Tham, Sân, Sỉ là ba thứ độc.
Con người khi tham mà không được toại nguyện thì hay nổi sân và khi tham, sân đã chế ngự tâm ta thì trí óc u mê, lú lẩn, làm những điều xằng bậy, nói những lời không nên nói và những tư tưởng đen tối mặc sức khởi lên làm cho tâm náo động và hổn loạn. Con người sống trong sự bất an và phiền não khổ đau nhất định theo sau.
Thiền sư Sogyal Rinpoche nói: con người được huấn luyện một cách thuần thục bởi sinh tử và cho sinh tử, được luyện để nổi ghen ghét đố kỵ, giận dữ; được luyện để bám víu và chấp thủ, được luyện để phiền muộn, thất vọng và thèm khát; được luyện để phản ứng một cách tức giận bất cứ gì khiêu khích ta! Được luyện đến nỗi những cảm xúc ấy nổi lên một cách tự nhiên, không cần mời gọi, không cần một chút cố gắng nào cho chúng phát sinh. Như vậy mọi sự đều do huấn luyện và năng lực của thói quen. Nói cách khác, nếu ta chuyên chú thực tập Vô minh (Tham, Sân, Si), ta sẽ trở thành chuyên viên của Vô minh, nếu ta tĩnh thức nhờ tu tập thiền định ta sẽ mở được những gì gút buộc chặt ta với phiền não khổ đau, đưa ta đến giác ngộ giải thoát.
Tư:
Ba độc Tham, Sân, Si được đức Phật thuyết giảng trong Kinh Tham Sân Si trích từ kinh Trung A Hàm.
Tam độc Tham Sân Si được cấu kết từ nhiều đời kiếp. Khi con người sinh ra là đã có những chủng tử câu sanh thiện ác, tham sân si rồi.
Trong 10 kiết sử quyện chặt con người vào trong vòng luân hồi sanh tử thì Tham Sân Si thuộc về phần Độn sử, phải có công năng tu tập thì mới diệt trừ được.
- Tham là gì? Là lòng ham muốn thu góp, dành hết mọi thứ vào cho cá nhân mình, tập thể mình … Nói chung, cái gì có là mình đều muốn thu gom vào, từ tiền bạc, của cải vật chất… cho đến danh tiếng, quyền thế, địa vị, kiến thức.
- Sân là gì? Là sân hận, thù hằn, giận dữ.
- Si là gì? Là cuồng tín, mê tín dị đoan.
Con người thường tự bào chữa và ngụy trang tham sân si một cách tế nhị và khéo léo, vì nó được huân tập nhuần nhuyễn trong quá khứ, nên một Phật tử phải biết quán xét và nhờ thiện trí chỉ điểm cho. Do vậy phải thân cận bạn hiền, dốc lòng nghe pháp và thà bỏ thân mạng quyết không làm điều xấu.
Tham Sân Si quả thật là nguy hiểm, chúng đe dọa đời sống chúng ta, chúng là nguyên nhân của đau khổ phiền não và là mối lo chung của xã hội. Những người phạm tội sát nhân, cướp bóc v.v.. đều do lòng tham (tham tiền, tham ái dục, tham danh lợi…) xúi giục. Vậy muốn thanh lọc tâm và muốn có sự an lạc chung cho xã hội, mỗi chúng ta phải loại trừ ba thứ độc hại nầy ra khỏi tâm mình.
Trước hết ta tự đặt câu hỏi: Tại sao tham? Tham để làm gì?
- Tham là vì ta thấy có “cái Tôi” (cái Ngã). Ta thương cái Tôi đó nhất, cái gì cũng “của tôi”, “cho tôi”, “vì tôi”. Bao nhiêu công sức, trí khôn đều tập trung lo cho “cái Tôi”: tôi phải giàu, tôi phải giỏi, tôi phải hạnh phúc, tôi phải là số 1 v.v… Do si mê, lầm lạc, thiếu hiểu biết, cho rằng cuộc đời nầy là vĩnh viễn, thân nầy là chắc bền, là “của ta” và từ cái ta nhỏ hẹp ấy khởi lên lòng ham muốn vơ vét hết vào cho mình.
- Tham lam không thỏa mãn thì đưa tới sân hận và “khi một niệm sân nổi lên có thể đốt cháy cả rừng công đức”.
- Khi ngọn lửa tham lam và sân hận đã ngự trị tâm ta thì chúng đốt cháy ta, trí óc không còn sáng suốt nữa, tâm hồn thì mê muội; đó là trạng thái si mê, con người lúc ấy thật không khác gì loài cầm thú vì không còn biết luân lý, đạo đức, phải trái, thiện ác nữa. Đây chính là đầu mối của tất cả mê lầm gây ra mọi thứ tội ác.
Tu:
Muốn loại bỏ tham sân si, cần phải huấn luyện tâm mình. Thật vậy, một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn phản ứng, dính mắc vào lạc thú, chán ghét khổ đau, nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi cái ghét bỏ; phản ứng với mọi chuyện xảy ra qua tham ái và sân hận, đó là một cái tâm “mất quân bình và mỏi mệt”
Muốn đưa tâm trở lại quân bình và thảnh thời, ta phải đối diện với những tư tưởng, tình cảm và cảm giác của chính mình. Ta phải quan sát một cách đơn thuần những gì đang xảy ra trong tâm ta và đối diện với nó. Quan sát đơn thuần là chỉ quan sát một cách khách quan khi chúng khởi lên, không chọn lựa, không so sánh, không đánh giá, không kỳ vọng hay tính toán, không can thiệp vào những gì đang xảy ra. Nói cách khác là ta thực tập chánh niệm trong mọi lúc và ở mọi nơi vậy.
Khi việc tu tập về sự quan sát đơn thuần nầy được phát triển, tiến bộ, chúng ta sẽ đối diện với tư tưởng và cảm giác của mình, với hoàn cảnh và với tha nhân một cách khách quan, không còn bị tham ái và sân hận chi phối. Từng bước, chúng ta sẽ loại dần ba thứ độc Tham, Sân, Si ra khỏi tâm mình để thật sự có an lạc và giải thoát.
Tóm lại, Tam, Sân, Si là ba độc cần phải bỏ.
- Muốn bỏ tham tài, Phật tử chúng ta phải thực hành hạnh bố thí cúng dường. Muốn bỏ tham sắc, ta phải học hạnh thanh tịnh chánh hạnh. Muốn bỏ tham danh, ta phải tự xét phận mình phải chu toàn. Muốn bỏ tham vật thực, ta phải biết ăn chỉ là để sống, coi thức ăn như thuốc để chữa bệnh. Phải ít muốn biết đủ. Muốn bỏ tham ngủ, ta phải học hạnh tỉnh thức, thiền môn gọi là chỉ tịnh, chứ không nói là ngủ, ngủ nhiều sinh làm biếng và si mê ngu đần.
- Muốn bỏ sân, ta phải thực hành hạnh nhẫn nhục, biết tha thứ.
- Muốn bỏ Si, phải thực hành hạnh tinh tấn.
Câu hỏi:
- Tam độc là gì?
- Tại sao nói: Tham là nguyên nhân của đau khổ phiền não? Cho ví dụ.
- Sân có phải là nguyên nhân của đau khổ và phiền não không? Cho 1 ví dụ.
- Giải nghĩa câu: “Một niệm sân nổi lên đốt cháy cả một rừng công đức”
- Em phải thực hành loại bỏ ba độc như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Mười điều thiện

Văn:
Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.
Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.
ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.
Nghiệp là gì?
Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).
Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý
1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:
a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh
b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.
c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.
2. Nh ữ ng nghiệp dữ:
Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.
A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:
1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:
Tất cả chúng sanh đều kính mến
Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
Trừ sạch thói quen giận hờn
Thân thể thường được khỏe mạnh
Tuổi thọ được lâu dài
Thường được thiên thần hổ trợ
Ngủ ngon giấc và không ác mộng
Trừ hết các mối oán thù
Không đọa vào ba đường ác
10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.
2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:
1. Được nhiều người tin cậy.
2. Không bị lừa dối gạt gẫm.
3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.
4. Lòng được an ổn.
5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.
6. Khi chết được sanh lên cõi trời.
3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích
- Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
- Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
- Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
- Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:
1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.
Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.
Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:
- Miệng thường thơm sạch.
- Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
- Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
- Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
- Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.
2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:
- Được người trí thức yêu mến.
- Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
- Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.
3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:
- Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
- Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
- Đức tin bất hoại.
- Pháp hạnh bất hoại.
4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:
- Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
- Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
- Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:
1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:
- Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
- Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
- Phúc đức tự tại.
- Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.
2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:
- Tâm không khổ não.
- Tâm không giận hờn.
- Tâm không tranh giành.
- Tâm nhu hòa ngay thẳng.
- Tâm từ bi như Phật.
- Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
- Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
- Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.
3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.
Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.
Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:
Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
- Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
- Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
- Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
- Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
- Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
- Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
- Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
- Ở yên vào nơi chánh kiến.
10. Không bị nạn dữ.
* Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.
Tư:
Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
- Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
- Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
- Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
- Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.
Tu:
Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.
Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.
- Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
- Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
- Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.
Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.
Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.
Câu hỏi:
- Mười điều thiện là gì?
- Nghiệp là gì?
- Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
- Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
3Sử dụng chuông mõ

Chuẩn bị:
Mượn bộ chuông mõ nhỏ ở chùa.
Giờ học:
1. Em nghe:
Chuông mõ giúp cho buổi lễ Phật, tụng kinh được nghiêm trang, đều đặn và tạo được sự thành kính, thanh tịnh. Muốn đạt được ý nghĩa trên cần phải đánh chuông mõ thật đúng cách.
a. Trước khi lễ:
Hai đoàn sinh được chỉ định thủ sẵn chuông mõ vào chánh điện lau chùi, dọn dẹp bàn thờ Phật, Bồ Tát, Tổ cho sạch sẽ và ngăn nắp. Đốt nến, thắp hương cho mỗi lư hương và thắp riêng 3 nén hương dành cho vị chủ lễ.
Hai đoàn sinh thủ chuông mõ đứng đối diện, nhìn thẳng nhau chứ không nhìn vào bàn Phật. Nhìn vị chủ lễ để theo dõi khi đánh chuông mõ.
Đánh một tiếng chuông thong thả để tất cả đoàn sinh và Huynh trưởng vào chánh điện. Khi chủ lễ niệm tịnh pháp giới và tịnh tam nghiệp xong, chuông đánh 1 tiếng để tất cả cùng xá.
b. Trong khi lễ:
- Chủ lễ niệm hương:
Đánh 1 tiếng chuông sau mỗi bài Cúng hương, Tán Phật.
Sau mỗi câu đảnh lễ, đánh 1 tiếng chuông, tất cả đều lạy.
- Khai chuông mỏ:
Chuông đánh 3 tiếng rời o o o
Mõ đánh 7 tiếng (4 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời) xx xx xx x
Chuông mõ: 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ (3 lần) o x o x o x
Mõ: 1 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời xx xx
Chuông nhập cùng lúc với tiếng mõ cuối.
(o o o, xx xx xx x, o, x, o, x, o, x,x xx xx o)
- Tụng bài sám hối:
Mõ đánh tiếng thứ 2 (Đệ tử) chờ tiếng xướng của người chủ lễ, đánh tiếng thứ 4 (kính lạy) rồi đánh đều từ tiếng thứ 5 trở đi.
Chuông đánh một tiếng sau câu “… thành tâm sám hối”
Mõ đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối (Phật) và nhập ở tiếng cuối (đạo).
Chuông đánh 1 tiếng khi còn 3 tiếng dứt bài.
- Tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát, …
Mõ cũng đánh theo người chủ lễ bằng cách vào ở tiếng thứ hai và tư, kết mỗi bài đều đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối và nhập ở tiếng cuối.
Chuông đánh trước 1 tiếng trước khi kết thúc mỗi bài tụng hoặc mỗi câu Tự quy y.
- Chấm dứt buổi lễ:
Chuông đánh 3 tiếng rời.
Vị chủ lễ đánh chuông cho 2 đoàn sinh thủ chuông mõ lễ Phật (3 lạy).
c. Sau khi lễ:
Đoàn sinh rời chánh điện trong im lặng và trật tự.
Hai em thủ chuông mỏ tắt đèn quạt, … dọn dẹp xong ra sau cùng.
2. Em thực hành:
Huynh trưởng chia đoàn sinh học đánh chuông mõ thành hai hàng ngồi đối diện nhau, 1 hàng đánh chuông, 1 hàng đánh mõ. Huynh trưởng chỉ các em dùng miệng và điệu bộ để tập chung. Sửa chỗ sai, sau đó cho từng cặp thực tập dùng chuông mõ.
Chọn 2 em đánh khá thực tập để các em nhận xét, sau đó chia nhóm ôn lại.
Chú ý: nâng dùi và đánh nhẹ nhàng. Dùi chuông hất nghiêng ở thành chuông, dùi mõ đánh thẳng.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
4Bát quan trai giới

A. DẪN NHẬP:
Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH DANH:
Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).
Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:
- Không được sát sanh.
- Không trộm cướp.
- Không được dâm dục.
- Không được nói dối.
- Không được uống rượu.
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
- Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
- Không được ăn quá giờ ngọ.
II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
1. Không được sát sanh:
Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.
Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.
Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.
Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.
2. Không được trộm cướp:
Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.
Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.
Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.
Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.
Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,
Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.
3. Không được dâm dục:
Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.
Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.
Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.
Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.
Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.
4. Không được nói dối:
Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.
Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.
Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.
5. Không được uống rượu:
Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.
Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.
Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.
6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:
Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.
Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.
Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.
Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.
Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.
7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:
Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…
Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.
8. Không được ăn quá giờ ngọ:
Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.
Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
- Ít mống tâm sái quấy
- Ít buồn ngủ
- Dễ được nhất tâm
- Ít hạ phong
- Thân được yên ổn ít sanh bệnh
Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.
Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.
C. SUY NGHIỆM:
Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.
Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.
- Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
- Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
- Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
- Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
- Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
- Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
- Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
- Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.
Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?
Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.
Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.
D. TU TẬP:
Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5Lục hòa

I. VĂN:
Hồi đức Phật còn tại thế, tại tu viện Ghosira (Cùsưla) thuộc thành phố Kosambi Vương quốc Vamsa, đã xảy ra một vụ tranh chấp giữ một vị Kinh sư và một vị Luật sư. (Kinh sư là những vị chuyên giảng dạy và ôn tụng những lời Phật dạy, Luật sư là những vị chuyên lo trì tụng về giới luật).
Nguyên nhân của sự tranh chấp thật là bé nhỏ, nhưng vì lòng tự ái của một số các thầy mà vụ tranh chấp đã gây nên chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị Kinh sư vì vô ý đã không đổ nước trong chậu sau khi dùng, vị Luật sư cho đó là phạm luật. Vị Kinh sư nghĩ là vì không cố tình nên không có tội. Thế là cuộc tranh chấp leo thang.
Cuối cùng là vị Luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị Kinh sư đã phạm giới, và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham dự các buổi Bố tát, tụng giới…Tình trạng trở nên căng thẳng và những lời qua tiếng lại nầy cũng tai hại như những mũi tên độc. Các vị Khất sĩ chia làm hai phe, và may mắn là cũng có những vị không theo bên nào. Khi đức Phật được biết chuyện, Ngài liền đi tìm Luật sư và nói: “Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm của chúng ta mà phải lắng nghe và chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong đại chúng”. Rồi Ngài đi tìm vị Kinh sư, cũng nói với những lời trên đây, hy vọng sẽ đi tới sự hòa giải. Nhưng không có hiệu quả. Quý vị Tu sĩ ở giữa không đủ sức dàn xếp một cuộc hoà giải.
Thế là nội vụ đã tới tai giới Cư sĩ tại gia, và chẳng bao lâu các Giáo phái bên ngoài đều biết. Đức Phật triệu tập đại chúng và nói: “Xin quý vị hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ Giáo đoàn, xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật sự, chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận hờn và chia rẽ nữa”.
Mặc dù đức Phật đã nói vậy nhưng sự hoà hợp không được tái lập, tình trạng chia rẽ ở đây vẫn còn. Phật lặng lẽ từ bỏ Kosambi, đi về phía công viên Đông Trúc Lâm, nơi có các đệ tử Phật tu học. Người đến đó hỏi thăm các vị đệ tử: “Các thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học, khất thực và hành hoá có được dễ dàng không?”.
Các thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây an ổn, khung cảnh an tịnh, và việc khất thực, hành hoá cũng dễ dàng. Chúng con đã đạt nhiều tiến bộ trong tu học”.
Phật hỏi:
- Các thầy có thương mến nhau hoà hợp với nhau không?
- Thưa, chúng con rất thương mến và hoà hợp nhau. Chúng con biết chia sẽ cho nhau đồng đều mọi thứ, từ chỗ ăn, chỗ ngủ đến kiến thức và kinh nghiệm tu học, chúng con đều chia sẽ cho nhau.
Phật khen:
- Tốt lắm, ta rất hài lòng thấy các thầy đối xử với nhau như vậy. Có sự hoà hợp đó, một đoàn thể mới thực sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thực sự tỉnh thức cho nên mới thực hiện được sự hoà hợp đó.
Trước khi từ giã các thầy ở đây, Phật nói:
- Các thầy: Bản chất của một tăng đoàn là sự hoà hợp. Theo tôi, ta có thể minh định sự hoà hợp đó như sau:
1. Thân hoà đồng trú: Cùng chia sẽ với nhau một nơi tu học, một khu rừng, hay một mái nhà. Nên hiểu là thân hành từ ái, khiêm cung, trìu mến.
2. Khẩu hoà vô tranh: Tránh những lời nói có thể gây ra thắc mắc, chia rẽ. Nên hiểu là khẩu hoà từ ái.
3. Ý hoà đồng duyệt: Các ý kiến khác nhau sẽ được trao đổi, tạo sự vui vẻ, hoà hợp trong tập thể, không bắt buộc người khác theo ý kiến riêng của mình, phải khéo léo để tất cả cùng đi đến ý chung, đúng đắn nhất.
4. Kiến hoà đồng giải: Trao đổi, chia sẽ những hiểu biết, kinh nghiệm cho nhau.
5. Lợi hoà đồng quân: Cùng chia sẽ đồng đều những tiện nghi cuộc sống.
6. Giới hoà đồng tu: Cùng hành trì với nhau những giới luật đã được truyền thọ.
Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên tắc hoà hợp này mà sống với nhau.
Về việc tranh chấp giữa hai vị Kinh sư và Luật sư: Tại tu viện Cấp Cô Độc, với sự dàn xếp của Ngài Xá Lợi Phất, hai bên đã thành tâm sám hối trước Phật, trước Tăng Đoàn. Được Phật, đại chúng chứng minh, hai vị đã có giới thể trở lại thanh tịnh.
II. TƯ:
Qua câu chuyện trên, em thấy rằng pháp Lục Hòa này không những cần cho Tăng đoàn mà cần cho mọi tập thể, cụ thể là đoàn, đội, chúng, … trong GĐPT, cả gia đình nhỏ của chúng ta nữa.
Bất cứ cuộc tranh chấp nào dù lớn hay nhỏ cũng đem lại sự tổn thất cho cả hai bên, nhất là làm ảnh hưởng cả những người “vô can”. Do đo, ta phải chấm dứt mọi sự tranh chấp khi nó vừa xảy ra và ngăn ngừa không cho nó xảy ra.
Sự cãi cọ và gây chia rẽ là chất độc giết chết sự hòa hợp của tập thể và tín tâm tu học của mọi thành viên trong tập thể. Ngoài ra, Đức Phật dạy: “Nó là biểu hiện sự thiếu tu học thật sự”.
III. TU:
Em sống trong những tập thể nhỏ khác nhau: gia đình, lớp học, đoàn, đội, chúng, … Trong GĐPT cũng như trong lớp học, … em quyết thấm nhuần tinh thần lục hòa và sống cho hợp khung cảnh để phổ biến cho những thành viên trong tập thể của em.
Em tự soi rọi lại mình trong cách cư xử với mọi người trên căn bản lục hòa (một phần hay toàn phần). Nếu em là một đoàn, đội hay lớp trưởng, em càng phải soi rọi lại mình nhiều hơn mới duy trì được sự hòa hợp của tập thể mình.
IV. CÂU HỎI:
- Nguyên nhân Phật dạy Pháp Lục hòa?
- Em hãy triển khai từng nguyên tắc, bằng cách cho ví dụ minh họa?
- Theo em cái gì là nguyên nhân chính đã làm cho một vụ tranh chấp bé nhỏ bị xé ra to? Em hãy kể lại một trường hợp nào mà em đã kinh nghiệm hoặc em biết đã xảy ra và kết thúc câu chuyện được dàn xếp như thế nào?
- Từ bài học lục hòa, em hãy dựa theo và thành lập một nội quy cho anh, chị, em của em (giả sử em có bốn, năm anh, chị, em trong gia đình mà em không phải là con trưởng hay con út để tránh gây gỗ và tạo sự hòa thuận làm vui lòng cha, mẹ).
- Tinh thần Lục hoà có thể áp dụng một cách rốt ráo đối với người tại gia hay không? Vì sao? Thế nhưng tại sao người tại gia lại vận dụng “Lục hoà” trong cuộc sống tập thể, gia đình cũng như xã hội?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
6Tứ nhiếp pháp

Văn:
Hoàng pháp lợi sanh là hạnh nguyện của chư Phật, chư vị Bồ tát. Đức Phật ra đời với một ý nguyện lợi sanh. Cho nên trong, tất cả phương tiện giáo hoá khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.
Người Phật tử theo dấu chân Phật và Bồ tát, học Phật không chỉ riêng giác ngộ cho mình mà còn làm cho người khác cùng hiểu biết và hành trì pháp Phật cũng như mình, nghĩa là phải lợi sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không chỉ là lời nói suông mà người Phật tử phải thể hiện trọn vẹn trong quá trình học đạo, tu đạo và sống đạo của mình.
Tứ nhiếp pháp còn gọi là 4 nhiếp sự, là nền tảng đạo đức của thế gian. Thế gian xoay quanh 4 nhiếp sự như bánh xe quay quanh trục. Đây là cương thường đạo lý của người Phật tử tại gia.
Tứ nhiếp pháp được Phật kiến lập trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Bốn pháp.
Muốn thực hiện tinh thần lợi sanh, đức Phật kiến lập pháp môn TỨ NHIẾP PHÁP để dạy chúng ta hành đạo như sau:
1. Định nghĩa:
Tứ là bốn.
Nhiếp là nhiếp hóa, nghĩa là thâu lại gần mình.
Pháp là pháp môn, là phương pháp thu phục người khác.
Tứ nhiếp pháp là bôn phương pháp giúp mình xa lìa những thói hư tật xấu, hoàn thiện nhân cách, tăng trưởng phẩm hạnh, từ đó tiến đến chính phục kẻ khác. Đây là bốn phương pháp để người Phật tử thâu phục người khác về với mình, để cùng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có đưa người khác đến với ta, thì ta mới có cơ duyên hóa độ.
Bốn phương pháp ấy là: “Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự”.
2. Nội dung Tứ nhiếp pháp:
a. Bố thí:
Nói nôm na bình dân thường nói là “Cho”, nói có tình nghĩa hơn là “Giúp đỡ”, nói văn vẽ là “Tặng”, nói trang trọng đối với người trên là “Dâng”, chứa đầy màu sắc đạo vị là “Cúng dường”.
Cho dù được gói ghém dưới nhãn hiệu nào, chữ THÍ là lấy của mình cho kẻ khác. Lấy của mình đem cho, tức ngầm chứa một sự hy sinh, dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều.
Bố có nghĩa là cùng khắp, rộng rãi.
Bố thí là cho một cách rộng rãi.
Một khía cạnh khác của Bố thí, khi đã hy sinh của mình đem cho người khác là đã biểu lộ lòng thương, lòng vị tha, thay thế cho lòng vị kỷ. Đây là động cơ đầu tiên cho lòng thương rộng lớn đó là lòng Từ bi.
Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn bằng tất cả nữa.
Bố thí có ba phương diện:
* Tài thí: gồm có Nội tài và Ngoại tài.
- Ngoại tài: nghĩa là đem của cải, tiền bạc, vật dụng nằm ngoài thân để giúp đỡ đời sông thiết thực cho chúng sanh.
- Nội tài: là bố thí chính thân mạng của mình, sức lực, lời nói, tư tưởng, ý kiến v.v… một thứ tài sản dù nghèo đến mấy cũng có và tài sản ấy mới thật là của mình. Đừng viện cớ: tôi nghèo quá, không có gì để bố thí. Cho dù nghèo tận cùng con số không, vẫn còn có thân mạng của mình, đó là vật sở hữu vô giá. Có thân mạng là có sức lực, có trí tuệ bố thí cho người khác như gặp người gánh nặng ta gánh giúp, đẩy hộ một chiếc xe lên đốc cao … Đó cũng là cách bố thí. Phật dạy rằng: “Đời ai không có thân, có thân là có thể bố thí được”
* Pháp thí: nghĩa là đem giáo pháp chân chính mà giảng dạy cho chúng sanh thoát khỏi những đau buồn, đắng cay của cuộc đời, tạo niềm hân hoan vui sống cho họ hoặc tụng kinh niệm Phật để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.
Đem Phật pháp cảm hoá mọi người đó mới là phương tiện chính của người tại gia phục vụ xã hội.
Đức Phật dạy, trong mọi cách cúng dường, cúng dường Pháp là tối thắng, vì Pháp đem lại an vui lợi lạc cho đời này và vô lượng phước báu cho đời sau, là nhân giải thoát trong tương lai.
* Vô úy thí: tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “Sự không khiếp sợ” trong những lúc nguy biến, ấy là vô uý thí.
Làm thân người ai cũng có nỗi lo sợ, sợ đói, sợ nghèo, sợ bệnh tật, sợ thiên tai, ách nước. Vô úy thí là dùng tất cả phương tiện bố thí để giúp chúng sanh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Gặp những tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương cách giải cứu. Sự khổ sống trong sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.
Vị Bồ tát có năng lực đem lại sự bình an cho chúng sanh là Ngài Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm thực hành như vậy mà thế giới Ta Bà gọi Ngài là “đấng bố thí sự vô uý”.
Ngoài Tài thí, Pháp thí, chỉ riêng Phật giáo mới đặc biệt chú trọng đến pháp Vô úy thí.
Thực hành tài thí để tương trợ đời sống vật chất cho chúng sanh. Thực hành Pháp thí để giáo hoá chúng sanh và thực hành hạnh Vô uý thí để loại bỏ những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.
Bố thí mà chỉ mong cầu báo đáp thì chỉ có phước báu, chứ không thực sự giúp ta ta vĩnh ly khổ ách, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Bố thí Ba La Mật là hình thức bố thí cao cả nhất của Phật giáo. Đó là cách bố thí không thấy có kẻ bố thí, người được bố thí và của được bố thí, nên gọi là Tam luân không tịch. Câu chuyện Thái tử Tu Đại Noa nói lên ý nghĩa cao cả của việc bố thí này.
b.Ái ngữ:
Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hoá.
Dùng lời nói dịu dàng, hoà ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến, rồi từ đó thân cận với mình. Nói lời hoà nhã nhằm an ủi, giúp người vượt qua sự khổ sở. Dù với bất cứ hoàn cảnh nào như đứng trước một nhân vật hung hăng, lời lẽ mình vẫn nhu hòa để cảm hóa họ trở về con đường thiện lành.
Muốn có ái ngữ phải luôn luôn trầm tĩnh, nụ cười nở trên môi. Không nên xem thường ái ngữ, vì ái ngữ dễ nhiếp phục lòng người vô cùng. Ái ngữ là khí cụ sắc bén mà không mất tiền mua và đủ công năng khích động kẻ khác tiến lên đến chỗ tốt đẹp.
c. Lợi hành:
Là kết duyên với mọi người. Mỗi người sống đều có mục đích. Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích tốt đẹp mà họ mong muốn, là làm việc vì mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác.
Lợi hành là cách thu phục lòng người nhanh nhất, hữu hiệu nhất.
Hình ảnh vị Bồ tát Trì Địa là một tấm gương sáng về Lợi hành, suốt cuộc đời chuyên lo tu sửa đường sá, lấp các ao rạch ngăn trở lối đi, bắc cầu qua các kênh mương, gánh giúp cho người già cả, giúp đỡ kẻ tật nguyền neo đơn, từ những việc lặt vặt đến những việc lớn lao đều không từ chối nên được Phật ấn chứng.
d. Đồng sự:
Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục đích cảm hoá họ.
Cùng hòa mình vào trong cảnh ngộ của người khác để dẫn dắt họ về với chánh pháp. Đây là một pháp vừa có hiệu quả lớn mà cũng vừa rất tế nhị. Cùng một cảnh ngộ thì để cảm thông với nhau hơn. Cụ thể, những người cùng nghề nghiệp rất dễ thương yêu nhau. Một tấm gương đồng sự của Bồ tát Duy Ma Cật: Đến nơi cờ bạc thì Ngài dùng nơi đó để độ người. Thấy ai Ngài cũng kính nhường. Ngài nhiếp phục kẻ lớn người nhỏ. Dạo chơi nơi ngả tư đường, Ngài giúp cho chúng sanh dự vào việc chánh trị. Vào nơi giảng luận, Ngài dùng pháp Đại thừa mà dẫn dắt kẻ khác. Vào nơi học đường, Ngài khuyên dụ và khai hóa học viên. Vào chốn ăn chơi, Ngài chỉ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào quán rượu, Ngài vẽ phác chí hướng cho những đệ tử của lưu linh. (Phẩm Phương tiện).
Đồng sự với mọi người, với mục đích là giáo hoá. Do đó, không một chỗ nào dù là chỗ xấu xa như nơi cờ bạc, chốn buôn hương bán phấn, Duy Ma Cật lại không bước chân vào.
Gần chúng ta hơn, Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng từ bi thương xót chúng sanh và muốn chúng sanh an lạc tự tại, Ngài hiện 32 ứng thân tùy sở cầu của chúng sanh mà thi hiện cứu độ.
Đồng Sự với ý nghĩa cao sâu hơn, Đồng sự tức là Đồng ngã: nâng người lên ngang với mình về phương diện đạo đức. Đây là phần về Phật pháp: giúp người hiểu Phật pháp giữ giới ngang với mình, thấy người phạm giới giáo dục cho họ không phạm giới và giữ giới đã thọ như mình, giúp người khác (bạn tại gia) có kinh điển để học. Đối với người xuất gia: Kiến hoà đồng giải và Giới hoà đồng tu, đó là Đồng sự.
Yếu tố Lợi hành, Đồng sự giúp người Phật tử chóng thích nghi với mọi môi trường ở cuộc đời và luôn tạo cho mình niềm an lạc tự tại để sống.
Tư:
- Tứ nhiếp pháp giúp em tạo dựng cuộc sống an lạc, tự tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
- Tứ nhiếp pháp là một phương tiện thiện xảo để nhiếp phục, cảm hóa những người chung quanh.
- Tứ nhiếp pháp còn giới hạn thân khẩu ý tạo tác các vọng nghiệp, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp chúng ta sớm gần với chân lý giải thóat giác ngộ.
- Thấy người thực hành Tứ nhiếp pháp mà sanh tâm hoan hỷ thì công đức vô lượng.
- Câu chuyện “Gã cùng tử” trong kinh Pháp Hoa làm nổi bật vai trò Thế Tôn cũng như tâm nguyện của chúng ta trên con đường phục vụ chánh pháp.
Tu:
- Em thực hành hạnh Bố thí để xả bỏ dần tánh tham lam keo lẩn.
- Em dùng lời nói nhu hòa để cảm hóa những người chung quanh.
- Luôn làm mọi việc ích lợi cho tất cả chúng sanh.
- Tự đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân mới thấu hiểu những trăn trở của họ, từ đó sẽ thông cảm, vị tha, độ lượng, nhân từ.
Tứ nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể. Tứ nhiếp pháp không phải là một giáo lý xuất thế, mà là yếu tố xây dựng cuộc đời, đưa mọi người vào ánh sáng chánh pháp.
Với hạnh nguyện lợi tha, Tứ nhiếp pháp là phương tiện khéo và đủ vậy.
Câu hỏi:
- Tứ nhiếp pháp là gì?
- Giải thích nghĩa 2 chữ Bố thí trong các trường hợp?
- Thế nào là Vô úy thí?
- Đồng sự là gì? Vị Bồ tát nào đã thực hành Đồng sự một cách rốt ráo?
- Em thực hành Tứ nhiếp pháp như thế nào trong cuộc sống?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
7Lịch sử Đức Phật Thích Ca

I. VĂN:
A. BỐI CẢNH ẤN ĐỘ:
Từ thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, Ấn Độ đã có một nền văn minh khá cao. Aryan sau khi đã chinh phục Ấn Độ, họ lại bị chinh phục bởi ảnh hưởng huyền bí của thiên nhiên, của dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ … Xã hội lúc bấy giờ phân hoá, có nhiều giai cấp, rất nhiều những bất công trong xã hội. Có thể tóm lược 4 đẳng cấp như sau:
1. Bà La Môn: Gồm các đạo sĩ có kiến thức uyên bác, là đẳng cấp lãnh đạo về tinh thần.
2. Sát Đế Lỵ: Gồm giới quý tộc dòng dõi vua chúa, là đẳng cấp nắm quyền cai trị nhân dân.
3. Phệ Xá: Gồm giới Nông, Công, Thương.
4. Thủ Đà La: Hàng tôi tớ lao động.
Riêng giai cấp hạ tiện (Paria) bị loại ra khỏi đẳng cấp cuối, bị đối xử như thú vật, ai cũng có quyền đánh, giết.
B. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT:
1. Sự ra đời của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:
Từ cung trời Đâu Xuất, Bồ tát Hộ Minh quán chiếu và quyết định chọn cõi Ta Bà cho lần tái sinh sau cùng của mình.
Một đêm, trong giấc ngủ an lành, hoàng hậu MAYA mộng thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào hông bên phải, sau đó bà thọ thai. Suốt thời kỳ mang thai, hoàng hậu MAYA được hoàn toàn khoẻ mạn, về cả thân lẫn tâm.
Theo phong tục Ấn Độ, phụ nữ mang thai khi sắp sinh phải về nhà cha mẹ đẻ đợi ngày lâm bồn. Đang chuẩn bị lên đường, vào một buổi sáng đẹp trời, chim hót, hoa cười, hoàng hậu MAYA ra vườn thượng uyển để thưởng cảnh. Khi đến gốc cây Vô Ưu (Asoka), thấy màu sắc của hoa thật rực rỡ, hoàng hậu MAYA vịn cành định hái hoa, liền đó Thái tử ra đời. Bấy giờ là ngày trăng tròn tháng Veaka nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch, vào năm 624 trước Tây lịch. Vườn thượng uyển gọi là vườn Lâm Tỳ Ni (Lum Bi Ni) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).
Người trị vì nước này là Vua Tịnh Phạn, thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca) đã đặt tên cho Thái tử là Siddharta (Tất Đạt Đa) nghĩa là “Người được toại nguyện”. Các đạo sĩ Bà La Môn được mời đến đoán vận mạng của thái tử. Quan sát 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của thái tử, họ kết luận đây là bậc chuyển luân thánh vương hoặc nếu xuất gia sẽ thành bậc chánh đẳng chánh giác. Riêng tiên A Tư Đà, sau khi nhìn tướng mạo thái tử đã cười vang rồi lại khóc ròng. Khi được hỏi vì sao, nhà tiên tri giải thích là ông vui vì Thái tử sẽ đắc quả Phật và sẽ giảng pháp cứu đời nhưng ông đau buồn vì mình không thể sống đến ngày Thái tử chứng quả để được nghe pháp.
2. Cuộc sống của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:
a. Cuộc sống cung đình:
Bảy ngày sau khi thái tử ra đời, hoàng hậu MAYA thác sinh về cung trời Đao Lợi. Thái tử được dì là Mahabaxàbađề nuôi dưỡng. Thái Tử được giáo dục rất hoàn mỹ. Đến tuổi đi học, Thái tử nổi tiếng thông minh, văn võ toàn tài, lại luôn khiêm tốn, lễ độ, được mọi người yêu quý.
Năm mười sáu tuổi, Thái tử kết hôn cùng công chúa Daduđàla, sau khi đã thắng tất cả các vương tôn, công tử trong các cuộc thi theo tục lệ. Con trai của Thái tử tên là La Hầu La (nghĩa là trói buộc).
Vua cha xây cho Thái tử ba toà cung điện dành riêng cho từng mùa (mưa, nóng, lạnh) với đầy đủ tiện nghi và luôn có cung tần, mỹ nữ đêm ngày ca múa, săn đón mua vui cho Thái tử. Nhưng hạnh phúc thế gian không làm cho Thái tử say đắm, không đủ để Thái tử quên đi ấn tượng của lần theo cha đi dự lễ cày cấy vào năm lên 9 tuổi. Ngài đau xót khi thấy người và vật phải vất vả và khổ đau trong cuộc tranh sống (Lần ấy Thái tử đã ngồi dưới gốc cây theo lối kiết già và chứng nhập sơ thiền).
b. Thái tử tiếp xúc với đời:
Thái tử đã khẩn cầu vua cha để được du ngoạn ra ngoài hoàng cung.
- Lần thứ nhất, ra cửa Đông: Ngài gặp một cụ già lưng còng, tóc bạc, mắt lòa.
- Lần thứ nhì, ra cửa Tây: Ngài gặp người bệnh rên la khổ sở.
- Lần thứ ba, ra cửa Nam: Ngài gặp một đám tang người đưa khóc kể sầu đau. Mỗi lần được người phu xa giải thích về những hình ảnh không thể tránh được ấy của cuộc sống, Thái tử càng nhận rõ hơn thực trạng đau khổ của kiếp người, của chúng sinh vì định luật sinh, già, bệnh, chết.
- Lần thứ tư, ra cửa Bắc: Ngài gặp một vị sa môn, hình ảnh của sự thanh thoát, cao quý. Cuộc gặp gỡ này càng thúc bách nhu cầu tìm đạo giải thoát ở Ngài.
Lão, bênh, tử là ba bức tường thành mà chúng sanh không thể vượt qua được, ngoài con đường giải thoát.
3. Thái tử Xuất Gia:
Nhận thấy vô thường và khổ đau bao trùm cuộc sống, một đêm, sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người đang ngủ say, Thái tử truyền Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc, lặng lẽ vượt thành, xuất gia tìm đạo.
Theo hướng Đông Nam, hướng về dãy Hi Mã Lạp Sơn, Ngài vượt qua dòng sông A Nô Ma thì dừng lại, tự cắt tóc, cởi hoàng bào, trao gươm cho Xa Nặc, truyền dắt ngựa, mang tóc, áo bào, gươm báu trở về trình lại với vua cha ý chí xuất gia của mình. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng hai.
Thái tử tìm đến học đạo với A La La Ca Lam, một đạo sư nổi tiếng đã chứng đắc Vô sở hữu xứ định. Không bao lâu, Ngài đã chứng đắc những gì Đạo sư đã chứng đắc. Được Đạo sư mời hợp tác giảng dạy chúng đệ tử, nhưng Ngài biết đây chưa phải là đích của giải thoát nên đã cáo từ. Rời thành Tỳ Xá Ly đến Vương Xá, thủ đô vương quốc Ma Kiệt Đà, Ngài gặp vua Tần Bà Xa La, được vua ngỏ ý nhường lại nửa vương quốc, Ngài đã từ chối. Đến thọ giáo với Uất Đầu Lam Phất, cũng chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đã đạt được thành quả như thầy, chứng đắc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ định. Biết rằng đây vẫn còn ở trong vòng sinh tử, Ngài lại ra đi. Chẳng còn ai để tìm đến học, Ngài quyết định tự thực hiện lấy cứu cánh giải thoát, cùng 5 anh em Kiều Trần Như tu khổ hạnh.
Trong 6 năm, Ngài tự ghép mình vào những phép tu đau đớn cùng cực của thể xác. Nhưng rồi Ngài cũng nhận ra cách tu cực đoan này chỉ làm tổn hại cả thể chất và tinh thần, không thể dẫn đến giải thoát nên Ngài quyết định chấm dứt việc tiết thực, ăn uống trở lại để lấy sức, tinh cần đi vào ngõ thiền định với kinh nghiệm của lần chứng Sơ thiền trong dịp theo vua cha dự lễ “xuống đồng” lúc nhỏ. Năm anh em Kiều Trần Như thấy Ngài thay đổi lối tu hành nghĩ là Ngài đã thoái chí cầu đạo nên cùng nhau bỏ đi nơi khác.
Sau khi đã hồi phục sức khoẻ, sa môn Cồ Đàm chọn một gốc cây lớn nơi khu rừng xanh tươi cạnh dòng sông Ni Liên. Ngài tọa thiền với lời thệ nguyện: “Chỉ rời khỏi chỗ này khi nào chứng được quả giải thoát”.
Giữ chánh niệm, Ngài tỉnh giác hành thiền. Ma vương tìm mọi cách quấy phá nhưng không lay chuyển được Ngài.
Vào đêm trăng tròn tháng chạp (có sách ghi là mùng 8 tháng chạp), Ngài chứng ngộ chánh giác. Canh một, Ngài thấu suốt các kiếp sống quá khứ và nẽo tái sinh của mình, chứng tuệ giác đầu tiên là Túc mạng minh. Sang canh hai, Ngài thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình và chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, chứng Thiên nhãn minh. Đến canh ba, Ngài tác ý nghịch chiều duyên khởi, biết rằng đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh, tâm Ngài thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, chứng tuệ giác cuối cùng là Lậu tận minh. Đúng vào lúc sao Mai vừa mọc, Ngài tác ý thuận và nghịch chiều duyên khởi, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc bấy giờ, quả đất rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.
Sau đêm thành đạo, Đức Phật còn tiếp tục tham thiền cho đến hết 49 ngày. Ma vương tiếp tục phá phách nhưng không được, cuối cùng đành khẩn cầu Ngài đi thẳng vào niết bàn. Đức Phật trả lời là Ngài chỉ nhập diệt sau khi đã có một giáo hội bền vững.
4. Đức Phật truyền đạo:
Chấp nhận lời thỉnh cầu truyền bá giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Phật nghĩ ngay đến A La La Ca Lam, nhưng bằng tuệ nhãn, Ngài biết vị này vừa qua đời tuần trước. Nghĩ đến Uất Đầu Lam Phất, Ngài dùng tuệ nhãn biết vị này vừa từ trần đêm qua. Đức Phật lại nghĩ đến 5 anh em Kiều Trần Như, biết họ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại, Ngài quyết định đến đó. Tại đây, Ngài thuyết pháp Tứ Diệu Đế (còn được gọi là kinh Chuyển pháp luân, truyền bá con đường Trung đạo) độ lần lượt cho cả 5 anh em. Như vậy là ngôi Tam Bảo đã được thành hình.
Tiếp đó, Đức Phật độ cho Da Xá và chưa tròn 2 tháng, Ngài đã có 60 đệ tử đạt quả vị A La Hán, lập thành Giáo hội Tăng già, có trách nhiệm hoằng dương chánh pháp.
Cảm hoá 3 anh em Ca Diếp, 3 nhà tu sĩ khổ hạnh thờ lửa, giáo đoàn của Đức Phật có trên 1000 vị. Sau khi độ cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (2 vị trước đó theo Bà La Môn giáo) chứng đắc quả vị A La Hán, Đức Phật triệu tập tất cả đệ tử để tấn phong Đức Xá Lợi Phất làm Đệ nhất đệ tử và Đức Mục Kiền Liên làm Đệ nhị đệ tử.
Trong 49 năm thuyết pháp và giáo hoá, Đức Phật đã độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Ngài cùng các đệ tử đi hoằng hoá trong 9 tháng nắng, còn 3 tháng mưa thường tập trung ở các tịnh xá chuyên tu và hướng dẫn đệ tử.
5. Đức Phật nhập niết bàn:
Vào năm 80 tuổi, Đức Phật quyết định nhập niết bàn. Ngài cùng chúng đệ tử đi đến rừng Sala của dòng họ Malla ở Kusinara. Rừng Sala đang trỗ hoa trái đầy cành.A Nan treo võng cho Đức Thế Tôn nằm giữa 2 cây Sala. Sau khi dạy đệ tử những lời sau cùng, Thế Tôn nhập định rồi viên tịch. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng 2.
Những lời dạy sau cùng:
Này A Nan, giáo pháp ta đã giảng dạy, sau khi ta diệt độ, pháp và luật ấy sẽ là đạo sư.
Này A Nan, sau khi ta diệt độ, có thể bỏ đi những giới nhỏ nhặt, chi tiết.
Này các vị Tì kheo, nếu có vị nào còn nghi ngờ hay thắc mắc gì về giáo lý của ta, về các phương pháp tu mà ta đã giảng dạy thời hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc. Thế Tôn hỏi 3 lần nhưng tất cả đều im lặng.
Này các vị Tì kheo, sau khi Như Lai diệt độ, quý vị hãy lấy giới luật làm thầy, các pháp hữu vi là vô thường, hãy cẩn thận chớ có buông lung.
Lễ hoả táng và dựng tháp tôn thờ xá lợi Phật:
Giàn hoả thiêu không thể bắt lửa cho tới khi tôn giả Maha Ca Diếp kịp về đảnh lễ. Xá lợi Phật được chia làm 8 phần để dựng tháp tôn thờ tại các nước mà Đức Phật đã từng đi qua.
II. TƯ:
1. Sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa là một sự thị hiện của một vị Bồ Tát, vì đời mà vào đời để cứu đời.
- 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử Tất Đạt Đa cho em biết: Tuy đấy là thân người nhưng lại vô cùng cao quý, đặc biệt hơn con người bình thường. Đó là báo thân của Đức Thế Tôn do công đức tu tập của nhiều kiếp về trước.
- Những hiện tượng lạ sau khi Tất Đạt Đa đản sanh nằm ngoài tầm hiểu biết và giải thích của thế gian. Vì đó là những sự kiện báo hiệu về sự ra đời của bậc sẽ đạt quả vị Chánh đẳng Chánh giác.
- Bằng trí tuệ thế gian, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật chứ không do hư cấu, tưởng tượng mà có.
2. Đời sống của Thái tử tại cung đình là một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc thế gian, nhưng Ngài không bị đắm trước và cũng không bị ngã mạn.
3. Việc Thái tử từ bỏ hạnh phúc thế gian để đi tìm hạnh phúc chân thật, tìm chân giải thoát là một gương sáng cho chúng sanh soi rọi. Điều này cho chúng ta nhiều suy nghĩ khi cứ loay hoay trong cuộc sống, đuổi bắt những bóng hạnh phúc như tiền tài, danh vọng, cái đẹp vật chất…
Tình yêu thương không phải chỉ nói mà phải thể hiện bằng hành động, bằng quyết tâm tìm con đường cứu muôn loài thoát khổ đau, không còn vướng trong sinh tử, luân hồi.
4. Dù Đức Phật đã chứng được lục thông nhưng không bao giờ Ngài sử dụng một cách vô cớ. Ngài sống bình thường như bao nhiêu người khác, bình thường mà gương mẫu, gần gũi với mọi người, dung dị, chan hoà.
5. Tuỳ căn cơ chúng sanh mà Ngài hoá độ. Không chỉ nhận đệ tử xuất gia, thoát ly thế tục mà Đức Phật còn nhận đệ tử tại gia, quan tâm đến đời sống gia đình, xã hội qua các cư sĩ và hạnh phúc thế gian của họ. Ngài đã dạy về 6 mối tương quan xã hội, về 7 điều kiện để một xã hội hưng thịnh, về 10 điều để thành người lãnh đạo tốt. Toàn bộ giáo lý của Ngài đều tập trung vào việc ly tham, ly sân, ly si, giải thoát và tri kiến giải thoát. Con đường đi vào giải thoát là con đường trung đạo của 2 mặt nhận thức và hành động, mà biểu hiện rõ nét nhất là Bát chánh đạo.
6. Bằng quá trình hoằng pháp của mình, Đức Phật đã khẳng định tính thực nghiệm, bình đẳng, trí tuệ, từ bi… của đạo Phật. Ngài là bậc chánh đẳng chánh giác, là một nhà giáo dục lý tưởng, là bậc thầy đầy đủ giới đức, định đức và tuệ đức, ra đời vì hạnh phúc của chúng sanh, tìm ra con đường giải thoát và chỉ dạy cho chúng sanh con đường đi đến giải thoát.
III. TU:
Qua bài học, em không những học được ở Đức Phật của chúng ta, mà còn học được ở cậu bé Tất Đạt Đa mới lên chín tuổi.
- Vào cái tuổi mà mọi cậu bé đều chỉ nghĩ đến học hành và vui chơi những trò đá bóng, bắn bi …, thì Thái tử Tất Đạt Đa đã biết trầm tư về những vấn đề liên quan đến cuộc sống khổ cực của con người và loài vật, cũng như phát khởi lòng từ rộng lớn trước những vật lộn của chúng sanh.
- Vào thời điểm sáng chói nhất, hạnh phúc nhất của một thanh niên vương giả, đầy uy quyền, Thái tử đã từ chối tất cả để dấn thân vào con đường vô cùng gian khổ, để nhắm đến mục đích tối hậu là cứu mình, cứu đời ra khỏi cuộc tử sinh. Do đó, em nguyện:
- Tập hướng suy nghĩ của mình vào những vấn đề “Thoát tục” hơn là ăn uống, ngủ nghỉ, chơi đùa…
- Tập trầm tư (không phải tưởng tượng hay hồi tưởng, những kỉ niệm, những cảnh sống tiện nghi đầy đủ…) để nhìn thấy được tính chất vô thường, vô ngã trong mỗi sự vật và trong chính bản thân ta cũng như hiểu đúng thực nghĩa của chữ khổ trong đạo Phật.
- Tập trầm tư về những vấn đề hạnh phúc, danh vọng, quyền uy…để thấy rõ bản chất thật sự của những vấn đề này, để hiểu được ý nghĩa sự ra đi tìm đạo của Thái tử Tất Đạt Đa cũng như để vạch cho mình một cuộc sống tri túc và tiến đến “sống đạo”.
- Biết tập trung tư tưởng thì bất cứ nơi nào cũng có thể thực hành thiền định. Đã có chân lý, đã có ngón tay chỉ đường, sao lại không gắng sức tu tập.
- Luôn mở rộng lòng từ, luôn hoà ái, khiêm cung, học tập theo những đức tính của Thái tử Tất Đạt Đa.
- Học theo gương sáng của Đức Phật, tự thân bỏ cái sai, tránh cái lỗi, giữ cái đúng. Không sử dụng quyền lực khi tiếp xúc với người khác, kết hợp tình thương và trí tuệ. Hiểu biết để hành động chứ không để thuyết giảng, nói cho hay. Đối với mọi người luôn yêu thương, nhẫn nhục, hy sinh.
- Vâng lời Phật dạy: coi giới luật là thầy, kính Phật, trọng Tăng, luôn tinh tấn để giải thoát.
- Thường xuyên sám hối nghiệp chướng để thuận duyên hành đạo.
IV. CÂU HỎI:
- Ý nghĩa ngày đản sanh và ý nghĩa xuất gia?
- Vì sao khi quan sát nhân duyên, Bồ Tát Hộ Minh lại chọn cho mình lần tái sinh sau cùng là ở nước Ấn Độ?
- Em có thể kể những tướng tốt của Thái tử Tất Đạt Đa? (Một số quý tướng: lòng bàn chân thẳng, gót chân thon, ngón tay và chân đều thon dài, tay chân mềm mại, răng đều đặn, giọng nói êm như giọng chim Ca Lăng Tần Già, mắt xanh có sợi lông trắng mịn giữa hai chân mày, có nhục kế trên đầu, vị giác nhạy bén, quai hàm sư tử).
- Hãy kể về cuộc sống của Thái tử Tất Đạt Đa?
- Về phương diện lịch sử, ngôi Tam Bảo có từ lúc nào? Hãy giải thích?
- Từ con đường hoằng hoá của Đức Phật, em rút ra bài học gì cho bản thân?
- Vì sao ta gọi Đức Phật là nhà giáo dục lý tưởng?
- Câu nói: “Ngoài tuệ giác không có Phật giáo” muốn khẳng định điều gì?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
8Tu Phật – Học Phật
Tham khảo thêm
Học Phật
- Học Phật là học hiểu lời Phật dạy qua kinh điển, qua quý Thầy, qua sách Phật học. Học có hai bước: nghe, đọc cho biết (văn) và suy nghĩ, quán xét cho hiểu (tư).
Tu Phật
- Tu là sửa: sửa lại thân, khẩu, ý cho tốt đẹp theo lời Phật dạy. Tu là thực hành những điều đã học vào đời sống hằng ngày (tu).
- Ba môn học căn bản của người tu Phật là Giới, Định, Tuệ (tam vô lậu học; Pali: sīla, samādhi, paññā).
Học và tu phải đi đôi
- Học mà không tu thì như người đếm tiền cho người khác: biết nhiều nhưng không chuyển hóa được phiền não của mình.
- Tu mà không học thì dễ mê tín, tu sai đường.
- Người đoàn sinh ngành Thanh vừa học hiểu giáo lý, vừa thực hành qua: giữ giới, niệm Phật, thiền tập, làm việc thiện, sống Lục hòa trong Đoàn.
Câu hỏi thảo luận
- Kể một điều em đã học trong Phật pháp và em đã thực hành được ra sao.
- Vì sao có người đi chùa lâu năm mà tính tình không thay đổi?
9Phân biệt Kinh, Chú, Kệ
Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )

A. GIỚI THIỆU:
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.
B. NỘI DUNG:
I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:
- Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
- Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
- Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:
Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.
Vậy đại ý hai thời công phu là:
1. Thời kinh sáng:
Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:
- Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
- Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
- Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
- Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
- Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
- Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
- Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
- Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
- Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
- Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
- Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
- Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.
Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.
Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.
2. Thời kinh chiều:
Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.
- Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
- Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
- Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
- Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
- Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
- Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.
Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.
Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.
3. Hai thời sóc vọng:
Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.
C. THỰC HÀNH:
Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.
Câu hỏi:
- Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
- Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
- Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
- Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Phân biệt Kinh, Chú, Kệ
Bậc Hòa
- Kinh (sūtra): lời Phật dạy được kết tập, có nội dung giáo lý; ví dụ kinh A Di Đà, Bát Nhã Tâm Kinh.
- Chú (dhāraṇī, mantra): những câu tiếng Phạn được giữ nguyên âm, không dịch nghĩa, tụng để nhiếp tâm; ví dụ chú Đại Bi, chú Vãng Sanh.
- Kệ (gāthā): những bài văn vần, thường tán thán hoặc tóm ý giáo lý; ví dụ kệ khai kinh, kệ hồi hướng.
- Xem thêm bài “Đại ý Kinh – Chú – Kệ” ở trên.
10Phật giáo với đời sống con người
Tham khảo thêm
Phật giáo đem lại gì cho đời sống
- Đạo đức: năm giới, mười điều thiện làm nền tảng cho gia đình hạnh phúc, xã hội an ninh.
- Tâm lý: chánh niệm, thiền định giúp con người bình an, làm chủ cảm xúc.
- Trí tuệ: hiểu vô thường, nhân quả để sống sáng suốt, bớt khổ đau.
- Văn hóa: Phật giáo đã gắn bó với dân tộc Việt Nam gần hai ngàn năm, thấm vào phong tục, văn học, kiến trúc, lòng từ bi của người Việt.
Phật giáo không xa rời cuộc đời
- Tinh thần “Phật pháp bất ly thế gian giác”: giác ngộ ngay trong đời sống, không tách khỏi cuộc đời.
Thảo luận
- Kể một ảnh hưởng của Phật giáo mà em thấy trong đời sống gia đình, làng xóm mình.
11Hệ thống tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Tham khảo thêm
Hệ thống tổ chức một Gia đình Phật tử
- Cố vấn Giáo hạnh: vị Tăng, Ni hướng dẫn tinh thần, đạo hạnh cho Gia đình.
- Gia trưởng: phụ huynh được mời làm đại diện, hỗ trợ Gia đình.
- Ban Huynh trưởng: Liên đoàn trưởng, Liên đoàn phó (nam, nữ), Thư ký, Thủ quỹ và các Đoàn trưởng; điều hành mọi sinh hoạt của Gia đình.
- Các ngành: Oanh Vũ (ngành Đồng), Thiếu, Thanh; mỗi ngành chia Nam, Nữ.
- Mỗi Đoàn có Đoàn trưởng, Đoàn phó; Đoàn chia thành các Đội (Thiếu nam), Chúng (Thiếu nữ), Đàn (Oanh Vũ).
Lưu ý
- Chi tiết tổ chức theo Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Quy chế Huynh trưởng hiện hành.
Gợi ý hoạt động
- Các em vẽ sơ đồ tổ chức của chính Gia đình mình, ghi tên các anh chị trong Ban Huynh trưởng.
12Ứng dụng Bi – Trí – Dũng vào cuộc sống
Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
I. VĂN:
1. Nguồn gốc:
Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là: HOÀ – TIN – VUI.
Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG.
2. Ý nghĩa:
BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật.
TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý.
DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ.
Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG.
Tư:
- Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc.
- BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính.
- Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.
- Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích.
Tu:
- Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẽ những khổ đau của người khác.
- Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ.
- Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp.
Câu hỏi:
- Châm ngôn là gì? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì?
- Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG?
- Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549 ) I. VĂN : 1. Nguồn gốc : Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là : HOÀ – TIN – VUI. Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG. 2. Ý nghĩa: BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý. DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG. II. TƯ : Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc. BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo. Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích. III. TU : Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẻ những khổ đau của người khác. Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ. Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp. IV. CÂU HỎI : Châm ngôn là gì ? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào ? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì ? Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG ? Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG? Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Ứng dụng Bi – Trí – Dũng vào cuộc sống
Ứng dụng
- Bi: sống với lòng thương; giúp đỡ người khó khăn, không làm khổ ai bằng lời nói, việc làm; tham gia công tác xã hội của Đoàn.
- Trí: học hành chăm chỉ; biết phân biệt đúng sai, không chạy theo đám đông; trước khi làm việc gì thì suy xét nhân quả.
- Dũng: dám nhận trách nhiệm, dám nhận lỗi, dám từ chối điều xấu (rượu bia, cờ bạc, bạn xấu); kiên trì vượt qua khó khăn.
- Ba đức này phải đi chung: có Bi mà thiếu Trí thì dễ thương sai cách; có Trí mà thiếu Bi thì khô khan; có Dũng mà thiếu Bi, Trí thì thành liều lĩnh.
Thảo luận
- Mỗi người kể một tình huống thật trong đời sống học đường, gia đình và cách ứng dụng Bi – Trí – Dũng.
13Quan niệm về bạn: ân oán, tốt xấu, thiện ác
Kinh Thiện Sinh

A. DẪN NHẬP
Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
B. NỘI DUNG:
I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:
Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.
II. KINH VĂN:
Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.
Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.
* Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.
* Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.
* Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.
Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
- Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
- Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
- Tránh xa sáu nghề hao tài vì:
+ Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.
+ Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.
+ Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.
+ Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.
+ Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.
+ Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.
Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.
+ Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.
+ Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.
+ Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.
+ Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.
Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.
+ Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.
+ Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.
+ Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.
+ Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.
III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG
Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương
- Phương Đông là cha mẹ
- Phương Nam là thầy dạy
- Phương Tây là vợ chồng
- Phương Bắc là bạn bè thân thích
- Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
- Phương Hạ là người giúp việc.
1. Phương Đông: Cha mẹ
- Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
- Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
- Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
- Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.
3. Phương Tây: Vợ chồng
- Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
- Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.
4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc
- Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
- Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.
5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng
- Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
- Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.
6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp
- Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
- Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên
Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.
C. SUY NGHIỆM:
Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì
D. TU TẬP:
Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Quan niệm về bạn: ân – oán, tốt – xấu, thiện – ác
Bạn tốt, bạn xấu
- Trong kinh Thiện Sinh (bài ở trên), Đức Phật dạy cách nhận ra bạn giả và bạn thật. Bạn giả: người chỉ biết lấy, người chỉ nói giỏi mà không làm, người nịnh hót, người rủ rê ăn chơi. Bạn thật: người giúp đỡ, người cùng chia sẻ vui buồn, người khuyên điều lợi ích, người có lòng thương mình.
- Gần bạn tốt (thiện tri thức) là điều rất quan trọng trên đường tu học.
Ân – oán
- Nhớ ơn và đền ơn người đã giúp mình.
- Với người làm hại mình: Đức Phật dạy hận thù không thể dập tắt hận thù, chỉ có lòng từ bi mới dập tắt được hận thù (kinh Pháp Cú). Tha thứ không phải là yếu đuối mà là giải thoát cho chính mình.
Thiện – ác
- Thiện là điều đem lại lợi ích cho mình và người, hiện tại và về sau; ác là điều gây khổ cho mình và người.
- Đừng vội đánh giá người khác là tốt hay xấu mãi mãi: con người có thể thay đổi; giúp bạn sửa sai thay vì xa lánh.
Thảo luận
- Khi bạn thân rủ làm điều sai, em xử sự thế nào để vừa giữ tình bạn vừa giữ được điều đúng?
14Nguyên tắc ứng dụng: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Lục hòa, Lục độ, Kinh Thập thiện
Tứ Diệu Đế

A. GIỚI THIỆU: Nguyên nhân và thời kỳ Phật giảng Tứ Diệu Đế lần đầu tiên.
Tứ Diệu Đế là thời Pháp thứ hai (Thời A Hàm) của Đức Thích Ca, sau khi Ngài thành đạo tại gốc cây Bồ Đề liền nghĩ đến đem giáo lý mà Ngài vừa chứng được ra truyền bá giác ngộ chúng sanh, nhưng giáo lý mà Ngài chứng thì quá cao siêu thâm diệu còn phần đông chúng sanh căn cơ thấp kém khó có thể giác ngộ nhanh như Ngài; nhưng không vì chúng sanh khó giáo hóa mà Ngài không làm tròn nhiệm vụ hóa độ.
Do đó, Ngài đã quyết định phải tuỳ duyên và phương tiện nói Pháp Tứ Diệu Đế là để chúng sanh dễ nhiếp thọ tu hành. Phật quán sát căn cơ của năm người bạn cùng tu với Ngài trước kia là: Kiều Trần Như, Thập Lịch, Bạc Đề, Ác Bệ và Mahanam Câu Ly có thể khai ngộ diệu Pháp, Đức Phật đi đến Vườn Lộc Uyển là nơi họ đang tu tập nói Pháp Tứ Diệu Đế.
Sau ba phen chuyển Pháp luân Tứ Diệu Đế (Thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển) đã phá vỡ được nghi hoặc và thành kiến mê lầm của năm vị này, do đó mà trí tuệ siêu thoát được xuất hiện và năm vị này chứng nhập quả vị La Hán. Kể từ đây danh nghĩa của đoàn thể tăng già được thành lập có đầy đủ ba ngôi báu: Phật – Pháp – Tăng.
B. nội dung:
I. ĐỊNH NGHĨA:
- Tứ Diệu Đế là 4 chân lý của nhà Phật, còn gọi là Tứ Thánh đế, Tứ chân đế hay Tứ đế gồm có: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vì lý là chân chính nên gọi là Chân đế và là sở kiến của các bậc Thánh giả nên gọi là Thánh đế (*).
- Đế tiếng Palị là Satya; tiếng Phạn là Sacca; có nghĩa là chân thật không hư dối. Đây là 4 chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo chân thật không hư dối. Bốn chân lý nầy là chỗ thấy biết của bậc Thánh nên gọi là Tứ Thánh đế. Về mặt đại thể Tứ Đế là sự quy nạp thuyết “Thập nhị duyên khởi” mà Phật giáo dùng để giải thích các hiện tượng trong vũ trụ, là đại cương của giáo nghĩa nguyên thủy. Tứ đế theo thứ lớp được gọi là Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế, hoặc là Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, Khổ diệt đạo thánh đế hoặc Khổ đế, Khổ tập đế, khổ tận đế, Khổ xuất yếu đế hoặc Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Chân thánh đế, Đạo thánh đế. Trong đó Khổ và Tập biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới mê vọng, còn Diệt và Đạo biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới chứng ngộ. Tức Quả hữu lậu thế gian là Khổ đế, Nhân hữu lậu thế gian là Tập đế. Quả vô lậu xuất thế là Diệt đế, Nhân vô lậu xuất thế là Đạo đế (**).
II. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ ĐẾ:
1. Khổ Đế (Tiếng Palị là Duhkha-satya; tiếng Phạn là Duhkha-sacca):
Chỉ chung cho trạng thái thân tâm bị bức bách khổ não, chỉ rõ mọi giả tướng của thế gian đều là khổ, và cuộc đời là một bể khổ mênh mông. Đây chính là chân đế về “sinh tử quả thật là khổ” là các sự thật Về các khổ hữu lậu trong 3 cõi.
a. Nhị khổ:
- Nội khổ: khổ của thân tâm.
- Ngọai khổ: Khổ do sự tác động từ bên ngoài như giặc cướp, chiến tranh, thiên tai.
b. Tam khổ: Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ.
- Khổ khổ: Đối với cảnh bất như ý mà cảm thụ sự khổ.
- Hoại khổ: Đối với sự tan vở, hủy hoại của cái mình yêu mến mà cảm thụ khổ.
- Hành khổ: Thấy tất cả thế gian đều vô thường mà cảm thụ khổ.
c. Bát khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Ái biệt ly, Oán tăng hội, Cầu bất đắc và Ngũ ấm xí thạnh khổ.
d. Thập bát khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh.
e. Tam khổ về thân và tâm:
- Về thân: Lão, bệnh, tử.
- Về tâm: Tham, sân, si.
Từ Sanh đến Oán tăng hội thuộc về Khổ khổ: là tự tướng của Khổ.
Ái biết ly, Cầu bất đắc thuộc Hoại khổ: là tự tướng của Hoại.
Tất cả những khổ thuộc về năm thủ uẩn thì thuộc hai vô thường: là tướng của Hành.
Từ sinh khổ đến cầu bất đắc khổ là khổ thuộc về Thế tục đế, vì đó là cảnh giới trí thế gian.
Tất cả các khổ thuộc về năm thủ uẩn là khổ thuộc về Thắng nghĩa đế.
2. Tập Đế (Tiếng Palị là Samudaya-satya; tiếng Phạn là Samudaya-ariya sacca):
Nguyên nhân sự khổ do tích luỹ từ nhiều đời, nhiều kiếp cũng có và mới tạo tác cũng có, các phiền não ẩn chứa tập họp lại từ nhiều kiếp thì gọi là Tập nhân phiền não. Đây chính là chân đế về sự sinh khởi và nguồn gốc của các khổ mà con người ở thế gian phải chịu.
Sự khổ đã không cùng thì nguyên nhân sinh khổ cũng vô tận. Phân tích và tổng hợp lại không ngoài mười nguyên nhân sau: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến.
Tính chất của các nguyên nhân: Mười nguyên nhân sinh khổ não còn có tên là mười kiết sử. Kiết có nghĩa là trói buộc; sử là sai khiến. Mười phiền não này (kiết sử) chúng có mãnh lực trói buộc loài hữu tình không cho thoát ra khỏi ba cõi và sai sử chúng sanh lăn trôi trong sinh tử luân hồi chịu trầm luân khổ ải. Kiết sử có thứ chậm lụt nhưng có gốc lớn sâu dày, khó tu sửa. Có thứ thì ở khơi khơi, thuộc phần ý thức. Thứ gốc rễ sâu dày gọi là độn sử, gồm năm kiết sử đầu. Thứ kiết sử ở phần động của ý thức nên nhanh nhẹn, nhưng nếu được người khai đạo thì nó tự tiêu trừ, gồm năm kiết sử sau, còn gọi là lợi sử.
- Mười kiết sử xuất hiện trong Tứ Đế thăng giáng ở ba cõi tạo thành 88 món kiến hoặc và 81 món tự hoặc.
- Kiến hoặc là những nhận biết sai lầm ý thức, khi được khai phóng tức có thể xả ly đoạn diệt.
- Tư hoặc thì phải đến bậc Tu Đạo, nghĩa là thứ lớp chứng đắc mới có thể chứng được.
3. Diệt Đế (Tiếng Palị là Nirodha-satya):
Diệt là tịch diệt, xét rõ sự thật và đoạn trừ cội gốc các khổ cùng ái dục thì được khổ diệt, nhập vào cảnh giới Niết bàn (diệt ở đây có nghĩa là diệt vô minh, dục vọng, phiền não. Khi diệt xong các loạn tặc ấy, chắc chánh hành giả sẽ vĩnh viễn ly sinh tử luân hồi, được tự tại an vui tịch lạc). Diệt đế chính là chân đế về sự diệt tận Khổ vả Tập.
a. Thứ lớp đoạn hoặc: Tập nhân phiền não rất phức tạp, có thứ nông cạn dễ dứt trừ, có thứ sâu kín khó dứt. Do vậy có hai thứ lớp đoạn hoặc:
- Kiến đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm thuộc 5 kiết sử đầu, khi hành giả tu tập thấy được Chánh Pháp (ngộ đạo) thì mới đoạn diệt được.
- Tu đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm sâu kín ăn sâu vào gốc rễ của Tâm thức, biến thành thói quen như sự chấp ngã, sự say đắm nhục dục, tham, giận, kiêu mạn v.v… hành giả phải tinh tấn tu hành phát huy trí tuệ, xả ly tham ái thì mới đoạn trừ được 5 Kiết sử sau.
b. Các tầng bậc tu chứng: có bốn bậc tu chứng từ thấp đến cao như sau:
1b.- Tứ Gia Hạnh: Hành giả phải qua bốn gia hạnh sau mới đoạn trừ được 88 món kiến sử hoặc:
- “Noãn vị”: Noãn là hơi nóng; vị là địa vị. Người xưa muốn có lửa thì phải dùng hai thanh tre cọ sát cho có sức nóng thì lửa sẽ phát ra. Người tu đạo muốn có lửa trí tuệ cũng phải qua giai đoạn tạo ra hơi nóng. Tuy nhiên hơi nóng lửa trí tuệ chưa đốt cháy được củi phiền não; hành giả cần phải tu tập trải qua giai đoạn “Noãn vị”.
- “Đảnh vị”: Đảnh là chóp cao; vị là địa vị. Thấy biết được gốc của mê lầm, nhưng chưa giải trừ được. Người tu đã bước lên đến chóp đỉnh cao của mê lầm, nhưng chân chưa rời khỏi chóp núi mê lầm.
- “Nhẫn vị”: Các Pháp sanh diệt chạy nhảy lăng xăng, rất nhiều vi tế phiền não nổi lên nhưng ta đều kham nhẫn, giữ được tín tâm, không thối xuất. Trí giác ngộ gần sáng tỏ, tâm giữ được sự tĩnh lặng không dao động chao đảo mặc dù các Pháp ẩn lăng xăng nên gọi là nhẫn.
- “Thế đệ nhất vị”: Tu quả vị này là bậc cao quý nhất trong đời, là công phu rất to tát, chỉ còn phá bỏ phần kiến hoặc, cái lầm của Phi phi tưởng thì thoát khỏi Dục giới, được quả Tu Đà Hoàn, quả vị đầu tiên của Thanh Văn Thừa.
2b.-Tu Đà Hoàn: Hán dịch là dự lưu quả (dự vào dòng Thánh). Đã đoạn được “kiến hoặc”, không còn mê lầm, ý thức đã sáng suốt nhưng thất thức còn chấp ngã, nên phải qua bảy lần sanh lại Dục giới mới gọt sạch các kiết sử phiền não thầm kín, nằm nép trong tâm thức để chứng A La Hán quả.
3b.- Tư Đà Hàm: Hán dịch là Nhất lai, nghĩa là còn một phen sanh lại cõi Dục để tu hành và dứt cho sạch phần mê lầm để đoạn trừ “tư hoặc”, mới tiến đến bực A-la-hán.
4b.- A Na Hàm: Hán dịch là Bất Lai nghĩa là không còn sinh tại cõi Dục nữa, mà sinh về cõi trời Ngũ tịnh cư thuộc, tại đây phải tu luyện để dứt sạch “vi tế hoặc”mới chứng đắc A La Hán quả.
5b.- A La Hán: Đây là quả vị cao nhất trong hàng Thanh văn. Hán dịch có ba nghĩa:
- Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí tuệ hơn cả, đáng làm phước điền cho chúng sanh cúng dường.
- Phá ác: Vị nầy đã phá tan những phiền não tội ác, không còn bị chúng khuấy phá sai sử trói buộc nữa.
- Bất sanh: Vị nầy không còn xoay vần trong sanh tử luân hồi, vì đã phá trừ được phiền não là yếu tố của sanh tử luân hồi.
A la hán có 2 bực (tùy theo căn cơ chậm lụt):
- Bất hồi tâm độn A la Hán: là vị A la hán trầm không trệ tịch, tự thỏa chí vào địa vị đã chứng, chứ không phát tâm xoay về Đại thừa.
- Hồi tâm đại A la hán: là vị A la hán lợi căn, lợi trí, phát tâm xoay về Đại thừa rộng lớn chứ không tử mãn ở địa vị đã chứng.
c. Giá trị của Tứ quả Thanh Văn:
Đây là kết quả của công phu tu tập mà quả vị chứng được do việc đoạn trừ mê lầm nhiều hay ít ngay khi còn sống đã chứng đắc, chứ không phải chết mới chứng đạt. Như ở quả vị Tu Đà Hoàn thì gọi là “kiến đạo sở đoạn” nghĩa là ý thức đã đã tương đương với “Huệ tâm sơ”, sáng suốt, trực nhận đạo lý một cách rõ ràng. Còn các vị sau, thuộc về “Tu đạo sở đoạn”, nghĩa là sau khi gột rửa các chủng tử mê lầm (tư hoặc) của thức A lại da mới chứng được. Tuy thế do sự dứt trừ phiền não sâu hay cạn, mà diệu dụng của mỗi quả vị khác nhau. Vì thế mà ngay ở địa vị “Kiến đạo sở đoạn” là đã thành tựu năm phép thần thông. Từ đây chỉ còn chứng Lậu tận thông nữa là vào A La Hán Quả.
4. Đạo Đế (Tiếng Palị là Mãrga-satya):
Con đường chân thật đưa đến cảnh giới diệt khổ, tức là giáo thuyết lý luận và con đường tu tập để vượt qua sự quan hệ nhân quả thế gian “khổ”, “tập” mà đạt được Niết bàn tịch tĩnh xuất thế gian. Theo kinh A Hàm của Phật giáo Nguyên thủy, Đạo đế chính là Bát Chánh đạo, nhưng theo Luận Đại Trì độ, luận Thành Thật và luận Tứ Đế thì cho rằng Đạo đế bao gồm 37 phẩm trợ đạo, tóm lược như sau:
a. Tứ niệm xứ:
Bốn lãnh vực quán niệm để nhìn thấy thật tướng của vạn Pháp:
1. Quán thân bất tịnh.
2. Quán cảm thọ là khổ.
3. Quán tâm vô thường.
4. Quán Pháp vô ngã.
b. Tứ Chánh Cần:
Bốn điều chân chánh mà Phật tử phải siêng năng tu trì:
1. Dứt trừ các điều ác đã phát sinh.
2. Ngăn chặn các điều ác chưa phát sinh.
3. Phát triển những việc thiện đã làm.
4. Cố gắng làm thêm nhiều những việc thiện mới.
c. Tứ như ý túc:
1. Dục như ý túc.
2. Nhất tâm như ý túc.
3. Tinh tấn như ý túc.
4. Quán như ý túc.
d. Ngũ căn:
Năm đức tính căn bản Phật tử phải hành trì tu tập.
1. Tín căn.
2. Tấn căn
3. Niệm căn
4. Định căn
5. Tuệ căn
e. Ngũ lực:
Năm sức mạnh dùng để đối trị với tâm bất định, tâm tán loạn và bất chánh tri, tức sự hiểu biết không đúng chánh Pháp.
1. Tín lực: sức mạnh của đức tin
2. Tấn lực: sức mạnh của tinh tấn
3. Niệm lực: sức mạnh của quán niệm
4. Định lực: sức mạnh của Thiền Định
5. Tuệ lực: sức mạnh của trí tuệ.
f. Thất Bồ Đề phần:
Có sách gọi là Thất giác chi, tức bảy yếu tố giác ngộ.
1. Niệm: Quán niệm
2. Trạch Pháp: Chọn lựa Pháp môn – Quán chiếu vạn Pháp
3. Tinh tấn: Tinh cần, siêng năng, không giải đãi
4. Hỷ lạc: (Hỷ lạc xuất thế) vui vẻ và an lạc
5. Khinh an: Nhẹ nhàng an lạc
6. Định: Thiền định
7. Hành xả: buông bỏ những đối tượng ảo vọng không có thực thể, tức vô nguyên, vô tác.
g. Bát Chánh Đạo:
Con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố:
1. Chánh Kiến: Cái thấy biết chân chánh.
2. Chánh tư duy: Nếp tư duy chân chánh.
3. Chánh ngữ: Lời nói chân chánh.
4. Chánh nghiệp: Hành động, việc làm chân chánh có lợi cho mình và lợi ích cho chúng sanh.
5. Chánh mạng: Nghề nghiệp để sinh sống chánh đáng, lương thiện, không bạo tàn, hèn mạt.
6. Chánh tinh tấn: Chuyên cần trong nẻo chánh.
7. Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh để hành sử mọi lẽ và mọi việc lành đúng thiện Pháp.
8. Chánh định: Thiền định đúng chánh Pháp.
C. suy nghiệm:
Với ba lần chuyển thời Tứ Đế:
1- Lần thứ nhất là: THỊ CHUYỂN:
- Đây là sự khổ phải biết.
- Đây là nguyên nhân khổ phải trừ.
- Đây là đạo diệt khổ phải tu.
- Đây là Niết Bàn phải chứng.
2- Lần thứ hai: KHUYẾN CHUYỂN:
- Đây là sự khổ nên biết.
- Đây là nguyên nhân sự khổ nên trừ.
- Đây là đạo diệt khổ nên tu.
- Đây là Niết Bàn nên chứng.
3- Lần thứ ba là: CHỨNG CHUYỂN:
- Đây là sự khổ ta đã diệt.
- Đây là nguyên nhân sự khổ ta đã trừ.
- Đây là đạo diệt khổ ta đã tu.
- Đây là Niết Bàn tịch diệt ta đã chứng.
Tứ Thánh Đế xứng đáng là thời sơ chuyển Pháp luân, vì:
- Tứ Thánh Đế giải thích cặn kẽ chân thật tánh của các Pháp.
- Những vấn đề nhân sinh vũ trụ đều được giải thích hết sức rõ ràng khoa học.
- Lý luận khúc chiết, đường hướng tu tập rõ ràng, dễ nhớ dễ tu. Tiến trình tu tập từ thấp đến cao, dễ dàng áp dụng cho mọi tầng lớp trong xã hội.
Như vậy Tứ Thánh Đế là bài học căn bản mà bất cứ Phật Tử nào cũng phải chiêm nghiệm suy xét để thực hành trong đời sống hàng ngày. Có như vậy thì gọi là tu để chuyển khổ đau thành an lạc, phiền não thành Bồ Đề.
D. ứng dụng và tu tập:
Để ứng dụng cho bản thân các em vào trong cuộc sống, các em cần học cho thật kỷ, suy nghĩ cho chín chắn và nhất là các em cần phải kiên trì từng bước thực hành theo bài học có như vậy chúng ta mới bỏ ác theo thiện đúng như 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.
Chú thích:
(*) Theo Tự điển Phật học Hán Việt của Phân viên Nghiên cứu Phật học – NXB. Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1998.
(**) Theo Tự điển Phật học Huệ Quang – Tập 5 – Trang 4772- Nhà XB TP.HCM 2005
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Bát Chánh Đạo

A. GIỚI THIỆU:
Lúc chuyển pháp luân Đức Thế Tôn thuyết về việc xa lìa 2 bên dục lạc và khổ hạnh, đi theo con đường Trung đạo tức chỉ cho Bát Chánh đạo này. Và trong thời pháp Tứ Đế do Đức Bổn sư thuyết giảng cho 5 anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, Bát Chánh Đạo lại được Đức Thế Tôn nêu lên như là tám con đường tu học chân chánh, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Bát Chánh Đạo là con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố mà con người cần phải tự mình tuân thủ mới đem lại lợi lạc trên con đường tu tập cho chính bản thân cũng như xã hội, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Là pháp môn thực tiển đại biểu nhất trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Phật giáo, tức là 8 phương pháp hoặc 8 đường tắc chính xác hướng thẳng đến Niết bàn giải thoát.
Theo kinh “Phân biệt Thánh Đế”, “Trung A hàm 7”, “Luận Tứ đế 4”, “Luận Đại Tì-bà-sa 9” thì Bát Chính đạo còn gọi là Bát Thánh đạo, Bát chi thánh đạo, Bát thánh đạo phần, Bát đạo hạnh, Bát trực hạnh, Bát chính, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, Bát lộ. Là Tám thứ chính đạo cầu Niết bàn.
II. HÀNH TƯỚNG CỦA BÁT CHÁNH ĐẠO:
1. Chánh Kiến (Chánh tri kiến):
Là kiến thức chân chánh. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý như:
- Nhận thức được những lý duyên sinh, vô thường, vô ngã.
- Nhận thức được những quả báo của hành động, của thân, ý.
- Nhận thức được sự sống của mình, của người có liên hệ mật thiết với nhau, với cả toàn bộ vũ trụ rộng lớn.
- Nhận thức được các pháp thiện, bất thiện ……
Trái với Chánh Kiến là Tà Kiến, là nhận thức sai lầm:
- Cho sự hiện hữu của tự thân và hoàn cảnh đều là tự nhiên không có quả báo cùng nhiều duyên khác tập hợp.
- Chấp có thượng đế tạo vật rồi phủ nhận nhân quả nghiệp báo.
- Chủ trương định mệnh rồi phủ nhận kết quả hạnh nghiệp.
- Quan niệm giai cấp làm gián cách giữa người và người, giữa người và muôn vật.
- Cố chấp thành kiến quan niệm, phân biệt phải trái.
- Chấp theo thần thoại mê tín dị đoan.
2. Chánh Tư Duy:
Suy nghĩ chân chánh. Nghĩa là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người:
- Suy nghĩ với định huệ để tu tập giải thoát.
- Suy nghĩ nguyên nhân đau khổ của chúng sanh để giải thoát và khuyến tu.
- Suy nghĩ những hành vi lỗi lầm và tâm niệm xấu xa để sám hối cải đổi.
Chánh tư duy cũng gọi là chánh dục, nghĩa là mong muốn chân chánh, trái lại là tà tư duy và tà dục vọng:
- Suy nghĩ tà thuật để làm mê hoặc lòng người.
- Suy nghĩ những phương cách sâu độc, để đi ám hại mọi người, mọi loài.
- Suy nghĩ mưu cơ để trả thù, trả oán.
- Suy nghĩ về tài sắc, danh vọng.
3. Chánh Ngữ:
Lời nói chân chính ngay thật, có lợi ích chính đáng:
- Lời nói thành thật và sáng suốt.
- Lời nói ngay thẳng, hợp lý không thiên vị.
- Lời nói hoà nhã, rõ ràng và giãn dị.
- Nói lời lợi ích, dung hòa, gây cảm thông giữa mọi người, khuyến tấn và duy nhất.
Trái với Chánh Ngữ là Tà Ngữ, là lời nói không chánh đáng, có tổn hại đến đời sống cùng danh dự mọi người:
- Nói dối trá, máy móc không đúng sự thật.
- Nói không ngay thẳng, thiên vị, dua nịnh, xuyên tạc, ngụy biện.
- Nói sâu độc, đay nghiến, nguyền rủa, nhiếc mắng vu họa và thô tục.
- Nói chia rẽ có di hại.
4. Chánh Nghiệp:
Hành động chân chính, nghĩa là hành vi động tác cần phải sáng suốt chân chánh có lợi ích:
- Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống và hạnh phúc chung của mọi người và mọi loài.
- Tôn trọng nghề nghiệp và tài sản của mọi người không lăng đoạt xâm phạm.
- Giữ hạnh thanh tịnh chân chánh, không đàng điếm trác táng.
- Biết phục vụ chức nghiệp và tận tâm với việc làm.
- Biết hy sinh chánh đáng để giải thoát nổi khổ cho mình và cho mọi người.
Trái với Chánh Nghiệp là Tà Nghiệp như sát sanh, trộm cắp, lừa đảo….
- Sát hại, tàn bạo.
- Sống xa hoa, trác táng.
- Trộm cắp xâm đoạt.
- Sáng chế khí cụ mãnh lợi để sát hại.
- Chế hóa vật giá để dối gạt người.
- Lợi dụng văn nghệ để kích thích sự đàng điếm ăn chơi trác táng.
5. Chánh Mạng:
Phương thức mưu sinh chân chánh, nghĩa là làm những nghề lương thiện, không bạo tàn, không dối gạc xảo trá, hèn mạc ……
- Tận lực làm việc để sinh sống, nhưng không tổn hại đến người và vật.
- Đem tài năng chân chính để sinh sống chứ không giả dối, máy móc, lường gạt mọi người.
- Sống thanh cao không lòn cúi vô lý.
- Sống đúng chánh giáo không mê tín dị đoan.
Trái với Chánh Mạng là Tà Mạng:
- Cày cuốc ruộng vườn nhưng coi thường sinh mạng chúng sinh (người xuất gia không nên làm).
- Xem sao tính vận và ướt đạt thời tiết thay đổi, tinh tú thiết di để sinh sống.
- Chiều chuộng quyền quý, dùng miệng lưỡi làm trung gian giao dịch để sinh sống.
6. Chánh Tinh Tấn:
Siêng năng tu học, làm những việc chân chính có lợi cho mình và cho người:
- Thấy mình có tội ác siêng năng sám hối trừ bỏ.
- Tội ác và lỗi lầm chưa sanh, siêng năng tu tập các pháp lành để giữ gìn ngăn đón.
- Thấy mình chưa có phước nghiệp, siêng năng và cố gắng đào tạo phước nghiệp.
- Đã có phước nghiệp, siêng năng tu trì để tiến triển thêm lên.
Trái với Chánh Tinh Tấn là Tà Tinh Tấn như siêng đi bài bạc, rượu chè ……
- Siêng năng đi sát hại.
- Siêng năng gian xảo trộm cắp.
- Siêng năng đàng điếm.
- Siêng năng dối trá, hiểm độc, xuyên tạc và dua nịnh.
- Siêng năng rượu chè, cờ bạc, ca kỹ.
7. Chánh Niệm:
Nhớ nghĩ Chân Chánh. Có hai thứ nhớ nghĩ: Chánh Ức Niệm là nhớ nghĩ đến cảnh quá khứ; Chánh quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và sắp đặt, tưởng tượng cảnh tương lai.
* Ức niệm có 2:
a. Ức niệm chân chính:
- Nhớ ơn cha mẹ, thầy tổ để báo đáp.
- Nhớ ơn nước nhà để phụng sự sáng suốt.
- Nhớ ơn chúng sanh giúp dỡ để đền trả.
- Nhớ ơn Tam bảo để tu hành.
- Nhớ lỗi lầm xưa để sám hối lại mà cải đỏi.
b.Ức niệm không chân chính:
- Nhớ lại khuyết điểm của người để phê bình chế diễu.
- Nhớ lại oán hận cũ để phục thù.
- Nhớ lại dục cảnh xưa để hoan lạc, thỏa thích và bồi trợ dục tâm.
- Nhớ lại hành động xảo trá và tàn bạo vừa qua để hảnh diện, tự đắc.
* Quán niệm có 2:
a. Quán niệm chân chính:
- Quán niệm từ bi: cảnh đời tật bệnh, khổ, cô quả và tối tăm của chúng sanh, trong hiện tại và cả tương lai vô số tai nạn xảy ra, sanh tâm thương xót, giúp đỡ và tìm phương đề phòng che chỡ.
- Quán niệm trí tuệ: nguyên nhân sanh hóa của vũ trụ vạn vật, hữu tình, vô tình oán thân, tốt, xấu v.v….để tu và khuyến giáo được rõ ràng, thuận lợi, giải thoát.
b. Quán niệm không chân chánh:
- Nhớ nghĩ tài sản, danh vọng.
- Nhớ nghĩ phương tiện sát hại.
- Nhớ nghĩ độc kế, thâm mưu.
- Nhớ nghĩ văn từ xảo trá.
- Nhớ nghĩ cao lương mỹ vị.
8. Chánh Định:
Tu đúng theo giáo pháp Phật dạy, phải thọ giáo với minh sư:
- Bất tịnh quán: quán sát các pháp không thanh tịnh để trừ tham dục si ái,...
- Từ bi quán: quán sát tất cả hữu tình chúng sanh đồng một chân tâm bình đẳng, không khác, để tăng trưởng kính tâm và thương xót cứu độ đoạn trừ tâm hận thù.
- Nhân duyên quán: quán sát tất cả các pháp hữu hình như sự vật, vô hình như tâm niệm, lớn như núi sông, nhỏ như vi trần nếu có một pháp riêng đều là giả hợp duyên sanh không chân thật, trường tồn, để đoạn trừ ngu si, thiên chấp.
- Giới phân biệt quán: phân biệt và quán sát sự giả lập của 18 giới (6 căn + 6 trần + 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp, mục đích trừ ngã chấp và phá chấp.
- Sổ tức quán: quán hơi thở ra vào để đối trị với tâm tán động, ly loạn.
Trái với Chánh định là Tà định:
- Tu diệt tận định (diệt hết 7 hiện hành của thức) cầu chứng quả Niết bàn giả danh.
- Tu Vô tưởng định (diệt hết hiện hành của 6 thức trước) cầu an vui các cõi trời ngoại đạo.
- Tu thuyền định để luyện đơn, vận khí... cầu thần thông, trường sanh, pháp lạ, tu, tiên ngoại đạo.
C. SUY NGHIỆM:
Bát Chánh đạo là pháp môn chính yếu được Đức Thế Tôn nhắc nhở đến nhiều nhất trong các kinh, trong thuyết Tứ Đế, Bát Chánh đạo là phần căn bản của Đạo đế. Đặt tính của Bát Chánh đạo là quy định những nguyên tắc phổ quát cho mọi tầng lớp dân chúng và nó phù hợp căn cơ của mọi người, mọi thời đại, phương sở. Trong Bát Chánh đạo đã bao quát hết tất cả mọi pháp khác bao gồm ba nguyên tắc căn bản Giới, Định, Tuệ: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thuộc về Giới. Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định và Chánh Kiến, Chánh Tư Duy thuộc về Tuệ.
Ngoài ra Bát Chánh đạo còn vượt lên trên những ước thúc của giới luật, nhằm phát huy mọi diệu dụng, theo với mọi phương tiện sinh họat để vươn thẳng tới chủ đích giải thoát. Vì vậy mà Bát Chánh đạo trở thành một pháp môn thực tiển có thể thực hành trong hoàn cảnh xã hội của thời đại chúng ta hiện nay.
D. ỨNG DỤNG VÀTU TẬP:
Thấy rằng thực hành Bát Chánh Đạo là cải thiện tự thân và từ đó cải thiện xã hội để thực hiện lý tưởng Gia Đình Phật Tử nên em quyết tâm thực hành pháp tu này.
Trước hết thực hành trong từng lời nói, ý nghĩ và hành động của mình. Đắn đo trước khi nói, kiểm soát từng ý nghĩ coi thử đã chánh chưa? Hễ thấy tà một chút, ngụy một chút thì phải nghiêm khắc kiểm soát mình, tự phê bình và thành tâm sám hối. Việc làm này không phải mỗi ngày 1, 2 lần mà phải gần như luôn luôn. Nguyện luôn luôn giữ gìn Chánh Niệm, luôn luôn tỉnh thức để biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì… những ý nghĩ, lời nói, hành động ấy có đúng chánh pháp chưa?
Khi vào đời, áp dụng Bát Chánh Đạo vào bình diện lớn là chính cuộc sống của bản thân mình. Từ nghề nghiệp, cách xử thế, cách chọn bạn… đã đi vào 8 con đường chân chánh chưa? Chỗ nào chưa phải chỉnh lại, nếu không, sai một ly sẽ đi một dặm, ảnh hưởng tới sự tu học hướng thượng của mình.
Thực hành Bát Chánh đạo để cải tạo tự thân, làm nhân địa để cải tạo hoàn cảnh xã hội, thực hiện lý tưởng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam.
Câu hỏi
- Định nghĩa Bát Chánh Đạo và nói nội dung?
- Trong Bát Chánh Đạo, “Chánh” nào là quan trọng và can thiết nhất? Tại sao?
- Tại sao nói Bát Chánh Đạo là pháp môn tu dựa trên cơ sở Giới, Định, Tuệ?
- Tại sao thực hành Bát Chánh Đạo thì có thể cải thiện tự thân và hoàn cảnh xã hội nữa?
- Em có nghe: “Bát Thánh Đạo” không? Có phải nội dung như Bát Chánh Đạo ta đang học ở đây? Nhưng tại sao gọi là “Bát Thánh Đạo”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Lục hòa

I. VĂN:
Hồi đức Phật còn tại thế, tại tu viện Ghosira (Cùsưla) thuộc thành phố Kosambi Vương quốc Vamsa, đã xảy ra một vụ tranh chấp giữ một vị Kinh sư và một vị Luật sư. (Kinh sư là những vị chuyên giảng dạy và ôn tụng những lời Phật dạy, Luật sư là những vị chuyên lo trì tụng về giới luật).
Nguyên nhân của sự tranh chấp thật là bé nhỏ, nhưng vì lòng tự ái của một số các thầy mà vụ tranh chấp đã gây nên chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị Kinh sư vì vô ý đã không đổ nước trong chậu sau khi dùng, vị Luật sư cho đó là phạm luật. Vị Kinh sư nghĩ là vì không cố tình nên không có tội. Thế là cuộc tranh chấp leo thang.
Cuối cùng là vị Luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị Kinh sư đã phạm giới, và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham dự các buổi Bố tát, tụng giới…Tình trạng trở nên căng thẳng và những lời qua tiếng lại nầy cũng tai hại như những mũi tên độc. Các vị Khất sĩ chia làm hai phe, và may mắn là cũng có những vị không theo bên nào. Khi đức Phật được biết chuyện, Ngài liền đi tìm Luật sư và nói: “Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm của chúng ta mà phải lắng nghe và chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong đại chúng”. Rồi Ngài đi tìm vị Kinh sư, cũng nói với những lời trên đây, hy vọng sẽ đi tới sự hòa giải. Nhưng không có hiệu quả. Quý vị Tu sĩ ở giữa không đủ sức dàn xếp một cuộc hoà giải.
Thế là nội vụ đã tới tai giới Cư sĩ tại gia, và chẳng bao lâu các Giáo phái bên ngoài đều biết. Đức Phật triệu tập đại chúng và nói: “Xin quý vị hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ Giáo đoàn, xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật sự, chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận hờn và chia rẽ nữa”.
Mặc dù đức Phật đã nói vậy nhưng sự hoà hợp không được tái lập, tình trạng chia rẽ ở đây vẫn còn. Phật lặng lẽ từ bỏ Kosambi, đi về phía công viên Đông Trúc Lâm, nơi có các đệ tử Phật tu học. Người đến đó hỏi thăm các vị đệ tử: “Các thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học, khất thực và hành hoá có được dễ dàng không?”.
Các thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây an ổn, khung cảnh an tịnh, và việc khất thực, hành hoá cũng dễ dàng. Chúng con đã đạt nhiều tiến bộ trong tu học”.
Phật hỏi:
- Các thầy có thương mến nhau hoà hợp với nhau không?
- Thưa, chúng con rất thương mến và hoà hợp nhau. Chúng con biết chia sẽ cho nhau đồng đều mọi thứ, từ chỗ ăn, chỗ ngủ đến kiến thức và kinh nghiệm tu học, chúng con đều chia sẽ cho nhau.
Phật khen:
- Tốt lắm, ta rất hài lòng thấy các thầy đối xử với nhau như vậy. Có sự hoà hợp đó, một đoàn thể mới thực sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thực sự tỉnh thức cho nên mới thực hiện được sự hoà hợp đó.
Trước khi từ giã các thầy ở đây, Phật nói:
- Các thầy: Bản chất của một tăng đoàn là sự hoà hợp. Theo tôi, ta có thể minh định sự hoà hợp đó như sau:
1. Thân hoà đồng trú: Cùng chia sẽ với nhau một nơi tu học, một khu rừng, hay một mái nhà. Nên hiểu là thân hành từ ái, khiêm cung, trìu mến.
2. Khẩu hoà vô tranh: Tránh những lời nói có thể gây ra thắc mắc, chia rẽ. Nên hiểu là khẩu hoà từ ái.
3. Ý hoà đồng duyệt: Các ý kiến khác nhau sẽ được trao đổi, tạo sự vui vẻ, hoà hợp trong tập thể, không bắt buộc người khác theo ý kiến riêng của mình, phải khéo léo để tất cả cùng đi đến ý chung, đúng đắn nhất.
4. Kiến hoà đồng giải: Trao đổi, chia sẽ những hiểu biết, kinh nghiệm cho nhau.
5. Lợi hoà đồng quân: Cùng chia sẽ đồng đều những tiện nghi cuộc sống.
6. Giới hoà đồng tu: Cùng hành trì với nhau những giới luật đã được truyền thọ.
Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên tắc hoà hợp này mà sống với nhau.
Về việc tranh chấp giữa hai vị Kinh sư và Luật sư: Tại tu viện Cấp Cô Độc, với sự dàn xếp của Ngài Xá Lợi Phất, hai bên đã thành tâm sám hối trước Phật, trước Tăng Đoàn. Được Phật, đại chúng chứng minh, hai vị đã có giới thể trở lại thanh tịnh.
II. TƯ:
Qua câu chuyện trên, em thấy rằng pháp Lục Hòa này không những cần cho Tăng đoàn mà cần cho mọi tập thể, cụ thể là đoàn, đội, chúng, … trong GĐPT, cả gia đình nhỏ của chúng ta nữa.
Bất cứ cuộc tranh chấp nào dù lớn hay nhỏ cũng đem lại sự tổn thất cho cả hai bên, nhất là làm ảnh hưởng cả những người “vô can”. Do đo, ta phải chấm dứt mọi sự tranh chấp khi nó vừa xảy ra và ngăn ngừa không cho nó xảy ra.
Sự cãi cọ và gây chia rẽ là chất độc giết chết sự hòa hợp của tập thể và tín tâm tu học của mọi thành viên trong tập thể. Ngoài ra, Đức Phật dạy: “Nó là biểu hiện sự thiếu tu học thật sự”.
III. TU:
Em sống trong những tập thể nhỏ khác nhau: gia đình, lớp học, đoàn, đội, chúng, … Trong GĐPT cũng như trong lớp học, … em quyết thấm nhuần tinh thần lục hòa và sống cho hợp khung cảnh để phổ biến cho những thành viên trong tập thể của em.
Em tự soi rọi lại mình trong cách cư xử với mọi người trên căn bản lục hòa (một phần hay toàn phần). Nếu em là một đoàn, đội hay lớp trưởng, em càng phải soi rọi lại mình nhiều hơn mới duy trì được sự hòa hợp của tập thể mình.
IV. CÂU HỎI:
- Nguyên nhân Phật dạy Pháp Lục hòa?
- Em hãy triển khai từng nguyên tắc, bằng cách cho ví dụ minh họa?
- Theo em cái gì là nguyên nhân chính đã làm cho một vụ tranh chấp bé nhỏ bị xé ra to? Em hãy kể lại một trường hợp nào mà em đã kinh nghiệm hoặc em biết đã xảy ra và kết thúc câu chuyện được dàn xếp như thế nào?
- Từ bài học lục hòa, em hãy dựa theo và thành lập một nội quy cho anh, chị, em của em (giả sử em có bốn, năm anh, chị, em trong gia đình mà em không phải là con trưởng hay con út để tránh gây gỗ và tạo sự hòa thuận làm vui lòng cha, mẹ).
- Tinh thần Lục hoà có thể áp dụng một cách rốt ráo đối với người tại gia hay không? Vì sao? Thế nhưng tại sao người tại gia lại vận dụng “Lục hoà” trong cuộc sống tập thể, gia đình cũng như xã hội?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Lục độ

A. DẪN NHẬP
Lục độ là pháp môn tu đặc thù, pháp môn cao nhất trong sự hành trì của đạo Phật, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm vào cái không tính của chân như, cái trạng thái mà kinh Kim Cang đã dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Khi tu theo pháp môn này hành giả không còn khái niệm phân biệt “Nhân, ngã, bĩ, thử” mà hòa đồng vào cái lý mầu nhiệm, giải thoát của đạo Phật, cái thể tính chân không của vạn hữu.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Độ tiếng Phạn là Ba-La-Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua, từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết bàn.
Lục độ là 6 hạnh có thể đưa hành giả và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu hạnh là: Bố thí Ba La Mật, trì giới Ba La Mật, nhẫn nhục Ba La Mật, tinh tấn Ba La Mật, thiền định Ba La Mật và trí tuệ Ba La Mật.
II. HÀNH TƯỚNG:
1. Bố thí Ba La Mật:
a. Định danh:
Bố là cùng khắp; Thí là cho, trao tặng. Bố thí là đem của tư hữu của mình đem cho cùng khắp tất cả mọi người không phân biệt giới hạn người hay vật, thân hay sơ. Hễ thấy ai còn thiếu thốn vật gì, nếu sẵn có, đều bình đẵng giúp tất cả không luyến tiếc.
b. Thành phần của Bố thí Ba La Mật:
Gồm có 3 phương thức sau đây:
- Tài thí: tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí cũng có 2 phương thức:
+ Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình như thân mạng, có nghĩa là khi cần thiết vẫn xã thân mình để cứu giúp người khác không kể sự nguy hiểm đến thân mạng nếu có. Đây là phương pháp bố thí cao nhất mà chỉ có những người giàu lòng từ bi, mới làm được (trong các câu chuyện tiền thân của Đức Thế tôn)
+ Ngoại tài: là những vật thường dùng trong đời sống của mình như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc..
- Pháp thí: là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy của chư Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác, hoặc y theo giới luật của Phật để hành trì trong đời sống hằng ngày nhằm làm khuôn mẫu cho mọi người bắt chước bỏ ác làm thiện. Pháp thí là một phương thức bố thí có một giá trị lớn lao, nó có tác dụng huân tập về mặt tinh thần mang đến nhân lành không những cho kiếp này mà cả những kiếp sau, không kể nghèo khó hay giàu sang, lao động hay trí thức.
- Vô uý thí: Trong cuộc sống, sự sợ hải trước bao nhiêu điều đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra là một tâm lý khổ đau nhất, chiếm hết quá phân nữa thời gian của kiếp người. Do đó khi thực hiện Vô úy thí là mang lại cho họ sự bình tĩnh tuyệt đối trước mọi sự kiện bằng chính hành động của bản thân, nhằm tạo cho họ một tâm an tịnh hầu xử dụng lý trí suy xét của từng sự kiện, phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ của đức Phật. Để qua các giáo lý thích hợp đó tâm họ không còn xao động và bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Tóm lại tu hạnh vô úy thí khi hành giả đi đến đâu cũng đem đến một sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật.
c. Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:
Nói đến hạnh Bố thí Ba la mật cần phải nhận rõ 2 điểm sau đây: Bố thí chấp tướng và Bố thí không chấp tướng:
+ Bố thí chấp tướng: là bố thí với một dụng tâm không trong sạch (cầu danh, cầu tài lợi, vì ganh đua, vì muốn làm nhục và khinh rẽ người, vì sự lừa lọc, bất công, thiên vị). Đây chính là bố thí thuộc về hữu lậu kết quả rất mong manh như mây nỗi giữa hư không gặp gió thổi thì tan biến.
+ Bố thí không chấp tướng: là bố thí Ba la mật: với một dụng ý trong sạch, đúng với ý nghĩa của nó, bố thí với tâm từ bi bình đẳng, bố thí với tâm không thấy kẽ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.
Ngoài ra bố thí thì phát sanh các công năng sau đây:
+ Diệt lòng tham lam ích kỷ
+ Đem lại ấm no
+ Phát triễn chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.
+ Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.
2. Trì giới Ba La Mật:
a. Định danh:
Trì giới Ba la mật là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.
b. Thành phần của giới luật:
Có thể chia ra làm 3
- Giới tại gia: là những giới dành cho những người cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
- Giới xuất gia: là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:
+ Sa di và Sa di ni giữ 10 giới
+ Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.
+ Tỳ kheo giữ 250 giới.
+ Tỳ kheo ni giữ 348 giới.
- Giới Đạo và Tục thông hành: là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới:
+ Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác): là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.
+ Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.
+ Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh): làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi., hỷ, xả.
c. Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
Cũng như hạnh Bố thí cũng có 2 loại:
+ Trì giới chấp tướng: là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.
+ Trì giới không chấp tướng: là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật: không chấp có sự tướng.
Ngoài ra tu hạnh trì giới có các công năng:
+ Ba nghiệp thanh tịnh: không sanh các tà niệm
+ Các thiện công đức phát sanh.
+ Nêu cao giá trị: không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.
+ Người và vật kính yêu: không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.
3. Nhẫn nhục Ba La Mật:
a. Định danh:
Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.
b. Thành phần của nhẫn nhục:
Có 3 thành phần:
+ Thân nhẫn: đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.
+ Khẩu nhẫn: Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chửi, phàn nàn, nguyền rủa.
+ Ý nhẫn: Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.
Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như:
- Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
- Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập.
- Nội pháp nhẫn: Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
- Ngọai pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phần uất.
Và 2 loại nhẫn nhục:
+ Nhẫn nhục có chấp tướng: là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.
+ Nhẫn nhục không chấp tướng: là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.
c. Công năng của Nhẫn nhục:
+ Không làm những việc vô ý thức
+ Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.
+ Không trụy lạc theo năm dục.
4. Tinh tấn Ba La Mật:
a. Định danh:
Tinh tấn là không ô nhiểm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.
b. Thành phần của Tứ chánh cần:
Gồm có 4 điều:
+ Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.
+ Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.
+ Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.
+ Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.
Tinh tấn có 2 lọai:
+ Tinh tấn có chấp tướng: là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng..
+ Tinh tấn không chấp tướng: là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
c. Công năng của hạnh Tinh tấn:
+ Dũng mãnh hăng hái: diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.
+ Không thối xuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.
+ Tiến gần đến đạo giải thoát.
5. Thiền định Ba La Mật:
a. Định danh:
Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)
b. Các loại thiền định:
+ Quán hởi thở: Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dỏi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.
+ Quán hạnh từ bi: Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.
+ Quán sự không thanh tịnh: Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.
+ Quán về pháp nhân duyên: Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.
+ Quán theo niệm Phật: Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.
Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.
c. Công năng của pháp môn Thiền định:
+ Loại trừ bớt lòng tham dục: nhờ quán thanh tịnh.
+ Trừ nóng giận: nhờ quán từ bi
+ Phá si mê: nhờ quán nhân duyên
+ Ngăn các phiền não: nhờ quán niệm Phật
+ Diệt loạn tâm: nhờ quán hơi thở.
+ Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật
6. Trí huệ Ba La Mật:
a. Định danh:
Là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.
Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì: Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.
b. Các loại trí huệ:
Về cơ cấu thì trí huệ có 2 lọai
- Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
- Hậu đắc trí: là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:
+ Đại viên cảnh trí: Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.
+ Bình đẵng tánh trí: Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã
+ Diệu quan sát trí: Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.
+ Thành sở tác trí: Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiết, thân).
Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhật với các tên gọi:
+ Văn huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.
+ Tư huệ: là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.
+Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.
c. Công năng của trí huệ
+ Diệt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.
+ Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.
+ Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.
C. SUYNGHIỆM:
Trừ mê diệt khổ là nguyên vọng duy nhất của người con Phật. Muốn đạt được nguyện vọng ấy cần phải cương quyết thực hành sáu hạnh độ, chỉ vì chỉ có 6 hạnh độ mới có đủ công năng đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.
Với chúng ta những con người thuộc hàng sơ cơ, nên khó có thể hành trì ngay tức thời 6 hạnh độ, tuy thế phải ghi nhớ lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, do đó mình cũng có khả năng giải thoát và giác ngộ, nếu tự mình chí tâm thì có thể tu hành để phát triễn khả năng giải thoát và giác ngộ sẵn có của mình để từ đó dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.
D. TU TẬP:
Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách:
1. Phát Bồ đề tâm:
Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn:
+ Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.
+ Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.
+ Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.
+ Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.
2. Xem thường tài sản và tính mạng:
Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.
3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ:
Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm: chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Mười điều thiện

Văn:
Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.
Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.
ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.
Nghiệp là gì?
Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).
Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý
1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:
a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh
b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.
c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.
2. Nh ữ ng nghiệp dữ:
Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.
A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:
1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:
Tất cả chúng sanh đều kính mến
Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
Trừ sạch thói quen giận hờn
Thân thể thường được khỏe mạnh
Tuổi thọ được lâu dài
Thường được thiên thần hổ trợ
Ngủ ngon giấc và không ác mộng
Trừ hết các mối oán thù
Không đọa vào ba đường ác
10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.
2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:
1. Được nhiều người tin cậy.
2. Không bị lừa dối gạt gẫm.
3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.
4. Lòng được an ổn.
5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.
6. Khi chết được sanh lên cõi trời.
3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích
- Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
- Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
- Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
- Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:
1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.
Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.
Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:
- Miệng thường thơm sạch.
- Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
- Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
- Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
- Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.
2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:
- Được người trí thức yêu mến.
- Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
- Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.
3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:
- Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
- Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
- Đức tin bất hoại.
- Pháp hạnh bất hoại.
4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:
- Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
- Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
- Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:
1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:
- Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
- Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
- Phúc đức tự tại.
- Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.
2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:
- Tâm không khổ não.
- Tâm không giận hờn.
- Tâm không tranh giành.
- Tâm nhu hòa ngay thẳng.
- Tâm từ bi như Phật.
- Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
- Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
- Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.
3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.
Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.
Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:
Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
- Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
- Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
- Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
- Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
- Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
- Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
- Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
- Ở yên vào nơi chánh kiến.
10. Không bị nạn dữ.
* Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.
Tư:
Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
- Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
- Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
- Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
- Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.
Tu:
Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.
Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.
- Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
- Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
- Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.
Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.
Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.
Câu hỏi:
- Mười điều thiện là gì?
- Nghiệp là gì?
- Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
- Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Nguyên tắc ứng dụng: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Lục hòa, Lục độ, Thập thiện
Ứng dụng vào đời sống người thanh niên
- Tứ Diệu Đế (catvāri āryasatyāni): khi gặp khó khăn, tìm hiểu rõ vấn đề (Khổ), nguyên nhân (Tập), mục tiêu (Diệt) và cách giải quyết (Đạo) – một phương pháp giải quyết vấn đề sáng suốt.
- Bát Chánh Đạo (āryāṣṭāṅgamārga): thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống bằng nghề chân chánh, siêng năng đúng, nhớ nghĩ đúng, tâm định đúng – kim chỉ nam cho học tập, nghề nghiệp, quan hệ.
- Lục hòa: nguyên tắc sống chung trong gia đình, Đoàn, lớp học, nơi làm việc.
- Lục độ (ṣaṭ pāramitā): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ – sáu hạnh để hoàn thiện bản thân và phục vụ người khác.
- Thập thiện: mười điều lành của thân, khẩu, ý – thước đo đạo đức hằng ngày.
Thực hành
- Mỗi tuần chọn một nguyên tắc để thực hành và ghi nhận kết quả vào sổ tu học.
15Người tại gia
Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

Tam bảo và quy y tam bảo
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
Văn:
Tam Bảo là ba ngôi quý báu: PHẬT, PHÁP và TĂNG
1. PHẬT: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, có 3 nghĩa:
- Tự giác: Tự mình giác ngộ.
- Giác tha: Giác ngộ cho mọi người, mọi loài.
- Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn.
Đức Phật (BUDDHA) là người tỉnh thức tuyệt đối, toàn diện. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân tướng của vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta là một bậc tỉnh thức (giác ngộ) hoàn toàn. Người chỉ đường cho tất cả chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên người tỉnh thức.
PHẬT là NGÔI BÁU THỨ NHẤT.
2. PHÁP: (DHARMA) là chân lý, là sự thật về nhân sinh, vũ trụ. Đức Phật tìm ra và Người đã chỉ dạy cho chúng ta những điều này, đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, dẫn ta đến chân trời tự do, an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát triển trong ta. Từ bi và trí tuệ là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, tất cả lời dạy của Ngài được kiết tập lại thành Kinh, những giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia gọi là Luật. Về sau, nhằm giải thích Kinh, Luật mà tạo thành Luận. Tóm lại, Pháp gồm KINH, LUẬT, LUẬN thường được gọi chung là “Tam Tạng kinh điển”.
PHÁP là NGÔI BÁU THỨ HAI.
3. TĂNG: (SANGHA) là đoàn thể những người xuất gia tu hành, thực tập đạo tỉnh thức và cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Tăng gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo 6 phép hoà kính, giữ gìn giới luật, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.
Các hàng Tăng chúng:
- Tì kheo: Hàng nam giới xuất gia giữ 250 giới.
- Tì kheo ni: Hàng nữ giới xuất gia giữ 350 giới.
TĂNG là NGÔI BÁU THỨ BA.
* QUY Y TAM BẢO là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.(Quy: trở về, Y: nương tựa)
- Trở về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời.
- Trở về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
- Trở về nương tựa Tăng, đoàn thể những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
* LỄ QUY Y:
” Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài. “
Những lời này được phát nguyện dưới sự chứng minh của vị thầy truyền giới. Vị này sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người quy y. Sau đó, người này được chính thức gọi là Phật tử.
Cần nhớ lễ quy y chỉ là hình tướng bên ngoài, chúng ta phải biết tự quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình. Phật nơi tự tâm là bản tánh sáng suốt, Pháp nơi tự tâm là bản tính từ bi, bình đẳng và Tăng nơi tự tâm là bản tánh thanh tịnh, hoà hợp. Dù đã phát nguyện quy y, người Phật tử không bao giờ cầu xin ân huệ mà chỉ tự nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để thanh lọc và thành tựu giải thoát. Phật dạy: “Con phải tinh cần nỗ lực, các Đức Như Lai chỉ là những vị thầy. “
Tư:
Biết được ý nghĩa của ba ngôi báu và quy y rồi, em phải làm sao để sống đúng theo truyền thống một Phật tử, là một người đã hướng về, nương tựa, sống theo Phật, Pháp, Tăng.
“Nhất giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai”
Lễ kính chư Phật sẽ được vô lượng công đức.
Mỗi người chúng ta đều có tính Phật hay khả năng tỉnh thức trong lòng. Vì vậy, ai cũng có thể trở thành người giác ngộ như Đức Phật. Tính Phật này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức thì chúng ta làm cho tính Phật trong ta sẽ đạt được tự do và an lạc hoàn toàn như Phật. Phật ở ngay trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta phải trở về tìm Phật ngay trong tâm ta. Đức Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.
Pháp của Đức Phật chỉ dạy cách thức TU- HÀNH, giữ giới luật để phát triển trí tuệ, hiểu biết chân lý của cuộc đời. Đức Phật dạy chúng ta phải tự cứu mình bằng cách làm theo phương pháp Phật chỉ dạy.
Muốn tu tập đạo giải thoát, ta phải nương tựa vào Tăng đoàn. Một mình đơn độc sẽ gặp nhiều khó khăn trong sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Người xuất gia cũng như người tại gia phải biết về nương tựa nơi Tăng để có thể đi xa trên con đường tu tập.
Tu:
Tin không chưa đủ, em phải tu nghĩa là tự sửa mình. Mặc dù Đức Phật nói “Chúng sanh là Phật sẽ thành” nhưng nếu không tu tập, hành trì giáo pháp thì mãi mãi, chữ “sẽ” chỉ là tương lai không vươn tới được.
Vậy sau khi Quy Y Tam Bảo, hằng ngày, ta phải năng lễ Phật, tu dưỡng bản thân để tiến tới làm người giác ngộ.
Tu dưỡng nghĩa là bồi dưỡng và chuyển đổi.
- Về tình cảm: chuyển đổi tham lam, giận hờn thành yêu thương và hoà thuận, đem vui cứu khổ.
- Về lý trí: chuyển đổi si mê, lầm lạc thành sáng suốt, hiểu biết chân chánh.
- Về ý chí: chuyển đổi hèn nhát, thụ động thành tinh tấn, hỷ xả và dũng cảm.
Làm vậy tức là em đã Quy y Tam Bảo một cách đúng đắn và tích cực. Song song với việc tu dưỡng bản thân, em phải noi gương Đức Phật và các vị Tăng, Ni, khuyến khích, giúp đỡ mọi người sống tốt, hướng thiện và hướng thượng.
Cuộc sống chỉ có thể tốt đẹp khi tập thể chúng ta tốt đẹp. Một con én không làm nên được mùa xuân nên ta phải quan tâm đến mọi người, cùng nhau tu dưỡng thì xã hội sẽ tốt đẹp vì đó là tập thể những người tốt. Từ đó, cuộc sống riêng và chung sẽ được an lành, hạnh phúc.
IV.CÂU HỎI:
- Định nghĩa ba ngôi báu?
- Thế nào gọi là Quy y Tam Bảo?
- Tại sao muốn có an lạc và hạnh phúc phải tu dưỡng bản thân và giúp đỡ mọi người cùng tu? Cho ví dụ cụ thể?
- Làm sao biết được Phật là bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
- Em hiểu thế nào là sự quy y và lý quy y?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ngũ giới
I. VĂN:
Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.
Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.
- Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
- Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
- Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
- Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
- Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.
Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.
II. TƯ:
Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:
- Thành thật với chính mình.
- Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
III. TU:
Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
- Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.
Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:
- Không giết hại mà còn phóng sanh.
- Không trộm cướp mà còn bố thí.
- Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.
Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:
- Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
- Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
- Không khởi ác niệm đối với người khác.
Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.
Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.
IV. CÂU HỎI:
- Giới là gì? Nội dung của năm giới?
- Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
- Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
- Ích lợi của năm giới?
- Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
- Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Người Phật tử tại gia
Người Phật tử tại gia là ai
- Là người tin theo Phật, đã quy y Tam Bảo, giữ giới, tu học và làm việc thiện trong khi vẫn sống với gia đình, có nghề nghiệp ngoài xã hội. Nam gọi là Ưu bà tắc (upāsaka), nữ gọi là Ưu bà di (upāsikā).
Bổn phận
- Đối với bản thân: giữ năm giới, siêng năng tu học, sống chánh mạng.
- Đối với gia đình: hiếu thảo, chung thủy, thương yêu, giáo dục con cái theo chánh pháp.
- Đối với Tam Bảo: hộ trì Tam Bảo, cúng dường, góp sức vào Phật sự.
- Đối với xã hội: làm công dân tốt, giúp đỡ người khó khăn, góp phần xây dựng xã hội an lành.
Thảo luận
- Người Phật tử tại gia có thể tu tập giữa đời sống bận rộn bằng cách nào?
16Phát triển hạnh phúc, nghề nghiệp và kỹ thuật theo luân hồi, nhân quả, nhân duyên
Luân hồi

A. giới thiệu:
Sự sống chết, mất còn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với con người, từ xưa đến nay con người vẫn luôn băn khoăn thắc mắc lo âu và vấn đề này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức nghiên cứu nhằm tìm kiếm một đáp án để lý giải một cách hợp lý hầu giải tỏa sự âu lo và thắc mắc của con người về sự sống còn mất.
Tuy nhiên càng truy tìm nghiên cứu, con người lại càng đưa ra những quan niệm sai lầm hơn, mà tiêu biểu là hai thuyết “Chấp thường và chấp đoạn” khi cho rằng con người chết rồi thì mất hẳn không còn gì tồn tại sau đó và khi chết rồi thì chỉ có thân xác bị tiêu hoại, nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi: để được hưởng những lạc thú an vui hay chịu cực hình đau khổ.
Hai thuyết “Chấp thường” và “Chấp đoạn” trên đây đã có sự tương phản với nhau đều không hợp lý. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không hề bị đoạn diệt cũng không phải thường còn, theo cái nhìn và quán chiếu của đạo Phật vào thế giới hiện tượng là không có vật gì mới được sinh ra, cũng không vật gì bị mất hẳn, vạn vật đều do có sự tương quan nhân duyên kết hợp mà thấy có sự biến dị hoặc hoại diệt.
B. nội dung:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Luân hồi dịch ở chữ (Samsãra) trong tiếng Phạn. Theo từ Hán còn gọi là Tăng-sa-lạc. Cũng còn gọi là: Sinh tử, sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục (Tự điển Phật học Huệ Quang-Tập 3.
Luân là bánh xe; Hồi là quay tròn; Luân hồi là quay tròn như bánh xe.
Tóm lại Luân hồi là: Chúng sinh tạo nghiệp, chết ở kiếp nầy rồi lại sinh vào kiếp khác, cứ quay vòng như vậy mãi mãi trong 3 cõi sáu đường.
Và nếu muốn diệt trừ sự khổ của luân hồi lục đạo thì trước phải dứt nhân tham, sân, si vì đây là nguyên nhân khiến chúng sinh luân hồi trong tam giới lục đạo. Khi nào cắt đứt được ngã chấp và tham, sân, si thì cái khổ luân hồi cũng chấm dứt.
II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI:
Định luật Thành, Trụ, Hoại, Không: chi phối toàn thể vận hành của vạn vật chúng sanh, trong vũ trụ tất cả sự vật, từ nhỏ đến lớn đều không thể nào vượt thoát ra ngoài.
1. Đất luân hồi:
Như cái bình trước mặt chúng ta, nguyên liệu để thực hiện chính là “Đất”, qua thao tác của người thợ với nhiều công đoạn nó trở thành cái bình, trải qua thời gian sử dụng, cái bình bể nát và trở về với trạng thái nguyên thủy là đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn để nuôi sống cây cỏ, cây cỏ lớn lên tàn rụi để trở thành phân bón cho các cây khác hoặc làm thực phẩm cho các loại động vật. Động vật ăn cây cỏ vào, rồi bài tiết ra hoặc sau khi già nua chết đi lại trở về với đất cát. Bao nhiêu lần thay đổi hình dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, nhưng đất cát nó cũng lại trở về với đất cát, tùy theo vòng luân chuyển dài hay ngắn.
2. Nước luân hồi:
Nước ở sông hồ, biển cả bị sức nóng của mặt trời bốc thành hơi; hơi nước bay lên không trung gặp khí lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao, hồ, sông biển, hoặc gặp vùng lạnh quá thì đóng lại thành băng. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần xoay vòng mãi mãi, nhưng rồi nước vẫn là nước. Điều này chứng tỏ hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước thì vẫn không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.
3. Gió luân hồi:
Không khí bị sức nóng của mặt trời giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù lấp vào những khoảng trống đó, không khí những nơi khác chạy tới điền vào. Sự luân chuyển liên tục của không khí tạo thành gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, nhanh thì gió mạnh và nhanh hơn thì trở thành bão, nhưng rồi dù có thay đổi trạng thái nhanh hay chậm, thì bản chất của gió vẫn là không khí.
4. Lửa luân hồi:
Lửa là một sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chẳng thấy có sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát nhau thật mạnh một hồi thì lửa liền được bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt cháy cả hai thanh củi, khi cháy thì một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí. Những cây khác dùng rễ mình để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia khi hồi đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Điều này chứng tỏ lửa chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải đứt đoạn hay mất hẳn.
5. Cảnh giới luân hồi:
Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Quả thật vậy, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra khỏi đinh luật Thành, Trụ, Họai, Không. Mỗi phút giây đều có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác xuất hiện, như làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nối tiếp, làm nhân, làm quả cho nhau, tiếp nối không bao giờ dứt.
6. Thân người luân hồi:
Thân người do tứ đại hợp thành mà tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Với chất cứng dẽo như gia thịt, gân xương của con người chính là Đất; những chất lỏng nhữ máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, nhịp đập của trái tim, buồng phổi, cử động lên xuống, qua lại của tay chân là thuộc về Gió; hơi nóng trong con người thuộc về Lửa. Như trên ta đã rõ, tứ đại đều luân hồi thì con người vì lệ thuộc vào tứ đại nên cũng luân hồi theo vì khi thân nầy chết thì tất cả đều trả về cho tứ đại, và cứ thế vòng quay mãi mãi tiếp tục.
7. Tinh thần luân hồi:
Con người không phải chỉ có tứ đại mà còn có phần tâm lý hay nói một cách tổng quát đó chính là tinh thần, bao gồm tất cả mà đạo Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm có tứ đại là đất, nước, gió, lửa đạo Phật gọi là Sắc. Tứ đại là phần tạo nên sắc thân không hề tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì Tâm thức hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà cũng chỉ biến chuyển xoay vần theo nghiệp.
Vậy nghiệp là một năng lực chứ nghiệp không phải là linh hồn, nghiệp có năng lực dẫn dắt hành động của mỗi chúng sanh. Do tính chất riêng ấy (biệt nghiệp) mà nghiệp lực mới dẫn dắt vào hình thức này hay hình thức khác do luật hấp dẫn (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu) mà chịu xuôi theo vòng luân hồi sanh tử.
III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ:
Khi mọi người đã hiểu luật nhân quả và tin vào luật nhân quả thì mọi người không thể không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi cũng chỉ là một chuỗi nhân quả có tính cách liên tục nhưng vì nó khi ẩn khi hiện, khi thăng khi giáng, khi mất khi còn, biến đổi dị dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.
Chúng sanh vì mê mờ nên đã tạo tác ác nghiệp: hành động, tham lam, sân hận, si mê, nghi mạn, ác kiến … đó là những nhân ác thì phải gặt quả ác. Và chúng sanh tu học theo chánh Pháp: Tu năm giới và thập thiện, thường làm việc phước đức, làm những điều lợi lạc cứu khổ độ sinh, hộ trì Tam bảo … đó là tạo tác nhân lành thì gặt hái được quả lành, an lạc giải thoát, được sanh về các cảnh giới tịnh lạc và phước báo của chư thiên. Do sự tạo tác lành, dữ, thiện, ác mà chúng sanh phải luân hồi vào trong ba cõi, sáu đường theo luật nhân quả chắc chắn không sai.
C. suy nghiệm:
Giáo lý Luân hồi đã lý giải cho chúng ta được hiểu biết rõ về sinh diệt, còn mất của con người và vạn vật trong vũ trụ. Giúp cho con người hiểu rõ được thiện ác nghiệp báo theo luật nhân quả và giáo lý luân hồi cũng đem lại cho con người nhiều điều lợi ích:
- Phá trừ được “đoạn kiến” sai lầm làm con người sinh ra chán nản, vì nghĩ rằng dù ta có cố gắng ăn hiền ở lành, sống đạo đức rồi cuối cùng chẳng đem theo được gì cả, chẳng hưởng được gì một khi chết đi thân thể bị tiêu hoại.
- Phá trừ được “thường kiến” sai lầm làm cho con người tin rằng con người khi chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phước hay tạo tội cũng vậy. Do đó mà con người sống với nhau không có tình người, không thương yêu giúp đỡ nhau mà còn bóc lột cướp giật, hại nhân, gây tội ác …
- Với giáo lý Luân hồi đem cho con người một niềm tin chân chính hợp lý: con người khi chết rồi không phải là mất hẳn mà chắc chắn có liên quan ảnh hưởng về nhân quả đối với kiếp sống hiện tại. Sống lành hay dữ, thiện hay ác, tạo tội hay phước, tức là tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp thì khi chết nghiệp lực đó sẽ dắt dẫn sinh vào trong vòng luân hồi của ba cõi sáu đường theo luật luân hồi nhân quả để chịu nghiệp. Giáo lý luân hồi cho con người tự tin là ta là chủ nhân của đời ta, ta tạo nghiệp nhân gì thì ta chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai thương hay ghét hoặc có quyền ban phước hay giáng họa cho ta cả.
D. thực hành:
Người Phật tử đã biết được ý nghĩa và giá trị của giáo lý luân hồi thì nên cố gắng tu tập theo đúng Chánh pháp, cải thiện thân tâm, tạo thiện nghiệp, tẩy sạch các nghiệp hữu lậu để gặt hái được quả lành để không còn trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử; nguyện được giải thoát sanh về các cảnh giới tịnh lạc bất sanh bất diệt của các vị A-La-Hán và chư Bồ Tát hay Chư Phật.
Theo lời Phật dạy:“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng giác ngộ và giải thoát”
Em quyết tâm tinh tấn tu tập theo Chánh Pháp:
- Thường xuyên niệm Phật để tâm được an trú trong chánh niệm.
- Xa lìa ác Pháp, hành động hướng theo các thiện Pháp đem lại lợi lạc cho chúng sinh để chuyển hóa khổ đau thành an vui.
- Tu tập giới Định Tuệ để diệt trừ Tham ái, Sân si, Mạn, Nghi, Cố chấp và thù hận để được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường và thanh tựu được Phật quả.
Chú thích:
* Ba cõi: gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới:
- Dục giới: là thế giới của ái dục, nơi đó chúng sinh còn tâm tham ái, dâm dục nên mỗi loài còn có phân biệt nam nữ, đực cái, trống mái. Thân thể được cấu tạo bằng ngũ uẩn.
- Sắc giới: gồm những cõi mà chúng sinh đã thoát ly được tham dâm và tham thực, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh.
- Vô sắc giới: gồm những cõi đã ly dục, không còn sắc thân vật chất, chỉ có tâm cảm với nghiệp lực.
* Sáu đường: gồm có Địa ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, loài Người và cõi Trời:
1) Địa ngục: do tạo nhân độc ác, làm nhiều điều tội lỗi, giết hại mạng sống, gây đau khổ cho chúng sinh, nên phải chịu luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ ải.
2) Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, giúp người, từ tài vật đến ngôn ngữ và hành động. Trái lại còn mưu sâu và độc kế cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.
3) Súc sanh: Tạo nhân si mê sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu sắc, tài khí, không biết hay dở, tốt xấu, thiện ác, chết rồi luân hồi làm súc sanh.
4) A-Tu-La: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính khí hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A-Tu-La, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.
5) Loài Người: Do tu nhân Ngũ giới: không sát hại mạng sống, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu say sưa thì đời sau sẽ trở lại làm người cao quý, an nhàn.
6) Cõi Trời: Tránh mười điều ác tu nhân Thập Thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên biết rằng cõi Trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, vẫn còn chịu nhân quả sanh tử luân hồi. Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử luân hồi và đến bốn cõi Thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật thì phải tu nhân giải thoát (tu Pháp xuất thế gian).
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Nhân quả

Văn:
Đối với dân tộc Việt Nam, có lẽ không mấy ai là không tin nhân quả. Đối với các em là con nhà Phật, thì Luật Nhân Quả các em đã được nghe qua lời dạy của các bậc cha mẹ từ lúc mới lên 5, lên 6. Hôm nay các em học lại cho kỹ để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Phật thuyết kinh Nhân Quả để giải thích cho chúng ta hiểu tại sao chúng sanh lại gồm có nhiều loài, ở trên không, dưới nước, cầm thú côn trùng, nhân thiên, A tu la. Mỗi loài đều có kẻ đẹp, người xấu, thân thể toàn vẹn hay tật nguyền đều do nhân quả mà ra.
A. ĐỊNH NGHĨA:
NHÂN là nguyên nhân, QUẢ là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không có Quả thì biết không có Nhân.
B. NHỮNG ĐĂC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Nhân Quả là định luật hiện thật: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý Nhân Quả, Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên đời sống thực tế để thuyết giảng Lý Nhân Quả cho chúng ta hiểu.
2. Nhân Quả chi phối tất cả: sở dĩ mọi thứ trên đời khác nhau vì được câu tạo bởi nghiệp nhân khác nhau. Vì thế định luật Nhân Quả chi phối tất cả sự vật. Định luật Nhân Quả không thiên vị, không bênh vực một ai. Không ai có thể phủ nhận hoặc sửa đổi định lý tất nhiên này.
3. Nhân Quả là một Định luật rất phức tạp; Lý Nhân Quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên hệ, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả thường tạo nên phức tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, những ai có sự hiểu biết thấp, thường khó nhận thức được sự chính xác của Lý Nhân Quả và gây nên những ngộ nhận về Lý Nhân Quả.
C. SƯ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ:
Đức Phật dùng đạo lý Nhân Quả để giải thích sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan này rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó nhận định.
1. Một Nhân tự nó không thể sinh ra Quả: Sự vật được hình thành giữa vũ trụ này đều do sự tổng hợp của nhiều nhân duyên. Một nhân không thể nào tự nó phát sinh ra quả được. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa tạo thành mà cần phải có các nhân khác giúp vào như đất, nước, ánh sáng mặt trời, phân bón… thì hạt lúa mới nẩy mầm được.
2. Nhân nào Quả nấy: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy chứ không bao giờ tương phản, mâu thuẩn nhau. Nếu ta muốn có quả cam thì phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói cách khác, Nhân với Quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.
3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Nhân, chính nó cũng là quả đồng thời của sự thuần thục của nhiều nhân duyên trước nó. Quả, chính nó cũng là nhân đồng thời cho sự phát sinh của quả khác. Ví dụ: tốt nghiệp đại học là kết quả của nhiều năm tháng học hành nhưng sự tốt nghiệp đó cũng là nhân chính cho sự tìm kiếm việc làm và ngược lại.
D. SỰ LIÊN HỆ GIỮA NHÂN VÀ QUẢ QUA THỜI GIAN:
1. Nhân Quả một thời: Nhân quả nối liền nhau. Nghĩa là vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng, như khi hai luồng điện âm dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian mới thuần thục.
2. Nhân Quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này. Như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.
3. Nhân Quả trong hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới có kết quả, nhân tạo đời này đến đời sau mới có kết quả; nghĩa là cần một thời gian khá lâu quả mới thuần thục. Ví dụ, trong đời sông hiện tại biết bố thí cúng dường thì đời sau sẽ được giàu sang.
4. Nhân Quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới có kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến nhiều đời sau mới có kết quả. Ví dụ, muôn thoát khỏi sanh tử luân hồi phải cần trải qua nhiều kiếp tu hành.
* Những ví du về Nhân Quả:
1- Nhân Quả nơi hiện Cảnh: Rừng rậm (Quả) là kết quả của nhiều cây hợp lại (Nhân). Sự tàn phá rừng (Nhân) sẽ gây ra lũ lụt tàn phá nhà cửa ruộng vườn (Quả).
2- Nhân Quả nơi tự Thân: Ăn uống điều độ, thường tập thể dục (Nhân) sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng (Quả).
3- Nhân Quả nơi tự Tâm: Tánh tình, tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự chi phối của Luật Nhân Quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục. Học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.
E. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ:
Luật Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu. Không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đặt trọng tâm vào “nhân quả đối với con người”.
1. Về phương diện thể chất:
Thân tứ đại là do bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, và đo hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ như thế tiếp nôi mãi. Nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.
2. Về phương diện tinh thần:
Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta một tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình trong nếp sống hiện tại là quả. Tính tình và nếp sông này lại làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
Để nhận rõ phần tinh thần này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.
F. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN:
1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
- Tham: Thấy tiền của người khác nổi lồng tham lam sinh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân, bị chủ đánh đập phải tàn tật hay bị nhà chức trách bắt giam, đánh đập tra tấn là quả.
- Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con, phá hoại nhà là nhân, khi hết giận đau đớn nhìn thấy vợ con bệnh hoạn, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.
- Si: Người si mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không còn biết sự hay dở, phải trái là nhân, làm cho gia đình lụn bại, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.
2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:
Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi xấu tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những kết quả sáng lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.
Người không có tính tham lam, bỏn xẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thời. Người không nóng giận tức được sông trong cảnh hiền hòa, gia đình êm âm. Người không si mê theo sắc dục thì được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện.
Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, người ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy.
G. LƠI ÍCH ĐEM LAI CHO CHÚNG TA DO SƯ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Luật nhân quả tránh cho chúng ta những mê tín di đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:
Luật nhân quả cho chúng ta thấy được những thực trạng của sự vật, không có gì là mơ hồ bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận thuyết chủ trương “Vạn pháp do một vị thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.
2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính mình:
Khi đã biết cuộc đời của mình là do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở nơi ai nữa? Lòng tin tưởng ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả tốt đẹp.
3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách mốc:
Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là vì đã cỏ thói quen ỷ lại kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã hiểu rõ tất cả hoàn cảnh mình đang hưởng thọ đều do chính mình gây ra. Người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại hay nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc, chỉ lo tự cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện để được hưởng kết quả tốt đẹp, thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giông ác để khỏi mang quả ác.
4. Người hiểu Luật Nhân Quả chỉ lo tạo Nhân lành và nghĩ đến kết quả trước khi hành đông:
Đã hiểu rõ những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ, nếu muôn được kết quả tốt đẹp trong tương lai thì hiện tại cần phải siêng năng làm những hành động có lợi cho mình, cho người, cho chúng sanh đúng theo lời Phật dạy.
Tư:
Chúng ta đã biết rõ giá trị của Luật Nhân Quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Em suy nghĩ: có người cả đời hiền từ mà gặp lắm tai nạn khổ sở, trái lại có người hung ác sao lại vẫn được bình an?
Trong kinh Nhân Qủa có nói: Muốn biết nhân đời trước thì phải nhìn kết quả hiện tại đang thọ hưởng, muốn biết quả tương lai thì hãy xem nhân gây ra trong hiện tại.
Vậy có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền lành, còn nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau họ sẽ chịu quả báo. Ví dụ như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ, thì do năm rồi họ làm có tiền của để dành. Còn cái nhân ăn chơi, không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.
Có người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn khổ sở, là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả an vui. Ví dụ có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là do nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm tới họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó cổ nhân có câu:
“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”
(Việc lành hay việc dữ đều có quả báo
Chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).
Do đó khi làm một việc gì, phái nghĩ đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều để phải chịu hậu quả đau khổ trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành ngày càng tăng trưởng. Và do sự gieo nhân lành toàn diện đó, từ địa vị Người, chúng ta có thể tiến dần đến quả vị Thánh hiền, được giải thoát giác ngộ.
Tu:
- Em ăn chay mỗi tháng ít nhất là hai ngày, vì đó là gieo nhân lành, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì quả phúc sẽ tròn đầy.
- Xa lìa các việc ác, dù là việc ác nhỏ cũng không làm.
- Luôn làm những việc thiện, dù là việc thiện nhỏ cũng không bỏ qua.
- Hàng ngày thường xuyên niệm Phật, luôn nghĩ đến trí tuệ của chư Phật, các hạnh lành của chư vị Bồ tát một cách thiết tha để noi theo những hạnh lành ấy, đó là cách thực hành tốt đẹp nhất.
Câu hỏi:
- Hãy định nghĩa hai chữ NHÂN và QUẢ?
- Hãy nêu đặc tính của Luật Nhân Quả?
- Hãy nêu một ví dụ về Nhân Quả nơi tự tâm của mình?
- Em hiểu thế nào câu nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”?
- Hiểu biết Luật Nhân Quả đem lại lợi ích gì?
- Đã hiểu rõ Luật Nhân Quả, em áp dụng vào đời sống như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Phát triển hạnh phúc, nghề nghiệp và kỹ thuật theo lý luân hồi, nhân quả, nhân duyên
Ứng dụng lý nhân quả
- Thành công hôm nay là kết quả của sự cố gắng hôm qua: muốn có nghề giỏi phải gieo nhân học tập, rèn luyện; muốn có hạnh phúc phải gieo nhân thương yêu, chung thủy.
Ứng dụng lý nhân duyên
- Không việc gì tự có một mình: một sản phẩm, một công trình là kết quả của nhiều người, nhiều điều kiện. Biết trân trọng đồng nghiệp, biết hợp tác, biết tạo đủ duyên lành để công việc thành tựu.
Ứng dụng lý luân hồi
- Cuộc đời là một dòng tiếp nối; việc làm hôm nay ảnh hưởng đến tương lai của mình và thế hệ sau. Vì vậy chọn nghề không làm hại người, hại môi trường.
Chánh mạng
- Bát Chánh Đạo dạy chánh mạng: sống bằng nghề chân chánh. Kinh điển nêu các nghề người Phật tử nên tránh như buôn bán vũ khí, buôn bán người, buôn bán thịt (giết hại), rượu và chất say, chất độc.
Thảo luận
- Mỗi người chia sẻ dự định nghề nghiệp của mình và xét xem nghề đó phù hợp với chánh mạng như thế nào.
17Tứ như ý túc
Tham khảo thêm
Tứ như ý túc là gì
- Tứ như ý túc (Pali: iddhipāda; Phạn: ṛddhipāda) là bốn nền tảng giúp hành giả thành tựu thiền định và mọi việc tu tập như ý; thuộc 37 phẩm trợ đạo.
Bốn như ý túc
- Dục như ý túc (chanda): có ý muốn, mong cầu mạnh mẽ hướng đến điều thiện, đến giải thoát.
- Tinh tấn như ý túc (vīriya): siêng năng, nỗ lực không ngừng.
- Tâm như ý túc (citta): tâm chuyên chú, nhất tâm vào việc tu tập.
- Quán như ý túc (vīmaṃsā): suy xét, quán sát sáng suốt để điều chỉnh việc tu tập cho đúng.
Ứng dụng
- Muốn làm thành một việc tốt (học một kỹ năng, bỏ một thói quen xấu), cần đủ bốn yếu tố: muốn thật sự, cố gắng đều đặn, chú tâm, và biết xét lại để sửa.
- Đây là tinh thần chủ đạo của bậc Trực.
Lưu ý
- Nên học thêm với quý Thầy để hiểu sâu bốn như ý túc trong thiền định.
18Hình thức trong Gia Đình Phật Tử
Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

Văn:
1. Giới thiệu:
Trong giai đoạn tái sinh hoạt của tổ chức giáo dục của Phật giáo vào năm 1948, Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hoá Phổ gởi Tổng Hội một tờ trình xin lấy huy hiệu thống nhất cho tổ chức Gia Đình Phật Hoá Phổ là Hoa Sen trắng 8 cánh, nằm trong vòng tròn trắng, trên nền xanh lá mạ.
Sau khi xem xét và duyệt thuận, bảng tham luận được trình qua Tổng Trị Sự Hội Phật Học Việt Nam công nhận, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã long trọng gắn huy hiệu này cho các anh chị Huynh trưởng và quý vị Tăng già cố vấn đỡ đầu cho tổ chức trong buổi lể ra mắt tái sinh hoạt chính thức của tổ chức này vào ngày 08.12 năm Mậu Tý nhằm ngày 06.01.1949 tại chùa Từ Đàm – Huế.
2. Ý nghĩa:
Hoa sen là biểu tượng của tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh.
Ở trong bùn trong nước, hay ở trên không đều không bị ô nhiểm bởi bùn nước dù cho hình thức và hương sắc có khác nhau.
- Vòng tròn trắng tượng trưng cho hào quang của chư Phật viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả mọi thể tướng của chúng sanh.
- Nền xanh lá mạ là biểu tượng đầy hy vọng của tuổi trẻ có thể thành tựu đạo nghiệp trong môi trường được hào quang chư Phật toả chiếu.
- Hoa sen tám cánh:
+ Ba cánh dưới tượng trưng cho Phật (giữa), Pháp (trái), Tăng (phải), là điểm nương tựa cho tất cả chúng sanh.
+ Năm cánh trên tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử. Cánh chính giữa to cao, tượng trưng cho hạnh tinh tấn – Đức Phật tiêu biểu cho hạnh này là Đức Bổn Sư Thích Ca; Cánh kế bên phải (từ ngoài nhìn vào) tượng trưng cho hạnh thanh tịnh – tiêu biểu là Đức Phật A Di Đà; Cánh kế bên trái tượng trưng cho hạnh hỷ xã – tiêu biểu là Đức Phật Di Lặc; Cánh cạnh hạnh hỷ xả (trái ngoài) tượng trưng cho hạnh trí tuệ – tiêu tiêu biểu là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát; Cánh cạnh hạnh thanh tịnh là từ bi (phải ngoài) – tiêu biểu là Đức Quán Thế Âm Bồ tát.
3. Cách vẽ:
- Vẽ một vòng tròn tâm O, đường kính là AB theo trục thẳng đứng, chia đường kính ra làm ba, vẽ một dây cung C1 C2 vuông góc với đường kính này ở điểm C (bằng1/3 AB).Như hình dưới đây:
- Vẽ đường tròn đường kính 1/3 AB ở tâm O3, đó là cánh giữa ở dưới, hai bên là cánh Pháp và Tăng (theo hình).
- Vẽ một vòng tròn tâm O1 đường kính CA1(2/3 AB), vẽ một dây cung tại điểm A2 cách đỉnh một đoạn bằng 1/3 của O1A1, tại điểm A3 cách đỉnh một đoạn bằng 2/3 O1 A 1 (dùng làm đỉnh 2 cánh ngoài).
Tư:
1. Hoa sen thật là một biểu tượng cao quý cho cả hai mặt nhập thế và xuất thế:
1.1 Hoa sen đã đi vào ca dao, vào sách giáo khoa thư: “Trong đầm gì đẹp bằng sen … Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
1.2 Chính khi mới chứng thành đạo quả, Đức Bổn Sư cũng đã quán chiếu một hồ sen để thấy được căn tánh của chúng sanh mà quyết định việc nói Pháp và cũng có thời Pháp là “Diệu Pháp Liên Hoa”.
1.3 Và cũng chính trong một pháp hội, Đức Từ Phụ cầm hoa sen vàng đưa lên, chỉ một mình ngài Ca Diếp mỉm cười (Niêm hoa vi tiếu) để lãnh hội Chánh Pháp nhãn Tạng, làm vị Tổ đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
2. Tinh tấn là yếu tố căn bản để thành tựu mọi việc.
3. Thanh tịnh và hỷ xả là hai đức tính đặc thù của đấng Giác ngộ.
4. Từ bi và trí tuệ là đức tính căn bản thành tựu nhân cách để tiến đến thành quả.
5. Giữ giới là yếu tố căn bản để thực hiện hạnh, không rời giới mà hành động thì hạnh sanh. Hành thâm giới hạnh thì đức phát khởi.
6. Ngày nay, huy hiệu hoa sen được coi là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo, in ngay đầu trong các văn kiện của giáo hội.
Tu:
1. Đeo Hoa Sen đúng cách: nam giữa đường sóng của đường túi áo phía trái; Nữ dưới hạt nút thứ hai từ cổ tính ra của áo dài.
2. Giữ gìn quý trọng Hoa Sen như giữ gìn thân mạng, tư duy của mình như ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen.
3. Không vứt bỏ huy hiệu Hoa Sen bừa bãi cũng như không buông lung tâm trí, làm việc sai quấy.
4. Vẽ huy hiệu Hoa Sen vào trang đầu sổ tu học.
Câu hỏi:
- Huy hiệu Hoa Sen được hòa thượng Pháp chủ chính thức công nhận từ ngày, tháng, năm nào?
- Ai là tác giả của huy hiệu Hoa Sen?
- Huy hiệu Hoa Sen vì sao chỉ có 8 cánh?
- Em hãy nói ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen?
- Em phải có bổn phận như thế nào đối với chiếc huy hiệu Hoa Sen đã được trao? Tại sao?
- Người Phật tử phải coi huy hiệu Hoa Sen như là một biểu tượng tinh thần thiêng liêng. Đúng hay sai? Tại sao?
(Tham khảo cách vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện)

Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Huy hiệu, Phù hiệu và Cấp hiệu trong Gia Đình Phật Tử
Phân biệt
- Huy hiệu: biểu tượng chung của tổ chức GĐPT Việt Nam là Hoa sen (8 cánh trắng trên nền xanh lá mạ, viền vòng tròn trắng); mọi đoàn sinh, Huynh trưởng đều đeo sau lễ phát nguyện.
- Phù hiệu: dấu hiệu cho biết người đeo thuộc đơn vị, ngành, bậc học hoặc khóa trại nào (ví dụ phù hiệu các bậc học, phù hiệu trại huấn luyện).
- Cấp hiệu: dấu hiệu cho biết chức vụ, cấp bậc (Đầu Đàn, Đội, Chúng trưởng, Đoàn trưởng, các cấp Huynh trưởng Tập, Tín, Tấn, Dũng).
Lưu ý
- Hình dáng, màu sắc, vị trí đeo của từng phù hiệu, cấp hiệu được quy định trong Nội quy GĐPT Việt Nam và Quy chế Huynh trưởng; anh chị trưởng giới thiệu theo văn bản chính thức.
- Đeo đúng quy định, giữ gìn sạch đẹp, tôn trọng ý nghĩa của từng biểu tượng.
Em chào kính
Chuẩn bị
- Hướng dẫn các em đến chào quý thầy (cô) trong chùa.
- Cho các em quan sát các Huynh trưởng chào nhau.
Giờ học
Em suy nghĩ
- Ở trường học, trong nhà, gặp người lớn, em chào như thế nào?
- Đến chùa gặp quý thầy (cô) em chào như thế nào?
- Khi mặc đồng phục GĐPT, chúng ta chào nhau theo cách nào? Vì sao chúng ta phải chào nhau?
- Cách chào GĐPT có ý nghĩa gì?
Em cần biết
- Gặp người lớn, em phải cất mũ (nón), cúi đầu hoặc khoanh tay chào.
- Gặp quý tăng ni, Phật tử em chắp tay chào.
- GĐPT dùng lối chào khi mặc đồng phục là bắt ấn tam muội (ngón cái đè lên ngón áp út của bàn tay phải, 3 ngón còn lại thẳng, để ngang vai).
- Cách chào biểu lộ tinh thần thân thiện, kỷ luật và sự hòa hợp. Cách chào theo ấn tam muội nhắc ta lắng lòng cho trong sạch, nhớ lời Phật dạy lánh dữ làm lành.
Em thực hành
Em phải chào đúng lúc và đúng cách. Gặp người lớn, người nhỏ phải chào trước. Người nhỏ sẽ xả ấn tam muội sau người lớn khi chào theo cách của GĐPT.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Mở Mắt do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ý nghĩa – Cách thức chào kính trong GĐPT.
Văn:
Gia Đình Phật Tử cũng như các tổ chức khác có cách chào riêng, khi mặc sắc phục, để tò lòng thân thiện, biểu lộ sự hoà hợp, nhắc nhau tinh tấn tu học, biết kinh trên nhường dưới, và chứng tỏ tinh thần kỷ luật của Gia Đình Phật Tử.
Khi mặc đồng phục, ta chào bằng cách bắt ấn Tam Muội (cũng gọi là ấn Cát Tường, ấn Chánh Định – ngón cái: tâm; ngón trỏ: thân; ngón cái ấn trên ngón trỏ ý chỉ thân tâm không hai).
Khi chào đứng nghiêm, mặt hướng vào người mình chào, tay phải gập lại, cánh tay song song với thân người, lòng bàn tay hướng về phía trước, cùi chỏ gần sát thân người và ngang bằng với tầm lưng (đừng đưa quá ra phía sau hay phía trước), các ngón tay khép vào nhau, ngón tay cái đè lên ngón tay đeo nhẫn, tay trái xuôi theo người.
Ấn Tam Muội có mục đích làm cho lòng mình lắng lại, chú tâm không tán loạn, phóng ra sự an lành (Cát Tường). Vậy chào theo lối bắt ấn Tam Muội là nhắc nhở chúng ta lắng lòng hướng về việc lành, tin theo đức Phật, tin vào chánh Pháp, chúc tốt lành cho nhau. Chính đức Phật thường dùng ấn này để phóng hào quang cứu độ chúng sanh.
Tư:
Chào kính là những quy ước xã hội mang tính văn hoá, nhân bản nhằm thăng tiến cuộc sống tinh thần của con người nên thông thường:
- Người nhỏ chào người lớn trước.
- Khi đi trong hàng, gặp Thầy hay anh chị trưởng, chỉ người hướng dẫn chào mà thôi.
- Khi gặp đám tang, tất cả đều chào.
- Khi đón chào quan khách, hô khẩu hiệu tất cả chào một lần.
- Khi chào cờ sen trắng, hô khẩu hiệu (tiếng reo) chào xong, đứng nghiêm hát bài ca chính thức Sen Trắng.
- Khi gặp quý Tăng Ni thì chắp tay như búp sen ngang ngực cúi đầu chào, khi gặp quý Bác (đạo hữu) cũng vậy.
- Khi đi ngang qua nơi tôn nghiêm (chùa, đền thờ…) thì yên lặng để tỏ lòng thành kính.
- Khi mặc thường phục: cất nón, cúi đầu, vái chào tuỳ theo trường hợp.
Tu:
Là đoàn sinh GĐPT, em luôn luôn nêu cao tinh thần kỷ luật, danh dự của đoàn thể:
- Gặp Tăng, Ni, em chắp tay như búp sen để ngang ngực cúi đầu chào.
- Gặp các anh, chị và bạn đoàn (có đoàn phục), tay bắt ấn Tam Muội (Cát Tường) để tỏ ý vui mừng, nhắc nhở nhau tinh tấn tu học.
- Những lúc đi ngang qua nơi tôn nghiêm nên im lặng, không cười nói múa may, tỏ lòng tôn kính.
- Khi vào nơi tôn nghiêm, xuống xe dẫn bộ để tỏ lòng tôn kính, lịch sự.
Câu hỏi:
- Vì sao chúng ta phải chào nhau?
- Lúc mặc đồng phục chúng ta phải chào nhau như thế nào?
- Chào theo lối bắt ấn Tam Muội có mục đích gì?
- Lúc nào tất cả cùng chào?
- Lúc mặc thường phục chào nhau như thế nào?
- Khi có dịp cùng với đoàn đi ngang qua tiền đình chùa, nhà thờ, đình em phải như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
19Phát triển hạnh phúc gia đình theo Ngũ giới và Thập thiện
Ngũ giới
I. VĂN:
Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.
Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.
- Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
- Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
- Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
- Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
- Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.
Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.
II. TƯ:
Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:
- Thành thật với chính mình.
- Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
III. TU:
Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
- Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.
Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:
- Không giết hại mà còn phóng sanh.
- Không trộm cướp mà còn bố thí.
- Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.
Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:
- Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
- Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
- Không khởi ác niệm đối với người khác.
Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.
Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.
IV. CÂU HỎI:
- Giới là gì? Nội dung của năm giới?
- Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
- Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
- Ích lợi của năm giới?
- Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
- Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Mười điều thiện

Văn:
Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.
Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.
ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.
Nghiệp là gì?
Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).
Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý
1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:
a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh
b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.
c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.
2. Nh ữ ng nghiệp dữ:
Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.
A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:
1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:
Tất cả chúng sanh đều kính mến
Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
Trừ sạch thói quen giận hờn
Thân thể thường được khỏe mạnh
Tuổi thọ được lâu dài
Thường được thiên thần hổ trợ
Ngủ ngon giấc và không ác mộng
Trừ hết các mối oán thù
Không đọa vào ba đường ác
10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.
2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:
1. Được nhiều người tin cậy.
2. Không bị lừa dối gạt gẫm.
3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.
4. Lòng được an ổn.
5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.
6. Khi chết được sanh lên cõi trời.
3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích
- Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
- Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
- Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
- Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:
1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.
Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.
Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:
- Miệng thường thơm sạch.
- Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
- Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
- Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
- Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.
2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:
- Được người trí thức yêu mến.
- Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
- Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.
3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:
- Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
- Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
- Đức tin bất hoại.
- Pháp hạnh bất hoại.
4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:
- Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
- Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
- Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:
1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:
- Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
- Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
- Phúc đức tự tại.
- Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.
2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:
- Tâm không khổ não.
- Tâm không giận hờn.
- Tâm không tranh giành.
- Tâm nhu hòa ngay thẳng.
- Tâm từ bi như Phật.
- Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
- Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
- Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.
3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.
Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.
Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:
Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
- Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
- Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
- Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
- Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
- Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
- Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
- Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
- Ở yên vào nơi chánh kiến.
10. Không bị nạn dữ.
* Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.
Tư:
Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
- Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
- Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
- Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
- Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.
Tu:
Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.
Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.
- Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
- Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
- Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.
Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.
Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.
Câu hỏi:
- Mười điều thiện là gì?
- Nghiệp là gì?
- Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
- Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Phát triển hạnh phúc gia đình theo Ngũ giới và Thập thiện
Ngũ giới giữ gìn hạnh phúc gia đình
- Không sát sinh: gia đình sống hiền hòa, không bạo lực.
- Không trộm cắp: làm ăn lương thiện, tài sản trong sạch.
- Không tà dâm: vợ chồng chung thủy, gia đình bền vững.
- Không nói dối: vợ chồng, cha mẹ con cái tin tưởng nhau.
- Không uống rượu, dùng chất say: tránh được nhiều bất hạnh, tai nạn, bạo lực gia đình.
Thập thiện làm gia đình an vui
- Lời nói hòa nhã, chân thật, không nói lời chia rẽ, không thêu dệt; tâm bớt tham, bớt sân, có hiểu biết đúng.
Thực hành
- Tụng kinh, niệm Phật chung trong gia đình; ăn chay ngày rằm, mồng một; cùng làm việc thiện.
20Kinh Thiện Sinh

A. DẪN NHẬP
Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
B. NỘI DUNG:
I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:
Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.
II. KINH VĂN:
Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.
Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.
* Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.
* Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.
* Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.
Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
- Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
- Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
- Tránh xa sáu nghề hao tài vì:
+ Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.
+ Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.
+ Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.
+ Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.
+ Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.
+ Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.
Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.
+ Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.
+ Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.
+ Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.
+ Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.
Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.
+ Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.
+ Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.
+ Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.
+ Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.
III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG
Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương
- Phương Đông là cha mẹ
- Phương Nam là thầy dạy
- Phương Tây là vợ chồng
- Phương Bắc là bạn bè thân thích
- Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
- Phương Hạ là người giúp việc.
1. Phương Đông: Cha mẹ
- Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
- Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
- Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
- Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.
3. Phương Tây: Vợ chồng
- Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
- Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.
4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc
- Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
- Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.
5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng
- Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
- Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.
6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp
- Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
- Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên
Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.
C. SUY NGHIỆM:
Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì
D. TU TẬP:
Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
21Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Mục đích Gia Đình Phật Tử

Văn:
1. Qúa trình hình thành và phát triển GĐPT:
a. Giai đoạn khởi đầu:
Từ năm 1932 đến năm 1940: Từ phong trào chấn hưng Phật giáo của sư Khánh Hoà, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám được quý thầy và đạo hữu tín nhiệm sáng lập đoàn Đồng Ấu Phật tử và Gia đình Phật hoá.
Từ năm 1940-1944: Đoàn Phật học Đức Dục ra đời, là nơi đào tạo trưởng cho hai đoàn đã có. Cư sĩ Đinh Văn Nam hoạt động mạnh trong giai đoạn đầu (cư sĩ Đinh Văn Nam tức Hoà thượng Thích Minh Châu).
b. Giai đoạn phục hưng:
Do ảnh hưởng những năm cuối của chiến tranh Thế giới II, các hoạt động đều tạm ngưng. Mãi đến 1947, ba tổ chức trên tái sinh hoạt với tên gọi Gia Đình Phật Hoá Phổ.
c. Giai đoạn phát triển:
Năm1951, một Đại hội thống nhất các Gia Đình Phật Hoá Phổ được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) lấy danh hiệu chung là Gia Đình Phật Tử.
2. Mục đích của GĐPT:
Sau công cuộc thống nhất giáo hội năm 1963, mục đích của GĐPT được tu chỉnh vào năm 1964 và không thay đổi cho đến nay: Mục đích của GĐPT nhằm “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”.
Tư:
1. Việc hình thành và phát triển GĐPT là do công đức sâu dày của quý thầy, quý bác, quý anh chị đã đầu tư để góp phần giáo dục thế hệ trẻ tin Phật.
2. Tiến trình phát triển GĐPT là công sức của nhiều thế hệ trong đó có chính chúng ta, chúng ta phải tỏ ra xứng đáng (bằng chính việc tu học của bản thân và góp phần xây dựng Đội, Chúng, Đoàn, Gia đình,…).
3. Tương lai của GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay. Sinh hoạt, học tập theo đúng tinh thần, mục đích của GĐPT là góp phần xây dựng GĐPT vững mạnh.
Tu:
1. Tu và học, biết và làm, nói và làm, … đó là những điều cần được em thực hiện tốt.
2. Hãy bắt đầu từ những việc đơn giản nhất và cơ bản nhất (nhưng cũng sẽ là khó nhất nếu ta thiếu quyết tâm) là: làm tất cả các việc lành và xa lìa các việc xấu, ác.
3. Biết tuân kỷ luật, nghe lời anh chị trưởng.
IV. CÂU HỎI:
1. Em ghi nhớ được điều gì trong quá trình hình thành và phát triển GĐPT?
2. Tại sao nói tương lai GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay?
3. Em phải làm gì để xứng đáng là một đoàn sinh của GĐPT?
4. Mỗi ngày trung bình em làm được mấy việc thiện? Số việc ác bằng, ít hay nhiều hơn số việc thiện mỗi ngày? Em làm sao để nhớ, biết điều đó? Em có sổ việc thiện không? Tại sao?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5 điều luật của Gia Đình Phật Tử

Văn:
1. Giới thiệu:
Trước năm 1951, theo đề cương tám điểm của bác Tâm Minh Lê Đình Thám, điểm thứ tư có ghi
Phật tử sống trong Gia Đình Phật Hoá Phổ phải tuân hành 10 điều luật sau đây:
- Phật tử học kinh, niệm Phật.
- Phật tử kính mến cha mẹ và thuận thành với anh chị em.
- Phật tử sống nhân từ đối với người và vật.
- Phật tử lựa bạn tốt và mến thương bạn.
- Phật tử vui buồn cùng chia, nhắc nhở nhau lánh dữ làm lành.
- Phật tử giữ gìn lời nói ôn hoà, ngay thật.
- Phật tử thật thà, siêng năng, thứ tự, sạch sẽ.
- Phật tử sống giản dị và điều độ.
- Phật tử sống giản dị và lạc quan.
- Phật tử làm tròn bổn phận.
Đến năm 1951, Đại hội Huynh trưởng GĐPT đã xây dựng nên Nội quy trình gồm 5 chương, 15 điều. Chương thứ nhất, điều thứ tư ghi:
Luật của Thanh Thiếu Niên nam nữ và Huynh trưởng là:
- Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
- Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
- Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.
Luật của Oanh Vũ nam nữ có 3 điều luật riêng đó là:
- Em tưởng nhớ Phật.
- Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
- Em thương người và vật.
2. Ý nghĩa:
a. So sánh hai giai đoạn này ta thấy:
Ngày trước, luật nặng tính cách xây dựng cá nhân con người theo Nhân thừa. Giai đoạn thứ hai nhằm phát triển huệ trí, tiến đến giác ngộ và giải thoát.
b. Phân tích:
- Điều thứ nhất phù hợp với hạnh Tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.
- Điều thứ hai thực hiện hạnh Từ bi mà Bồ Tát Quan Thế Âm là biểu tượng.
- Điều thứ ba phù hợp với hạnh Trí tuệ mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng.
- Điều thứ tư thực hiện hạnh Thanh tịnh của đức Phật A Di Đà.
- Điều thứ năm thực hiện hạnh Hỷ xả của Đức Phật Di Lặc.
Tư:
1. Kỷ luật của đoàn thể hay pháp luật của quốc gia chỉ nhằm duy trì trật tự an ninh cho xã hội và con người chứ không nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát, giác ngộ. Còn giới luật của đạo Phật, luật của GĐPT là đóng ngõ ác đạo, mở cửa từ bi, trí tuệ, vào căn nhà giải thoát, giác ngộ của Đức Phật.
2. Đọc luật phải giữ tâm thanh tịnh, không khí trang nghiêm để từng lời nói, từng âm thanh vang vọng trong tiềm thức, trong tư duy của ta, nhận ra những sai khuyết mà phát lồ sám hối, cũng như hướng đời mình đến các điều tốt đẹp để nở được bông hoa Phật tánh.
3. Đọc luật là một hình thức tụng giới và phát tâm giữ luật như giữ giới, soi rọi cuộc đời mình. Luật là giáp phục của đoàn sinh GĐPT.
Tu:
1. Hằng ngày, sau khi thức dậy, em nhẩm đọc luật và phát tâm giữ luật hằng ngày.
2. Hằng ngày, trước khi đi ngủ, em nhẩm đọc và kiểm lại bản thân nếu có sai phạm tức thì sám hối.
3. Giữ luật như giữ gìn hơi thở và sự ăn uống để nuôi dưỡng sinh mạng, để tu tập Phật đạo.
Câu hỏi:
- Luật của Gia Đình Phật Hoá Phổ có mấy điều?
- Luật của GĐPT dành cho Thanh Thiếu niên và Huynh trưởng gồm có những gì?
- Luật của GĐPT dành cho cho ngành Đồng (Oanh vũ) có những điều gì?
- Vì sao em cần giữ gìn giới luật?
- Em cần đọc luật với tinh thần như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Những nội dung chính của Nội quy
- Danh xưng và lịch sử tổ chức.
- Mục đích của Gia Đình Phật Tử, châm ngôn Bi – Trí – Dũng, năm điều luật, huy hiệu Hoa sen.
- Tổ chức: các ngành Oanh Vũ, Thiếu, Thanh; hệ thống Ban Hướng Dẫn các cấp; tổ chức một đơn vị Gia đình.
- Tu học và huấn luyện: các bậc học, trại huấn luyện.
- Huynh trưởng: cấp bậc Tập, Tín, Tấn, Dũng (chi tiết trong Quy chế Huynh trưởng).
Lưu ý
- Đoàn sinh ngành Thanh đọc toàn văn Nội quy hiện hành do Ban Hướng Dẫn ban hành; anh chị trưởng giải thích từng chương.
22Mười hai nhân duyên

A. DẪN NHẬP:
Mười hai nhân duyên là cách trình bày đặc biệt của giáo lý “Duyên khởi”. Giáo lý này được đức Phật nói đến rất nhiều trong các Kinh tạng, khi Ngài chứng ngộ được nguyên lý “Thập nhị nhân duyên”, thấy được các nhân duyên hình thành nên vũ trụ vạn hữu sau 49 ngày tham thiền nhập định vào ngày mùng 8 tháng 12 Âm lịch (theo kinh Phật Bản hạnh là ngày trăng tròn tháng 12). Tuy nhiên không phải ngay từ buổi đầu, Đức Phật thuyết 12 nhân duyên mà Ngài chỉ đơn giản nói một duyên, hai duyên hoặc ba duyên …. Thuyết 9 nhân duyên được Phật nói đến trong kinh Mahanidana Digh Nikaya 19 tạng Pali; thuyết 10 duyên được Phật nói đến trong kinh Thành Dụ; còn thuyết 12 nhân duyên thì được Phật nói đến trong kinh Đại Duyên. Ngoài thuyết 12 nhân duyên của Mahanidana – Sùtra chúng ta còn thấy thuyết 24 nhân duyên của Buddhaghosa ở trong Visuddhumagga.
B. NỘI DUNG:
I. HÀNH TƯỚNG CỦA THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN:
Mười hai nhân duyên Tức là Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử làm nhân làm duyên cho nhau.
1. Vô Minh: (Avijya)
Tức là tăm tối, mù mờ, không nhận thức sáng suốt. Phật dạy: “Thế nào gọi là Vô minh? Tức là không nhận thức được sự có mặt của khổ, không nhận thức được nguyên nhân gây ra đau khổ, không nhận thức được hạnh phúc khi chấm dứt nguyên nhân đau khổ và không nhận thức được con đường của sự chấm dứt nguyên nhân đau khổ, gọi là vô minh”.
2. Hành: (Sànkhàra)
Tức là hành động (Action), động lực trong tâm khi bị khuấy động bởi vô minh (Cái giận, cái ghét, cái buồn, cái bực bội, thù hận, v. v..Tất cả những hiện tượng ấy đều do vô minh khuấy động). Trong kinh Phật dạy: “Hành có ba loại: Thân hành, khẩu hành và ý hành”. Như vậy chúng ta thấy đức Phật không chỉ công nhận mọi hành vi của thân, khẩu, mà ngay cả trong ý niệm, suy tư, tình cảm đều được gọi là Sànkhàra.
3. Thức: (Vijnàna)
Thức là ý thức, là sự hiểu biết, là khả năng biểu hiện và nhận thức, được thúc đẩy bởi một sự phát triển nội tại theo quy trình của Nghiệp thức do một nhân tố có tính quyết định đó là Chủng tử Thức A Đà Na.
4. Danh sắc: (Nàma, Rùpa)
Danh ở đây không phải là tên gọi mà chỉ cho tâm lý (Psycho). Tâm lý theo Phật giáo nguyên thuỷ thì đó gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc tức là vật lý (Physics) những hiện vật chất, thời gian, không gian. Phật dạy: “Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý gọi là Nàma và tứ đại là Rùpa”
5. Lục Nhập: (Sabhàytana)
Cũng còn gọi là lục xứ. Thế nào gọi là lục xứ, tức là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xứ tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sự gặp gỡ của lục căn và lục trần gọi là lục nhập.
6. Xúc: (Phassa)
Tức là xúc chạm, tiếp xúc. Xúc là một tâm sở biến hành, nó được tạo ra bởi lục nhập. Nhưng phạm vi của xúc là sự va chạm giữa căn và trần, sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng.
7. Thọ: (Vedàna)
Tức là nhận lãnh, cảm thọ gồm: khổ thọ, lạc thọ, phi khổ phi lạc thọ. Cảm thọ được phát sinh do sự xúc chạm. Từ sự xúc chạm mà phát sinh cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác trung tính. Phật dạy: “Thọ có sáu loại: Thọ phát sinh từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Đây gọi là thọ”.
8. Ái: (Tanha)
Tức tham ái, vương vấn, thèm muốn, khao khát. Sự thèm muốn, khao khát cái gì? – Đó là sự khao khát về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Chính sự khao khát vấn vương là nguồn gốc của khổ đau. Phật dạy: “Chính Tanha (ái) hướng dẫn đến đời sống khác, đi tìm hỷ và tham, tìm kiếm hỷ lạc tại chỗ này, chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này các thầy khất sĩ đây gọi là nguồn gốc của khổ đau”.
9. Thủ: (Upàdàna)
Tức là mắc kẹt, vì tham ái, vương vấn nên mới mắc kẹt. Sự mắc kẹt có nhiều phương diện. Phật dạy: “Có 4 loại thủ chấp: Dục thủ (sự mắc kẹt vào tham muốn), Kiến thủ (mắc kẹt vào nhận thức), Giới cấm thủ (mắc kẹt vào những giới điều), Ngã luận thủ (mắc kẹt vào ý niệm về ngã). Bốn loại này đều gọi là chấp thủ”.
10. Hữu: (Bhara)
Có nghĩa là có– sự hiện hữu, sự có mặt. Vì mắc kẹt cho nên mới có hiện hữu. Vì mắc kẹt vào Dục, Giới cấm, Ngã và Kiến nên mới có sanh, tử luân hồi tam giới lục đạo. Hữu tức là sự hiện hữu của tam giới, (Dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Thầy Buddhaghosa nói: “Hữu có chín loại: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, Tưởng hữu, Phi tưởng hữu, Nhất uẩn hữu, Tứ uẩn hữu và Ngũ uẩn hữu”.
11. Sinh: (Jàti)
Tức là sự biểu hiện– Phật dạy: “Cái thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác, là sinh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, sự xuất hiện của các uẩn, sự hình thành của các xứ. Đây gọi là sinh”. Đối với con người thì sự biểu hiện của danh sắc hay ngũ uẩn gọi là Jàti.
12. Lão tử: (Jàra – Marana)
Tức là già chết, sự hoại diệt. Phật dạy:“Cái gì thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác là già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, các căn suy hoại. Đây gọi là già. Cái thuộc chúng sinh bộ loại này hay bộ loại khác là chết, là sự tách rời là sự tiêu mất, là tử vong; các uẩn tan rã, vứt bỏ. Đây gọi là chết”.
II. Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN:
Thập nhị nhân duyên là 12 nguyên lý giải thích sự hình thành của các loài sinh động vật trong vũ trụ. Đây là sự triển khai và cụ thể hóa “Lý Duyên sanh”, là một giáo lý đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, là cốt lỏi của nhân sinh quan Phật giáo. Lý Duyên sanh được tóm tắt trong một nguyên tắc hết sức giản dị nhưng bao quát được nguyên lý hình thành nên vũ trụ vạn hữu:
- Do cái này sanh, cái kia sanh.
- Do cái này diệt, cái kia diệt..
Điều này cho chúng ta thấy được rằng giáo lý Thập nhị nhân duyên là một giáo lý căn bản trình bày tướng trạng của sanh tử luân hồi với sự liên hệ mật thiết cùng định luật Nhân quả, đồng thời nó cũng nói lên mối tương quan sinh thành của các sự vật trong vũ trụ. Đó cũng là quy luật của sự sống chết, sự sinh diệt, một quy luật chi phối đời sống của mọi sinh vật hiện hữu trong vũ trụ.
1. Nhân:
Tức là nguyên nhân, điều kiện căn bản, cũng có khi gọi là hạt giống, là yếu tố quyết định, là điều kiện sinh khởi có mặt của một hiện hữu. Trong truyền thống Phật giáo Bắc phương cũng như Namphương đếu có nói tới 6 nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân và Dị thục Nhân.
2. Duyên:
Tức là điều kiện hổ trợ, những yếu tố tác động giúp nhân sinh khởi. Abhidharma có nói tới 4 duyên: Nhân duyên, Tăng thượng duyên, Đẳng Vô gián duyên và Sở duyên duyên.
Tóm lại nhân duyên trong 12 nhân duyên hàm ý nghĩa “nhân duyên khởi”: sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi.
III. NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH CỦA 12 NHÂN DUYÊN:
1. Đồ hình biểu thị sự vận hành của 12 nhân duyên:

2. Ý niệm tam thế lưỡng trùng:
Từ đồ hình biểu thị trên cho ta thấy Mười hai nhân duyên đã được xây dựng và thành lập ra lý thuyết tam thế lưỡng trùng. Tam thế tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Lưỡng trùng là hai lớp nhân quả. Theo thuyết này thì Vô Minh, Hành được xếp vào quá khứ. Thức, danh sắc, Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc về hiện tại. Sinh và lão tử được xếp vào tương lai. Trong 12 chi thì vô minh và hành thuộc về kiếp trước, còn sinh và lão tử thuộc về kiếp sau. Thức … Hữu thuộc về đời hiện tại. Sự phân chia này có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy hiểm vì người học có thể hiểu lầm rằng nếu sinh và lão tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có sinh và lão tử. Cũng vậy, vô minh và hành được xếp trong quá khứ, nhưng chúng ta cũng biết trong hiện tại có vô minh và hành. Trong tất cả các chi phần của 12 nhân duyên, ta đều nhận ra sự có mặt của vô minh và hành.
Trên một ngàn năm qua, thuyết tam thế lưỡng trùng được coi như mẫu mực. Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc được xem như là quả, mà nhân là Vô Minh và Hành. Trong kiếp trước đã có nhân Vô minh và Hành cho nên hiện tại phải có quả là có Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc. Đó là cặp nhân quả đầu. Rồi lại vì có Thọ, Ái, Thủ, Hữu mà chúng ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả Sinh và Lão tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các duyên, nối kết quá khứ, hiện tại, vị lai cho nên gọi là tam thế lưỡng trùng.
3. Hai pháp quán “Lưu chuyển” và “Hoàn diệt”:
Từ định lý Duyên khởi đã chứng đắc “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này không thì cái kia không và cái này diệt thì cái kia diệt”. Đức Phật đã thuyết minh về 12 nhân duyên như sau:
- “Do vô minh có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi khỗ, ưu não hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi”.
- “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt;....; do sinh diệt nên lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy toàn bộ khỗ uẩn đọan diệt. Này các Tỷ kheo như vậy gọi là đọan diệt”.
Mười hai nhân duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng lưu chuyển (sinh khởi: do vô minh, hành sinh...) và chiếu hướng hoàn diệt (còn gọi là đoạn diệt: do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt...).
+ Quán Lưu chuyển: Quán sát trạng thái sinh khởi trong 3 đời: Vô minh, Hành ở quá khứ; Sanh, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, quả trong hiện tại; Ba quả hiện tại lại làm nhân là Ái, Thủ, Hữu dẫn đến quả vị lai là Sanh, Lão, Tử.
+ Quán hoàn diệt: Khi 12 nhân duyên được tập khởi, nghĩa là năm uẩn tập khởi và đây là chiều hướng của khổ đau, luân hồi. Khi 12 mắc xích này bị phá vỡ thì cấu trúc của năm uẩn cũng tan rã và đây là con đường của an lạc, giải thoát.
C. SUY NGHIỆM:
Mười hai nhân duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe là con người. Vì con người bị vướng mắc nặng vào Vô Minh, Ái và Chấp thủ nên Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục đích giải thoát, giác ngộ. Đây không phải là một giáo lý dùng để đối trị chấp ngã hay nhằm giải thích thế giới; mà đây là một sự thật và là một pháp tu tập vì giải thoát thiết thực cho con người. Cuộc sống là sự hiện hữu của các mối tương quan đa phương giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên. Khi một cá nhân sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và ngược lại. Mỗi người phải có trách nhiệm với cộng đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ cá nhân mình.
Mười hai nhân duyên là một giáo lý vô cùng tinh tế và khó hiểu, bởi con người vốn đã quen với nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một nhận thức đúng về giáo lý này đòi hỏi phải có sự quán sát và tư duy thường xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý 12 nhân duyên theo pháp quán “Hoàn diệt”, chắc chắn sẽ từng bước mang đến cho chúng ta một cuộc sống độ lượng, vị tha, giải thoát và an lạc trong hiện tại. Bởi như lời Phật dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Ta (Phật)”. Thấy Phật là thấy được thực tại tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính, bị giới hạn bởi vô minh, tham ái và chấp thủ này.
D. TU TẬP:
Tóm lại thuyết mười hai nhân duyên mà Đức Thế Tôn dạy nó không phải là một lý thuyết mà là một pháp môn hướng dẫn tu tập; là con đường chuyển hóa khổ đau và đem lại hạnh phúc an lạc.
Vậy để tu tập 12 nhân duyên thì chúng ta phải không gây nhân hiện tại là Ái, Thủ, Hữu. Vì đó chính là Vô minh của quá khứ. Một khi Ái, Thủ, Hữu hiện tại không còn thì dĩ nhiên chúng ta không còn tái sanh trong đời sau nữa. Do đó mà Tam tạng giáo điển thường xuyên nhắc ta đoạn tận tham ái và chấp thủ chính là để đoạn diệt gốc khỗ đó.
Trong tinh thần một Đoàn sinh bậc Chánh thiện của Gia Đình Phật Tử các em cần phải quyết tâm:
- Luôn luôn ghi nhớ và thực hành châm ngôn Bi Trí Dũng và 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.
- Phát nguyện trai kỳ (ăn chay hàng tháng tối thiểu là tứ trai) nhằm giúp chúng ta trưởng dưỡng thân tâm.
- Thọ trì ngũ giới một cách triệt để giúp chúng ta đoạn trừ tham ái.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
23Sơ lược các kinh: Tam Bảo (Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn), Bát Nhã Tâm Kinh, Thủy Sám, Địa Tạng
Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )

A. GIỚI THIỆU:
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.
B. NỘI DUNG:
I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:
- Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
- Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
- Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:
Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.
Vậy đại ý hai thời công phu là:
1. Thời kinh sáng:
Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:
- Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
- Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
- Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
- Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
- Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
- Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
- Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
- Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
- Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
- Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
- Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
- Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.
Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.
Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.
2. Thời kinh chiều:
Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.
- Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
- Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
- Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
- Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
- Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
- Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.
Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.
Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.
3. Hai thời sóc vọng:
Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.
C. THỰC HÀNH:
Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.
Câu hỏi:
- Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
- Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
- Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
- Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Sơ lược các kinh thường tụng
Kinh A Di Đà
- Đức Phật giới thiệu cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và khuyên chúng sinh niệm Phật, phát nguyện vãng sanh; bản dịch Hán phổ biến của ngài Cưu Ma La Thập. Thường tụng trong khóa lễ chiều, cầu siêu.
Kinh Hồng Danh
- Hồng danh bửu sám: xưng niệm danh hiệu các Đức Phật để sám hối tội lỗi; thường tụng trong các khóa sám hối.
Kinh Vu Lan
- Kể chuyện Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ; dạy về lòng hiếu thảo và cúng dường chư Tăng ngày tự tứ rằm tháng Bảy.
Phẩm Phổ Môn
- Phẩm thứ 25 của kinh Pháp Hoa, nói về hạnh nguyện cứu khổ của Bồ-tát Quán Thế Âm; thường tụng cầu an.
Bát Nhã Tâm Kinh
- Bản kinh ngắn (bản dịch của ngài Huyền Trang) tóm yếu nghĩa “không” của hệ kinh Bát Nhã (prajñāpāramitā); tụng trong hầu hết các khóa lễ.
Kinh Thủy Sám
- Từ Bi Thủy Sám Pháp, gắn với câu chuyện Quốc sư Ngộ Đạt được nước rửa sạch mụn ghẻ oan kết; dạy sám hối nghiệp chướng.
Kinh Địa Tạng
- Kể về bổn nguyện của Bồ-tát Địa Tạng cứu độ chúng sinh nơi khổ cảnh; nhấn mạnh hiếu đạo; thường tụng trong mùa Vu Lan, cầu siêu.
24Kinh Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di
Kinh Thiện Sinh

A. DẪN NHẬP
Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
B. NỘI DUNG:
I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:
Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.
II. KINH VĂN:
Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.
Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.
* Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.
* Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.
* Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.
Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
- Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
- Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
- Tránh xa sáu nghề hao tài vì:
+ Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.
+ Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.
+ Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.
+ Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.
+ Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.
+ Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.
Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.
+ Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.
+ Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.
+ Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.
+ Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.
Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.
+ Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.
+ Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.
+ Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.
+ Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.
III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG
Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương
- Phương Đông là cha mẹ
- Phương Nam là thầy dạy
- Phương Tây là vợ chồng
- Phương Bắc là bạn bè thân thích
- Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
- Phương Hạ là người giúp việc.
1. Phương Đông: Cha mẹ
- Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
- Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
- Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
- Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.
3. Phương Tây: Vợ chồng
- Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
- Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.
4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc
- Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
- Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.
5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng
- Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
- Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.
6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp
- Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
- Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên
Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.
C. SUY NGHIỆM:
Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì
D. TU TẬP:
Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Kinh Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di
Giới thiệu
- Kinh Ưu Bà Tắc giới (Upāsakaśīla sūtra), bản dịch Hán của ngài Đàm Vô Sấm, là kinh dạy riêng cho Phật tử tại gia (Ưu bà tắc, Ưu bà di) về con đường tu hạnh Bồ-tát ngay trong đời sống gia đình.
Nội dung chính
- Phát tâm Bồ đề, tu sáu pháp ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) trong đời sống tại gia.
- Bổn phận đối với cha mẹ, thầy, vợ chồng, con cái, bạn bè, người giúp việc, Tam Bảo (tương tự kinh Thiện Sinh).
- Cách làm ăn chân chánh, sử dụng tài sản đúng đắn, giữ giới cư sĩ.
Ý nghĩa
- Khẳng định người tại gia cũng có thể tu tập, thành tựu công đức lớn và đóng góp cho chánh pháp.
Lưu ý
- Nên đọc thêm bản dịch tiếng Việt của kinh và nhờ quý Thầy hướng dẫn.
Nhận thức19 bài
1Mục đích và châm ngôn của Gia Đình Phật Tử
Mục đích Gia Đình Phật Tử

Văn:
1. Qúa trình hình thành và phát triển GĐPT:
a. Giai đoạn khởi đầu:
Từ năm 1932 đến năm 1940: Từ phong trào chấn hưng Phật giáo của sư Khánh Hoà, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám được quý thầy và đạo hữu tín nhiệm sáng lập đoàn Đồng Ấu Phật tử và Gia đình Phật hoá.
Từ năm 1940-1944: Đoàn Phật học Đức Dục ra đời, là nơi đào tạo trưởng cho hai đoàn đã có. Cư sĩ Đinh Văn Nam hoạt động mạnh trong giai đoạn đầu (cư sĩ Đinh Văn Nam tức Hoà thượng Thích Minh Châu).
b. Giai đoạn phục hưng:
Do ảnh hưởng những năm cuối của chiến tranh Thế giới II, các hoạt động đều tạm ngưng. Mãi đến 1947, ba tổ chức trên tái sinh hoạt với tên gọi Gia Đình Phật Hoá Phổ.
c. Giai đoạn phát triển:
Năm1951, một Đại hội thống nhất các Gia Đình Phật Hoá Phổ được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) lấy danh hiệu chung là Gia Đình Phật Tử.
2. Mục đích của GĐPT:
Sau công cuộc thống nhất giáo hội năm 1963, mục đích của GĐPT được tu chỉnh vào năm 1964 và không thay đổi cho đến nay: Mục đích của GĐPT nhằm “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”.
Tư:
1. Việc hình thành và phát triển GĐPT là do công đức sâu dày của quý thầy, quý bác, quý anh chị đã đầu tư để góp phần giáo dục thế hệ trẻ tin Phật.
2. Tiến trình phát triển GĐPT là công sức của nhiều thế hệ trong đó có chính chúng ta, chúng ta phải tỏ ra xứng đáng (bằng chính việc tu học của bản thân và góp phần xây dựng Đội, Chúng, Đoàn, Gia đình,…).
3. Tương lai của GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay. Sinh hoạt, học tập theo đúng tinh thần, mục đích của GĐPT là góp phần xây dựng GĐPT vững mạnh.
Tu:
1. Tu và học, biết và làm, nói và làm, … đó là những điều cần được em thực hiện tốt.
2. Hãy bắt đầu từ những việc đơn giản nhất và cơ bản nhất (nhưng cũng sẽ là khó nhất nếu ta thiếu quyết tâm) là: làm tất cả các việc lành và xa lìa các việc xấu, ác.
3. Biết tuân kỷ luật, nghe lời anh chị trưởng.
IV. CÂU HỎI:
1. Em ghi nhớ được điều gì trong quá trình hình thành và phát triển GĐPT?
2. Tại sao nói tương lai GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay?
3. Em phải làm gì để xứng đáng là một đoàn sinh của GĐPT?
4. Mỗi ngày trung bình em làm được mấy việc thiện? Số việc ác bằng, ít hay nhiều hơn số việc thiện mỗi ngày? Em làm sao để nhớ, biết điều đó? Em có sổ việc thiện không? Tại sao?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
I. VĂN:
1. Nguồn gốc:
Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là: HOÀ – TIN – VUI.
Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG.
2. Ý nghĩa:
BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật.
TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý.
DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ.
Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG.
Tư:
- Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc.
- BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính.
- Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.
- Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích.
Tu:
- Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẽ những khổ đau của người khác.
- Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ.
- Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp.
Câu hỏi:
- Châm ngôn là gì? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì?
- Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG?
- Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549 ) I. VĂN : 1. Nguồn gốc : Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là : HOÀ – TIN – VUI. Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG. 2. Ý nghĩa: BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý. DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG. II. TƯ : Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc. BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo. Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích. III. TU : Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẻ những khổ đau của người khác. Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ. Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp. IV. CÂU HỎI : Châm ngôn là gì ? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào ? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì ? Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG ? Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG? Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
2Năm điều luật

Văn:
1. Giới thiệu:
Trước năm 1951, theo đề cương tám điểm của bác Tâm Minh Lê Đình Thám, điểm thứ tư có ghi
Phật tử sống trong Gia Đình Phật Hoá Phổ phải tuân hành 10 điều luật sau đây:
- Phật tử học kinh, niệm Phật.
- Phật tử kính mến cha mẹ và thuận thành với anh chị em.
- Phật tử sống nhân từ đối với người và vật.
- Phật tử lựa bạn tốt và mến thương bạn.
- Phật tử vui buồn cùng chia, nhắc nhở nhau lánh dữ làm lành.
- Phật tử giữ gìn lời nói ôn hoà, ngay thật.
- Phật tử thật thà, siêng năng, thứ tự, sạch sẽ.
- Phật tử sống giản dị và điều độ.
- Phật tử sống giản dị và lạc quan.
- Phật tử làm tròn bổn phận.
Đến năm 1951, Đại hội Huynh trưởng GĐPT đã xây dựng nên Nội quy trình gồm 5 chương, 15 điều. Chương thứ nhất, điều thứ tư ghi:
Luật của Thanh Thiếu Niên nam nữ và Huynh trưởng là:
- Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
- Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
- Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.
Luật của Oanh Vũ nam nữ có 3 điều luật riêng đó là:
- Em tưởng nhớ Phật.
- Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
- Em thương người và vật.
2. Ý nghĩa:
a. So sánh hai giai đoạn này ta thấy:
Ngày trước, luật nặng tính cách xây dựng cá nhân con người theo Nhân thừa. Giai đoạn thứ hai nhằm phát triển huệ trí, tiến đến giác ngộ và giải thoát.
b. Phân tích:
- Điều thứ nhất phù hợp với hạnh Tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.
- Điều thứ hai thực hiện hạnh Từ bi mà Bồ Tát Quan Thế Âm là biểu tượng.
- Điều thứ ba phù hợp với hạnh Trí tuệ mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng.
- Điều thứ tư thực hiện hạnh Thanh tịnh của đức Phật A Di Đà.
- Điều thứ năm thực hiện hạnh Hỷ xả của Đức Phật Di Lặc.
Tư:
1. Kỷ luật của đoàn thể hay pháp luật của quốc gia chỉ nhằm duy trì trật tự an ninh cho xã hội và con người chứ không nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát, giác ngộ. Còn giới luật của đạo Phật, luật của GĐPT là đóng ngõ ác đạo, mở cửa từ bi, trí tuệ, vào căn nhà giải thoát, giác ngộ của Đức Phật.
2. Đọc luật phải giữ tâm thanh tịnh, không khí trang nghiêm để từng lời nói, từng âm thanh vang vọng trong tiềm thức, trong tư duy của ta, nhận ra những sai khuyết mà phát lồ sám hối, cũng như hướng đời mình đến các điều tốt đẹp để nở được bông hoa Phật tánh.
3. Đọc luật là một hình thức tụng giới và phát tâm giữ luật như giữ giới, soi rọi cuộc đời mình. Luật là giáp phục của đoàn sinh GĐPT.
Tu:
1. Hằng ngày, sau khi thức dậy, em nhẩm đọc luật và phát tâm giữ luật hằng ngày.
2. Hằng ngày, trước khi đi ngủ, em nhẩm đọc và kiểm lại bản thân nếu có sai phạm tức thì sám hối.
3. Giữ luật như giữ gìn hơi thở và sự ăn uống để nuôi dưỡng sinh mạng, để tu tập Phật đạo.
Câu hỏi:
- Luật của Gia Đình Phật Hoá Phổ có mấy điều?
- Luật của GĐPT dành cho Thanh Thiếu niên và Huynh trưởng gồm có những gì?
- Luật của GĐPT dành cho cho ngành Đồng (Oanh vũ) có những điều gì?
- Vì sao em cần giữ gìn giới luật?
- Em cần đọc luật với tinh thần như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
3Ý nghĩa Huy hiệu Hoa sen và màu Lam
Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

Văn:
1. Giới thiệu:
Trong giai đoạn tái sinh hoạt của tổ chức giáo dục của Phật giáo vào năm 1948, Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hoá Phổ gởi Tổng Hội một tờ trình xin lấy huy hiệu thống nhất cho tổ chức Gia Đình Phật Hoá Phổ là Hoa Sen trắng 8 cánh, nằm trong vòng tròn trắng, trên nền xanh lá mạ.
Sau khi xem xét và duyệt thuận, bảng tham luận được trình qua Tổng Trị Sự Hội Phật Học Việt Nam công nhận, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã long trọng gắn huy hiệu này cho các anh chị Huynh trưởng và quý vị Tăng già cố vấn đỡ đầu cho tổ chức trong buổi lể ra mắt tái sinh hoạt chính thức của tổ chức này vào ngày 08.12 năm Mậu Tý nhằm ngày 06.01.1949 tại chùa Từ Đàm – Huế.
2. Ý nghĩa:
Hoa sen là biểu tượng của tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh.
Ở trong bùn trong nước, hay ở trên không đều không bị ô nhiểm bởi bùn nước dù cho hình thức và hương sắc có khác nhau.
- Vòng tròn trắng tượng trưng cho hào quang của chư Phật viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả mọi thể tướng của chúng sanh.
- Nền xanh lá mạ là biểu tượng đầy hy vọng của tuổi trẻ có thể thành tựu đạo nghiệp trong môi trường được hào quang chư Phật toả chiếu.
- Hoa sen tám cánh:
+ Ba cánh dưới tượng trưng cho Phật (giữa), Pháp (trái), Tăng (phải), là điểm nương tựa cho tất cả chúng sanh.
+ Năm cánh trên tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử. Cánh chính giữa to cao, tượng trưng cho hạnh tinh tấn – Đức Phật tiêu biểu cho hạnh này là Đức Bổn Sư Thích Ca; Cánh kế bên phải (từ ngoài nhìn vào) tượng trưng cho hạnh thanh tịnh – tiêu biểu là Đức Phật A Di Đà; Cánh kế bên trái tượng trưng cho hạnh hỷ xã – tiêu biểu là Đức Phật Di Lặc; Cánh cạnh hạnh hỷ xả (trái ngoài) tượng trưng cho hạnh trí tuệ – tiêu tiêu biểu là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát; Cánh cạnh hạnh thanh tịnh là từ bi (phải ngoài) – tiêu biểu là Đức Quán Thế Âm Bồ tát.
3. Cách vẽ:
- Vẽ một vòng tròn tâm O, đường kính là AB theo trục thẳng đứng, chia đường kính ra làm ba, vẽ một dây cung C1 C2 vuông góc với đường kính này ở điểm C (bằng1/3 AB).Như hình dưới đây:
- Vẽ đường tròn đường kính 1/3 AB ở tâm O3, đó là cánh giữa ở dưới, hai bên là cánh Pháp và Tăng (theo hình).
- Vẽ một vòng tròn tâm O1 đường kính CA1(2/3 AB), vẽ một dây cung tại điểm A2 cách đỉnh một đoạn bằng 1/3 của O1A1, tại điểm A3 cách đỉnh một đoạn bằng 2/3 O1 A 1 (dùng làm đỉnh 2 cánh ngoài).
Tư:
1. Hoa sen thật là một biểu tượng cao quý cho cả hai mặt nhập thế và xuất thế:
1.1 Hoa sen đã đi vào ca dao, vào sách giáo khoa thư: “Trong đầm gì đẹp bằng sen … Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
1.2 Chính khi mới chứng thành đạo quả, Đức Bổn Sư cũng đã quán chiếu một hồ sen để thấy được căn tánh của chúng sanh mà quyết định việc nói Pháp và cũng có thời Pháp là “Diệu Pháp Liên Hoa”.
1.3 Và cũng chính trong một pháp hội, Đức Từ Phụ cầm hoa sen vàng đưa lên, chỉ một mình ngài Ca Diếp mỉm cười (Niêm hoa vi tiếu) để lãnh hội Chánh Pháp nhãn Tạng, làm vị Tổ đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
2. Tinh tấn là yếu tố căn bản để thành tựu mọi việc.
3. Thanh tịnh và hỷ xả là hai đức tính đặc thù của đấng Giác ngộ.
4. Từ bi và trí tuệ là đức tính căn bản thành tựu nhân cách để tiến đến thành quả.
5. Giữ giới là yếu tố căn bản để thực hiện hạnh, không rời giới mà hành động thì hạnh sanh. Hành thâm giới hạnh thì đức phát khởi.
6. Ngày nay, huy hiệu hoa sen được coi là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo, in ngay đầu trong các văn kiện của giáo hội.
Tu:
1. Đeo Hoa Sen đúng cách: nam giữa đường sóng của đường túi áo phía trái; Nữ dưới hạt nút thứ hai từ cổ tính ra của áo dài.
2. Giữ gìn quý trọng Hoa Sen như giữ gìn thân mạng, tư duy của mình như ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen.
3. Không vứt bỏ huy hiệu Hoa Sen bừa bãi cũng như không buông lung tâm trí, làm việc sai quấy.
4. Vẽ huy hiệu Hoa Sen vào trang đầu sổ tu học.
Câu hỏi:
- Huy hiệu Hoa Sen được hòa thượng Pháp chủ chính thức công nhận từ ngày, tháng, năm nào?
- Ai là tác giả của huy hiệu Hoa Sen?
- Huy hiệu Hoa Sen vì sao chỉ có 8 cánh?
- Em hãy nói ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen?
- Em phải có bổn phận như thế nào đối với chiếc huy hiệu Hoa Sen đã được trao? Tại sao?
- Người Phật tử phải coi huy hiệu Hoa Sen như là một biểu tượng tinh thần thiêng liêng. Đúng hay sai? Tại sao?
(Tham khảo cách vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện)

Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ý nghĩa màu lam

Văn:
Sau lễ ra mắt chính thức tái sinh hoạt Gia Đình Phật Hóa Phổ (ngày 08.12 năm Mậu Tý, tức chủ nhật ngày 06.01.1949) tại chùa Từ Đàm – Huế, đến cuối năm 1949 thì tổ chức GĐPHP đã có sự sinh hoạt khắp ba miền Nam, Trung, Bắc nhưng chưa có đồng phục chính thức.
Năm 1950, BHD. GĐPHP Thừa Thiên hình thành. Chính BHD đầu tiên này đã hội họp nhiều lần và đi đến thống nhất chọn màu lam, màu khói hương trầm làm màu sắc chính cho màu áo của tổ chức. Trong bản tường trình lên Tổng Hội có viết:” Đây là màu khói hương trầm, tổng thể của mọi màu sắc, nói lên được tinh thần đồng sự, bình đẳng tuyệt đối của đạo Phật, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, quý tiện, nam nữ, nói lên được chí nguyện xả thân của người Phật tử.” (Muốn có màu lam, ta lấy mực Tàu mài đặc hoặc tán nhuyễn, hòa với màu xanh dương, đun sôi, nhuộm vải màu trắng, giặt sạch là ra màu lam).
Bấy giờ chẳng những công nhận cho GĐPHP sử dụng màu lam là màu áo chính mà Tổng Hội còn quyết định đây là màu áo thường ngày (nhật bình) của Chư Tăng.
Tư:
Từ khởi đầu bản tường trình lên Tổng Hội Phật Giáo, màu áo lam đã thấm nhuần ý nghĩa:
Màu Lam là màu khói hương trầm, tượng trưng cho sự thanh khiết, hướng thượng cao cả.
Màu lam là màu hoại sắc, không loè loẹt, tổng hợp của nhiều màu, nói lên tinh thần bình đẳng tuyệt đối của Đạo Phật.
Đồng phục màu lam còn toát lên ý nghĩa “đồng sự” của đoàn sinh GĐPT. Vào GĐPT, gia nhập tổ chức áo lam, em luôn giữ gìn nhân cách, phẩm hạnh để tự truyền Phật Đạo, tự thân quất ngã “Cái tôi” trong tinh thần xây dựng tự ngã hoà đồng.
Tu:
- Luôn tâm niệm màu lam: thiêng liêng, tôn quý nhưng gần gũi, hòa đồng. Khoác lên đồng phục màu áo lam, ta thấy tâm hồn cởi mở, phóng khoáng, cao thượng, dễ tha thứ.
- Không mặc đồng phục áo lam trong lúc làm việc mưu sinh, không mặc áo lam mà ăn mặn vì đồng phục áo lam là lễ phục của tổ chức chúng ta.
- Em quý kính áo lam và quyết tâm tự chế không phạm sai lầm, quyết làm những việc lợi ích cho quần sanh để xứng đáng với ý nghĩa màu lam: hiếu với cha mẹ, thuận thảo với anh chị em, bạn bè,… sẵn sàng giúp ích mọi người.
Câu hỏi:
- Màu lam chính thức được công nhận là sắc phục của tổ chức GĐPT sau sự kiện gì?
- Em thấy màu lam ở những nơi nào?
- Ý nghĩa màu lam?
- Làm sao để nhuộm được màu lam?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
4Nhân quả

Văn:
Đối với dân tộc Việt Nam, có lẽ không mấy ai là không tin nhân quả. Đối với các em là con nhà Phật, thì Luật Nhân Quả các em đã được nghe qua lời dạy của các bậc cha mẹ từ lúc mới lên 5, lên 6. Hôm nay các em học lại cho kỹ để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Phật thuyết kinh Nhân Quả để giải thích cho chúng ta hiểu tại sao chúng sanh lại gồm có nhiều loài, ở trên không, dưới nước, cầm thú côn trùng, nhân thiên, A tu la. Mỗi loài đều có kẻ đẹp, người xấu, thân thể toàn vẹn hay tật nguyền đều do nhân quả mà ra.
A. ĐỊNH NGHĨA:
NHÂN là nguyên nhân, QUẢ là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không có Quả thì biết không có Nhân.
B. NHỮNG ĐĂC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Nhân Quả là định luật hiện thật: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý Nhân Quả, Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên đời sống thực tế để thuyết giảng Lý Nhân Quả cho chúng ta hiểu.
2. Nhân Quả chi phối tất cả: sở dĩ mọi thứ trên đời khác nhau vì được câu tạo bởi nghiệp nhân khác nhau. Vì thế định luật Nhân Quả chi phối tất cả sự vật. Định luật Nhân Quả không thiên vị, không bênh vực một ai. Không ai có thể phủ nhận hoặc sửa đổi định lý tất nhiên này.
3. Nhân Quả là một Định luật rất phức tạp; Lý Nhân Quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên hệ, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả thường tạo nên phức tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, những ai có sự hiểu biết thấp, thường khó nhận thức được sự chính xác của Lý Nhân Quả và gây nên những ngộ nhận về Lý Nhân Quả.
C. SƯ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ:
Đức Phật dùng đạo lý Nhân Quả để giải thích sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan này rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó nhận định.
1. Một Nhân tự nó không thể sinh ra Quả: Sự vật được hình thành giữa vũ trụ này đều do sự tổng hợp của nhiều nhân duyên. Một nhân không thể nào tự nó phát sinh ra quả được. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa tạo thành mà cần phải có các nhân khác giúp vào như đất, nước, ánh sáng mặt trời, phân bón… thì hạt lúa mới nẩy mầm được.
2. Nhân nào Quả nấy: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy chứ không bao giờ tương phản, mâu thuẩn nhau. Nếu ta muốn có quả cam thì phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói cách khác, Nhân với Quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.
3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Nhân, chính nó cũng là quả đồng thời của sự thuần thục của nhiều nhân duyên trước nó. Quả, chính nó cũng là nhân đồng thời cho sự phát sinh của quả khác. Ví dụ: tốt nghiệp đại học là kết quả của nhiều năm tháng học hành nhưng sự tốt nghiệp đó cũng là nhân chính cho sự tìm kiếm việc làm và ngược lại.
D. SỰ LIÊN HỆ GIỮA NHÂN VÀ QUẢ QUA THỜI GIAN:
1. Nhân Quả một thời: Nhân quả nối liền nhau. Nghĩa là vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng, như khi hai luồng điện âm dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian mới thuần thục.
2. Nhân Quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này. Như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.
3. Nhân Quả trong hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới có kết quả, nhân tạo đời này đến đời sau mới có kết quả; nghĩa là cần một thời gian khá lâu quả mới thuần thục. Ví dụ, trong đời sông hiện tại biết bố thí cúng dường thì đời sau sẽ được giàu sang.
4. Nhân Quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới có kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến nhiều đời sau mới có kết quả. Ví dụ, muôn thoát khỏi sanh tử luân hồi phải cần trải qua nhiều kiếp tu hành.
* Những ví du về Nhân Quả:
1- Nhân Quả nơi hiện Cảnh: Rừng rậm (Quả) là kết quả của nhiều cây hợp lại (Nhân). Sự tàn phá rừng (Nhân) sẽ gây ra lũ lụt tàn phá nhà cửa ruộng vườn (Quả).
2- Nhân Quả nơi tự Thân: Ăn uống điều độ, thường tập thể dục (Nhân) sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng (Quả).
3- Nhân Quả nơi tự Tâm: Tánh tình, tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự chi phối của Luật Nhân Quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục. Học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.
E. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ:
Luật Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu. Không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đặt trọng tâm vào “nhân quả đối với con người”.
1. Về phương diện thể chất:
Thân tứ đại là do bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, và đo hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ như thế tiếp nôi mãi. Nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.
2. Về phương diện tinh thần:
Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta một tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình trong nếp sống hiện tại là quả. Tính tình và nếp sông này lại làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
Để nhận rõ phần tinh thần này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.
F. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN:
1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
- Tham: Thấy tiền của người khác nổi lồng tham lam sinh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân, bị chủ đánh đập phải tàn tật hay bị nhà chức trách bắt giam, đánh đập tra tấn là quả.
- Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con, phá hoại nhà là nhân, khi hết giận đau đớn nhìn thấy vợ con bệnh hoạn, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.
- Si: Người si mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không còn biết sự hay dở, phải trái là nhân, làm cho gia đình lụn bại, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.
2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:
Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi xấu tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những kết quả sáng lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.
Người không có tính tham lam, bỏn xẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thời. Người không nóng giận tức được sông trong cảnh hiền hòa, gia đình êm âm. Người không si mê theo sắc dục thì được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện.
Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, người ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy.
G. LƠI ÍCH ĐEM LAI CHO CHÚNG TA DO SƯ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Luật nhân quả tránh cho chúng ta những mê tín di đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:
Luật nhân quả cho chúng ta thấy được những thực trạng của sự vật, không có gì là mơ hồ bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận thuyết chủ trương “Vạn pháp do một vị thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.
2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính mình:
Khi đã biết cuộc đời của mình là do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở nơi ai nữa? Lòng tin tưởng ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả tốt đẹp.
3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách mốc:
Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là vì đã cỏ thói quen ỷ lại kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã hiểu rõ tất cả hoàn cảnh mình đang hưởng thọ đều do chính mình gây ra. Người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại hay nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc, chỉ lo tự cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện để được hưởng kết quả tốt đẹp, thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giông ác để khỏi mang quả ác.
4. Người hiểu Luật Nhân Quả chỉ lo tạo Nhân lành và nghĩ đến kết quả trước khi hành đông:
Đã hiểu rõ những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ, nếu muôn được kết quả tốt đẹp trong tương lai thì hiện tại cần phải siêng năng làm những hành động có lợi cho mình, cho người, cho chúng sanh đúng theo lời Phật dạy.
Tư:
Chúng ta đã biết rõ giá trị của Luật Nhân Quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Em suy nghĩ: có người cả đời hiền từ mà gặp lắm tai nạn khổ sở, trái lại có người hung ác sao lại vẫn được bình an?
Trong kinh Nhân Qủa có nói: Muốn biết nhân đời trước thì phải nhìn kết quả hiện tại đang thọ hưởng, muốn biết quả tương lai thì hãy xem nhân gây ra trong hiện tại.
Vậy có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền lành, còn nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau họ sẽ chịu quả báo. Ví dụ như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ, thì do năm rồi họ làm có tiền của để dành. Còn cái nhân ăn chơi, không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.
Có người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn khổ sở, là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả an vui. Ví dụ có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là do nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm tới họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó cổ nhân có câu:
“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”
(Việc lành hay việc dữ đều có quả báo
Chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).
Do đó khi làm một việc gì, phái nghĩ đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều để phải chịu hậu quả đau khổ trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành ngày càng tăng trưởng. Và do sự gieo nhân lành toàn diện đó, từ địa vị Người, chúng ta có thể tiến dần đến quả vị Thánh hiền, được giải thoát giác ngộ.
Tu:
- Em ăn chay mỗi tháng ít nhất là hai ngày, vì đó là gieo nhân lành, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì quả phúc sẽ tròn đầy.
- Xa lìa các việc ác, dù là việc ác nhỏ cũng không làm.
- Luôn làm những việc thiện, dù là việc thiện nhỏ cũng không bỏ qua.
- Hàng ngày thường xuyên niệm Phật, luôn nghĩ đến trí tuệ của chư Phật, các hạnh lành của chư vị Bồ tát một cách thiết tha để noi theo những hạnh lành ấy, đó là cách thực hành tốt đẹp nhất.
Câu hỏi:
- Hãy định nghĩa hai chữ NHÂN và QUẢ?
- Hãy nêu đặc tính của Luật Nhân Quả?
- Hãy nêu một ví dụ về Nhân Quả nơi tự tâm của mình?
- Em hiểu thế nào câu nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”?
- Hiểu biết Luật Nhân Quả đem lại lợi ích gì?
- Đã hiểu rõ Luật Nhân Quả, em áp dụng vào đời sống như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5Luân hồi

A. giới thiệu:
Sự sống chết, mất còn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với con người, từ xưa đến nay con người vẫn luôn băn khoăn thắc mắc lo âu và vấn đề này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức nghiên cứu nhằm tìm kiếm một đáp án để lý giải một cách hợp lý hầu giải tỏa sự âu lo và thắc mắc của con người về sự sống còn mất.
Tuy nhiên càng truy tìm nghiên cứu, con người lại càng đưa ra những quan niệm sai lầm hơn, mà tiêu biểu là hai thuyết “Chấp thường và chấp đoạn” khi cho rằng con người chết rồi thì mất hẳn không còn gì tồn tại sau đó và khi chết rồi thì chỉ có thân xác bị tiêu hoại, nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi: để được hưởng những lạc thú an vui hay chịu cực hình đau khổ.
Hai thuyết “Chấp thường” và “Chấp đoạn” trên đây đã có sự tương phản với nhau đều không hợp lý. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không hề bị đoạn diệt cũng không phải thường còn, theo cái nhìn và quán chiếu của đạo Phật vào thế giới hiện tượng là không có vật gì mới được sinh ra, cũng không vật gì bị mất hẳn, vạn vật đều do có sự tương quan nhân duyên kết hợp mà thấy có sự biến dị hoặc hoại diệt.
B. nội dung:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Luân hồi dịch ở chữ (Samsãra) trong tiếng Phạn. Theo từ Hán còn gọi là Tăng-sa-lạc. Cũng còn gọi là: Sinh tử, sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục (Tự điển Phật học Huệ Quang-Tập 3.
Luân là bánh xe; Hồi là quay tròn; Luân hồi là quay tròn như bánh xe.
Tóm lại Luân hồi là: Chúng sinh tạo nghiệp, chết ở kiếp nầy rồi lại sinh vào kiếp khác, cứ quay vòng như vậy mãi mãi trong 3 cõi sáu đường.
Và nếu muốn diệt trừ sự khổ của luân hồi lục đạo thì trước phải dứt nhân tham, sân, si vì đây là nguyên nhân khiến chúng sinh luân hồi trong tam giới lục đạo. Khi nào cắt đứt được ngã chấp và tham, sân, si thì cái khổ luân hồi cũng chấm dứt.
II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI:
Định luật Thành, Trụ, Hoại, Không: chi phối toàn thể vận hành của vạn vật chúng sanh, trong vũ trụ tất cả sự vật, từ nhỏ đến lớn đều không thể nào vượt thoát ra ngoài.
1. Đất luân hồi:
Như cái bình trước mặt chúng ta, nguyên liệu để thực hiện chính là “Đất”, qua thao tác của người thợ với nhiều công đoạn nó trở thành cái bình, trải qua thời gian sử dụng, cái bình bể nát và trở về với trạng thái nguyên thủy là đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn để nuôi sống cây cỏ, cây cỏ lớn lên tàn rụi để trở thành phân bón cho các cây khác hoặc làm thực phẩm cho các loại động vật. Động vật ăn cây cỏ vào, rồi bài tiết ra hoặc sau khi già nua chết đi lại trở về với đất cát. Bao nhiêu lần thay đổi hình dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, nhưng đất cát nó cũng lại trở về với đất cát, tùy theo vòng luân chuyển dài hay ngắn.
2. Nước luân hồi:
Nước ở sông hồ, biển cả bị sức nóng của mặt trời bốc thành hơi; hơi nước bay lên không trung gặp khí lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao, hồ, sông biển, hoặc gặp vùng lạnh quá thì đóng lại thành băng. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần xoay vòng mãi mãi, nhưng rồi nước vẫn là nước. Điều này chứng tỏ hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước thì vẫn không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.
3. Gió luân hồi:
Không khí bị sức nóng của mặt trời giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù lấp vào những khoảng trống đó, không khí những nơi khác chạy tới điền vào. Sự luân chuyển liên tục của không khí tạo thành gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, nhanh thì gió mạnh và nhanh hơn thì trở thành bão, nhưng rồi dù có thay đổi trạng thái nhanh hay chậm, thì bản chất của gió vẫn là không khí.
4. Lửa luân hồi:
Lửa là một sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chẳng thấy có sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát nhau thật mạnh một hồi thì lửa liền được bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt cháy cả hai thanh củi, khi cháy thì một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí. Những cây khác dùng rễ mình để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia khi hồi đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Điều này chứng tỏ lửa chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải đứt đoạn hay mất hẳn.
5. Cảnh giới luân hồi:
Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Quả thật vậy, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra khỏi đinh luật Thành, Trụ, Họai, Không. Mỗi phút giây đều có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác xuất hiện, như làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nối tiếp, làm nhân, làm quả cho nhau, tiếp nối không bao giờ dứt.
6. Thân người luân hồi:
Thân người do tứ đại hợp thành mà tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Với chất cứng dẽo như gia thịt, gân xương của con người chính là Đất; những chất lỏng nhữ máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, nhịp đập của trái tim, buồng phổi, cử động lên xuống, qua lại của tay chân là thuộc về Gió; hơi nóng trong con người thuộc về Lửa. Như trên ta đã rõ, tứ đại đều luân hồi thì con người vì lệ thuộc vào tứ đại nên cũng luân hồi theo vì khi thân nầy chết thì tất cả đều trả về cho tứ đại, và cứ thế vòng quay mãi mãi tiếp tục.
7. Tinh thần luân hồi:
Con người không phải chỉ có tứ đại mà còn có phần tâm lý hay nói một cách tổng quát đó chính là tinh thần, bao gồm tất cả mà đạo Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm có tứ đại là đất, nước, gió, lửa đạo Phật gọi là Sắc. Tứ đại là phần tạo nên sắc thân không hề tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì Tâm thức hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà cũng chỉ biến chuyển xoay vần theo nghiệp.
Vậy nghiệp là một năng lực chứ nghiệp không phải là linh hồn, nghiệp có năng lực dẫn dắt hành động của mỗi chúng sanh. Do tính chất riêng ấy (biệt nghiệp) mà nghiệp lực mới dẫn dắt vào hình thức này hay hình thức khác do luật hấp dẫn (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu) mà chịu xuôi theo vòng luân hồi sanh tử.
III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ:
Khi mọi người đã hiểu luật nhân quả và tin vào luật nhân quả thì mọi người không thể không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi cũng chỉ là một chuỗi nhân quả có tính cách liên tục nhưng vì nó khi ẩn khi hiện, khi thăng khi giáng, khi mất khi còn, biến đổi dị dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.
Chúng sanh vì mê mờ nên đã tạo tác ác nghiệp: hành động, tham lam, sân hận, si mê, nghi mạn, ác kiến … đó là những nhân ác thì phải gặt quả ác. Và chúng sanh tu học theo chánh Pháp: Tu năm giới và thập thiện, thường làm việc phước đức, làm những điều lợi lạc cứu khổ độ sinh, hộ trì Tam bảo … đó là tạo tác nhân lành thì gặt hái được quả lành, an lạc giải thoát, được sanh về các cảnh giới tịnh lạc và phước báo của chư thiên. Do sự tạo tác lành, dữ, thiện, ác mà chúng sanh phải luân hồi vào trong ba cõi, sáu đường theo luật nhân quả chắc chắn không sai.
C. suy nghiệm:
Giáo lý Luân hồi đã lý giải cho chúng ta được hiểu biết rõ về sinh diệt, còn mất của con người và vạn vật trong vũ trụ. Giúp cho con người hiểu rõ được thiện ác nghiệp báo theo luật nhân quả và giáo lý luân hồi cũng đem lại cho con người nhiều điều lợi ích:
- Phá trừ được “đoạn kiến” sai lầm làm con người sinh ra chán nản, vì nghĩ rằng dù ta có cố gắng ăn hiền ở lành, sống đạo đức rồi cuối cùng chẳng đem theo được gì cả, chẳng hưởng được gì một khi chết đi thân thể bị tiêu hoại.
- Phá trừ được “thường kiến” sai lầm làm cho con người tin rằng con người khi chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phước hay tạo tội cũng vậy. Do đó mà con người sống với nhau không có tình người, không thương yêu giúp đỡ nhau mà còn bóc lột cướp giật, hại nhân, gây tội ác …
- Với giáo lý Luân hồi đem cho con người một niềm tin chân chính hợp lý: con người khi chết rồi không phải là mất hẳn mà chắc chắn có liên quan ảnh hưởng về nhân quả đối với kiếp sống hiện tại. Sống lành hay dữ, thiện hay ác, tạo tội hay phước, tức là tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp thì khi chết nghiệp lực đó sẽ dắt dẫn sinh vào trong vòng luân hồi của ba cõi sáu đường theo luật luân hồi nhân quả để chịu nghiệp. Giáo lý luân hồi cho con người tự tin là ta là chủ nhân của đời ta, ta tạo nghiệp nhân gì thì ta chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai thương hay ghét hoặc có quyền ban phước hay giáng họa cho ta cả.
D. thực hành:
Người Phật tử đã biết được ý nghĩa và giá trị của giáo lý luân hồi thì nên cố gắng tu tập theo đúng Chánh pháp, cải thiện thân tâm, tạo thiện nghiệp, tẩy sạch các nghiệp hữu lậu để gặt hái được quả lành để không còn trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử; nguyện được giải thoát sanh về các cảnh giới tịnh lạc bất sanh bất diệt của các vị A-La-Hán và chư Bồ Tát hay Chư Phật.
Theo lời Phật dạy:“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng giác ngộ và giải thoát”
Em quyết tâm tinh tấn tu tập theo Chánh Pháp:
- Thường xuyên niệm Phật để tâm được an trú trong chánh niệm.
- Xa lìa ác Pháp, hành động hướng theo các thiện Pháp đem lại lợi lạc cho chúng sinh để chuyển hóa khổ đau thành an vui.
- Tu tập giới Định Tuệ để diệt trừ Tham ái, Sân si, Mạn, Nghi, Cố chấp và thù hận để được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường và thanh tựu được Phật quả.
Chú thích:
* Ba cõi: gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới:
- Dục giới: là thế giới của ái dục, nơi đó chúng sinh còn tâm tham ái, dâm dục nên mỗi loài còn có phân biệt nam nữ, đực cái, trống mái. Thân thể được cấu tạo bằng ngũ uẩn.
- Sắc giới: gồm những cõi mà chúng sinh đã thoát ly được tham dâm và tham thực, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh.
- Vô sắc giới: gồm những cõi đã ly dục, không còn sắc thân vật chất, chỉ có tâm cảm với nghiệp lực.
* Sáu đường: gồm có Địa ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, loài Người và cõi Trời:
1) Địa ngục: do tạo nhân độc ác, làm nhiều điều tội lỗi, giết hại mạng sống, gây đau khổ cho chúng sinh, nên phải chịu luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ ải.
2) Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, giúp người, từ tài vật đến ngôn ngữ và hành động. Trái lại còn mưu sâu và độc kế cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.
3) Súc sanh: Tạo nhân si mê sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu sắc, tài khí, không biết hay dở, tốt xấu, thiện ác, chết rồi luân hồi làm súc sanh.
4) A-Tu-La: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính khí hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A-Tu-La, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.
5) Loài Người: Do tu nhân Ngũ giới: không sát hại mạng sống, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu say sưa thì đời sau sẽ trở lại làm người cao quý, an nhàn.
6) Cõi Trời: Tránh mười điều ác tu nhân Thập Thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên biết rằng cõi Trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, vẫn còn chịu nhân quả sanh tử luân hồi. Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử luân hồi và đến bốn cõi Thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật thì phải tu nhân giải thoát (tu Pháp xuất thế gian).
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
6Kinh Báo Hiếu

A. GIỚI THIỆU:
Nhân một buổi đi hoằng hoá của Đức Thế Tôn và các đại chúng, đoàn người dừng lại trước một đống xương khô chất cao như núi, Đức Thế Tôn sụp xuống lạy, tôn giả A-Nan hỏi nguyên nhân Phật lạy đống xương này. Phật giải thích: lạy đây là lạy ông, bà, cha, mẹ, các thân trước của ngài, A-Nan và toàn thể đại chúng xúc động mãnh liệt trước lòng hiếu thảo ấy và xin Phật dạy cách nào báo đáp ân sâu của cha, mẹ. Phật đồng ý thuyết giảng kinh và dặn lấy tên kinh là “ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN KINH” (Kinh báo đáp ân nặng của cha mẹ).
B. NỘI DUNG:
Nội dung Phật dạy về ân đức của cha mẹ, từ khi mới mang thai đến con trưởng thành … và cách báo đáp. Có mấy nội dung chính sau.
1. Sự hình thành của thai nhi, tuần tự trong 9 tháng khi nằm trong bụng mẹ:
- Tháng thứ nhất: như hạt sương.
- Tháng thứ hai: như giọt sữa đặc
- Tháng thứ ba: là giọt máu đông đặc.
- Tháng thứ tư: bắt đầu tượng hình người.
- Tháng thứ năm: chân tay đầu óc đầy đủ.
- Tháng thứ sáu: đủ sáu căn.
- Tháng thứ bảy: 360 đốt xương, 84 ngàn chân lông.
- Tháng thứ tám: phủ tạng, ý chí + 9 khiếu.
- Tháng thứ chín: trọn đủ chuẩn bị ra đời
2. Nếu là con hiếu nghĩa ra êm xuôi, không làm đau mẹ, nếu là con bạc nghĩa sinh ngược phải mổ xẻ.
3. Mười ân của từ mẫu phải lo báo đáp:
- Mang nặng hơn 9 tháng.
- Đau đớn tột cùng lúc gần sinh.
- Khi sinh, sống chết khó lường.
- Ăn đắng nhả ngọt.
- Chịu ướt, nhường khô.
- Bú mớm, nuôi nấng.
- Tắm gội giặt giũ.
- Đi xa lòng mẹ nhớ thương.
- Tạo bao ác nghiệp do thương con.
- Trọn đời yêu thương con dù con có lớn khôn đến bao nhiêu …
4. Những điều bất hiếu của đứa con:
- Khi đang còn trong gia đình: cãi lẩy hung hăng …
- Khi đã có gia đình riêng: chỉ lo cho gia đình riêng mình, nghe vợ hoặc chồng con cháu riêng mình, mà xúc phạm đến cha mẹ.
5. Cách báo ân:
Phật dạy “Dù làm thân trâu ngựa trong nhiều kiếp cũng không xứng được với ân của cha mẹ”. Cách báo ân hữu hiệu nhất là:
- Chép sao kinh Báo ân phổ biến cho nhiều người xem, đọc tụng.
- Bản thân cũng đọc tụng để ghi nhớ ân sâu của cha, mẹ.
- Sám hối, làm chay, hồi hướng công đức cầu siêu cho cha mẹ bảy đời của mình.
- Cúng dường tam bảo.
- Giữ giới, bố thí, làm mọi điều lành.
6. Tội bất hiếu:
Phải đoạ Địa ngục A-Tỳ, chịu muôn ngàn đau khổ. Cho nên Phật dạy: “Trong tất cả các tội, tội bất hiếu là lớn nhất, trong tất cả các hạnh, hạnh hiếu thảo là cao nhất”.
C. SUY NGHIỆM:
Cũng như đại chúng, khi Phật còn tại thế, em xúc động mãnh liệt thật sự khi đọc kinh báo hiếu. Em suy nghiệm lời Phật dạy và ngày càng thấm thía, hơn cả thiên kinh vạn quyển sách thế gian nói về ơn cha mẹ. Cái khác biệt nữa là, em biết không phải em chỉ có cha mẹ, các anh, chị, các em … của em cũng có thể là cha mẹ trong một kiếp nào đó của em.
Từ đó em sinh lòng biết ơn mọi người, muốn làm điều lành để báo ơn họ.
Những người con bất hiếu như chửi cha mắng me, khi cha mẹ trăm tuổi rồi, không tìm lại được nữa, bấy giờ người ấy sẽ đau khổ tận cùng, khi nghĩ lại những điêu không phải của mình. Đó phải chăng là Địa ngục A-Tỳ ngay tại đây!
D. THỰC HÀNH
Bài học cho em nhiều điều thú vị: Phật nhãn quá siêu phàm, cách đây hơn 2500 năm Thế Tôn đã thấy những điều mà khoa học ngày nay phải dùng đến những phương tiện, kỹ thuật thiện xảo mới thấy được. (thai nhi trong bụng mẹ).
Em vô cùng ngưỡng mộ Đức Phật, nguyện làm theo lời ngài dạy:
- Nguyện không quên ơn ai, dù họ làm cho mình mọi việc tốt nhỏ và xem mọi người như là cha mẹ của mình trong nhiều kiếp.
- Với song thân hiện tại, nguyện ghi nhớ thâm ân, báo đáp bằng cách tu thân và khuyên cha mẹ quy y tam bảo (nếu chưa).
- Không bao giờ phủ nhận công ơn sinh thành bằng cách nghĩ rằng: “Tôi ra đời không do tôi muốn mà do ông bà muốn sinh tôi”. Chớ nói tới câu nói vô ơn bạc nghĩa đáng đọa Địa ngục A-Tỳ ấy.
- Mở rộng lòng thương đến muôn loài, vì biết đâu một kiếp nào đó, mình ở loài súc sinh: con mèo, con chó mình đang nuôi đây đã từng là cha, là mẹ mình … Từ đây trong em phát khởi lòng khiêm cung đối với tất cả, không mắng nhiệt ai, hạ nhục ai …
- Em nguyện không sao lãng việc báo hiếu trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động của em.
Câu hỏi:
- Nguyên nhân Phật nói kinh báo hiếu?
- Em hãy kể những điều bất hiếu mà con cái vấp phải khi còn ở trong gia đình với cha mẹ và anh chị em?
- Em hãy kể một mẫu chuyện tiền thân hay một mẫu chuyện Đạo, trong đó người con hiếu thảo đã róc thịt, móc mắt… để báo ân cha mẹ?
- Em có phải là người con hiếu không? Cụ thể em đã làm gì để báo trọng ân của cha mẹ?
- Hãy kể chuyện Bồ tát Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ là bà Thanh Đề, và nói ý nghĩa của câu chuyện ấy?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
7Ý nghĩa, giá trị của nghi lễ

A. GIỚI THIỆU:
Nghi lễ là một pháp môn hay phương tiện dẫn dắt đời sống tinh thần con người đạt đến nguồn chánh tín cứu cánh, hoằng hoá lợi sanh để đưa con người vào Đạo một cách dễ dàng.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH NGHĨA:
* Nghi: là những phương thức biểu lộ sự cung kính một cách trang nghiêm đối với Tam bảo hay để truy tiến báo ân đối với các đấng cao cả mà mình tôn thờ.
* Lễ: là một hình thức sinh họat truyền thống có giá trị tâm linh nhằm đánh dấu những thời điểm quan trọng trong cuộc đời tu tập và sinh hoạt của một Đoàn sinh và Huynh trưởng trong tổ chức.
Tóm lại: Nghi lễ là chỉ chung cho nghi thức tụng niệm, cũng như phương thức hành lễ sinh hoạt trong phạm vi tín ngưỡng của một tôn giáo.
II. GIÁ TRỊ VÀ MỤC ĐÍCH:
Bất cứ một tôn giáo nào cũng phải có những hình thức nghi lễ để tiêu biểu tinh thần đạo vị của mình, mặc dù trên hình thức âm điệu của mỗi đạo giáo có phần sai khác nhưng mục đích vẫn là chí thành cầu nguyện, tán thán vị giáo chủ mà mình đã quy ngưỡng tôn thờ.
Đạo Phật không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ, nhưng là bước đầu của quy hướng, nhờ có nghi lễ mà đưa người vào Đạo một cách dễ dàng.
Vậy nghi lễ là một pháp môn hoằng đạo rất đắc lực, do pháp môn này nhiên hậu chúng ta lần lượt đưa con người vào chỗ hiểu đúng giá trị cao siêu, lợi ích rộng lớn của Đạo Phật.
III. PHƯƠNG TIỆN HỖ TƯƠNG TRONG NGHI LỄ:
Mỗi khi hành lễ, muốn được hoà điệu âm thanh nhịp nhàng, tăng phần trang nghiêm cảm ứng, đưa người trở về trong tâm thức của ý nghĩa “Đạo Giáo nan tư nghì”. Đó là sự giao cảm thiêng liêng giữa chúng sanh và chư Phật. Chúng ta cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hỗ tương trong những khoá lễ như Đại hồng chung, chuông mỏ, khánh, linh. v.v..
IV. TƯ CÁCH CỦA NGƯỜI HÀNH LỄ VÀ KHI HÀNH LỄ:
1. Người chủ lễ và đại chúng:
Phải thành kính trong khi hành lễ, THÀNH và KÍNH là hai yếu tố cần phải có trong một buổi lễ. Phải thận trọng trong cử chỉ và hành động, tâm phải chuyên chú hướng lên chân dung đức Phật, để tạo sự trang nghiêm trong đạo tràng, mới không làm mọi người chung quanh tán loạn và mất tín tâm.
2. Nghi thức hành lễ đúng quy định:
Gia Đình Phật Tử áp dụng nghi lễ thống nhất, do đó chúng ta phải theo đúng nghi thức mà Ban Hướng Dẫn Trung Ương đã quy định, tuỳ theo buổi lễ. Không xáo trộn và thêm bớt những bài tán tụng không đúng quy định hoặc không nói lên tinh thần của buổi lễ. Dù là một buổi lễ đơn giản, điều cần thiết là phải nói lên được tinh thần buổi lễ và tín tâm chí thành của mọi người chung quanh.
V. NHỮNG HÌNH THỨC NGHI LỄ CẦN BIẾT:
Hình thức nghi lễ đối với Phật Giáo rất nhiều, nhưng có thể tóm lược và quy định trong những hình thức như sau:
1. Trang trí thờ Phật:
Mục đích trang trí thờ Phật là để kính ngưỡng. Đức Phật là hình ảnh nhiếp thiện. Người Phật Tử thờ Phật là để tri ân và noi gương sáng của Ngài. Không nên quan niệm thờ Phật là để ỷ lại thần quyền ban ơn giáng hoạ, để cầu cạnh van xin trái với chánh Pháp. Cho nên chỉ thờ Phật và các vị Bồ Tát đầy đủ đức tướng từ bi, hỷ xả, không thờ những hình tượng thánh thần mông lung vô ý nghĩa. Tôn trí bàn thờ nơi trang nghiêm. Tại tư gia nên thờ ở căn giữa, người Phật tử còn phải thờ ông bà cha mẹ. (Tiền Phật hậu linh) với quan niệm tri ân báo hiếu, Pháp khí thờ tự đơn giản, tránh hình thức lố lăng.
2. Sự cúng kính:
Thờ Phật tất phải có cúng dường Phật là để tỏ lòng thành chứ không phải để cầu đảo van xin ban phước. Vì thế sự cúng kính cần phải chí thành và lễ phẩm cốt đơn giản, thanh khiết. Sự dâng lễ cúng dường gồm có 3 phần:
* Lễ phục: Y phục sạch sẽ trang nghiêm với tâm hướng thiện để tỏ lòng thành kính khi đối trước Tam Bảo (giữ trong sạch từ thể chất đến tinh thần). Lễ phục cốt trang nghiêm để tỏ lòng thành kính. Không nên dùng lễ phục hoa hoè, màu sắc rực rỡ. Nếu không có áo tràng có thể dùng y phục Á Đông. Riêng Gia Đình Phật Tử, vì để được đồng phục và phù hợp với tuổi trẻ nên có thể mặc đồng phục GĐPT tượng trưng cho y phục lễ.
* Lễ phẩm: Gồm hương, hoa, tịnh thuỷ, trái cây tươi tốt để cúng dường chủ yếu là ở chất lượng nơi lễ phẩm cúng dường với lòng thành, dâng cúng không nhất thiết phải có đa mâm, đa lễ như trong kinh đã dạy (Hương hoa tịnh thuỷ biến sái Tam Thiên).
* Lễ nhạc: Sử dụng các thứ Pháp khí và âm nhạc là để cúng dường, mục đích nhạc lễ là để nương theo âm điệu hoà với tiếng kinh để nhiếp tâm chánh niệm và nhất tâm. Không nên tạp âm thanh quá náo nhiệt ồn ào gây nên loạn tâm và mất thanh tịnh, trang nghiêm của buổi lễ.
VI. NHỮNG NGHI THỨC VÀ LỄ LƯỢC HIỆN NAY GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ĐANG ÁP DỤNG:
1. Nghi thức:
Gồm có 07
- Nghi Tinh độ
- Nghi Cầu Siêu
- Nghi Cầu An
- Nghi Khánh Đản
- Nghi Vu Lan
- Nghi Thành Đạo
- Nghi Phổ thông.
2. Lễ lược:
- Lễ sinh nhật Đội, Chúng, Đàn và Đoàn: Kỹ niệm ngày thành lập.
- Lễ Chu niên: Kỹ niệm ngày thành lập cấp Đơn vị Gia đình trở lên.
- Lễ Phát nguyện: kết nạp Đoàn sinh để công nhận là Đoàn sinh chính thức của GĐPT Việt Nam.
- Lễ Lên Đoàn: Từ oanh vũ lên ngành Thiếu và từ ngành Thiếu lên ngành Thanh.
- Lễ gắn cấp hiệu bậc học cho Đoàn sinh: sau khi có quyết định trúng cách bậc học.
- Lễ Thọ cấp cho Huynh trưởng.
- Lễ Truyền Đăng: Tổ chức cho các Trại Huấn luyện trước khi bế mạc trại.
C. KẾT LUẬN:
Nói tóm lại, chúng ta là Phật tử, lại là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử thì chúng ta phải luôn luôn tinh tấn tụng niệm để sám hối, cầu an, cầu siêu với mục đích cuối cùng là hướng dẫn con người trở về cảnh giới an vui giải thoát. Do đó học và hiểu rõ ý nghĩa giá trị nghi lễ, để áp dụng đúng với ý nghĩa của nó, ngoài ra còn phải hiểu rõ được các nghi thức cũng như lễ lược đặc thù của tổ chức Gia Đình Phật Tử tức là đã áp dụng một phương tiện tốt đẹp cho công việc tu dưỡng bản thân, và cảm hoá mọi người, đưa mọi người vào đạo một cách tốt đẹp, cũng như làm cho tổ chức ngày một thăng tiến.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
8An cư kiết hạ

A. GIỚI THIỆU:
Từ thuở Phật còn tại thế, mỗi năm chư Tăng, Ni vân tập về một nơi, tuỳ theo tu viện hay Tịnh xá trong mùa mưa, để cùng nhau kiểm điểm lại công tác Phật sự, cùng nhau sách tấn tu học. Những ai được Giáo đoàn công nhận học khá, siêng làm đúng chánh pháp, thì được cho một tuổi gọi là Lạp. Đó là mùa AN CƯ của các chư Tăng Ni, đó là thời gian quý Ngài cùng nhau gợi ý để sám hối, nếu trong năm qua đã phạm giới luật.
Thời gian an cư thường kéo dài ba tháng, ngày cuối cùng của mùa an cư gọi là ngày TỰ TỨ.
Ở nước ta do khí hậu đặc biệt của miền nhiệt đới, chư Tổ ngày xưa đã chế lập việc an cư nhằm mùa nắng (mùa nắng ở miền Bắc, Trung miền cao nguyên và Nam là mùa mưa) thường thì bắt đầu vào Rằm tháng tư (Phật Đản) và kết thúc vào Rằm tháng 7 (Vu Lan). Do vậy An cư được kèm theo chữ Kiết hạ, và chư Tăng Ni Việt Nam lấy tuổi xuất gia qua mỗi mùa An cư gọi là Hạ Lạp.
B. NỘI DUNG:
I. Ý NGHĨA VÀ XUẤT XỨ:
- Tôn trọng sự sống: Nhằm mục đích tránh giẫm đạp côn trùng bởi sự sống chỉ có một nên không thể xâm phạm sự sống dù đó là loài vi sinh.
- Theo Tứ Phần luật San Bổ Tùy Cơ Yết ma số 4 giải thích: thân tâm đều tĩnh lặng là an; quy định thời gian ở một chỗ gọi là cư; là thời gian mà Tăng chúng quy tụ một chỗ ở thanh tịnh để cùng nhau tu hành, kiểm điểm hành vi, cử chỉ y theo luật Phật mà hành trì.
- Pháp An cư lúc đầu do Bà La Môn giáo thời cổ đại ở Ấn độ thực hành, về sau Phật giáo chọn dùng.
- Kinh Du hành trong Trường A Hàm 2, Phật Bản Hạnh tập kinh 39 đều có chép sự tích Đức Phật và đệ tử an cư tu hành.
II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN CƯ:
- Theo Kiền Độ An cư trong Luật Tứ Phần 37 quy định như sau: An cư dưới cội cây, trong thất nhỏ, trong hang núi, bọng cây, trên thuyền, nơi làng xóm hoặc có thể nương theo người chăn trâu, người ép dầu, người đốn cây.
- Pháp An cư trong Luật Ngũ phần 19: Cấm an cư ở nơi không có người cứu hộ, giữa gò mả, nơi cây không có tàng, nhà lợp bằng da thú, chỗ đất trống.
- Trước khi An cư phải sửa sang phòng xá, phân phối phòng xá và những vật cần dùng cho đại chúng một cách công bằng.
- Tỳ kheo và Sa di An cư cùng một chỗ, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma ni, sa di ni An cư cùng một chỗ.
- Trong luật tạng Pàli quy định: Tỳ kheo không an cư thì phạm tội ác tác (Đột kiết la).
- Theo Kiền độ Ca hi na, Luật Tứ phần 43, khi kết thúc an cư phải thi hành 4 việc: Tự tứ, giải giới, kiết giới và thụ công đức y; Sau khi an cư viên mãn, đại chúng xét lại hành vi của mình trong thời gian an cư, nếu có tội thì tự bày tỏ tội của mình, sám hối lẫn nhau gọi là Tự tứ (ngày Tự tứ gọi là Tự tứ nhật, Phật hoan hỉ nhật). Khi kết thúc an cư, phải giải trừ cương giới quy định gọi là Giải giới. Sau khi an cư viên mãn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni tăng thêm một Pháp lạp (còn gọi là Hạ lạp là phép tắc chuẩn định thứ lớp lớn nhỏ của người xuất gia).
III. THỜI HẠN AN CƯ:
- Theo điều Sàng Nhục Pháp trong Luật Ma-ha Tăng Kỷ 27: nếu địa điểm An cư gần thì có thể phân phối vào ngày rằm tháng 4, nếu xa hoặc có người An cư quá đông phải dời đến một nơi khác để An cư thì được phân phối vào ngày 13 tháng 4.
- Trong thời gian an cư cấm ra ngoài; nếu trái quy định này thì phạm tội Ác tác. Nhưng theo Luật Tứ phần 37, nếu đi và về trong ngày hoặc có duyên sự đặc biệt Tăng chúng cho phép thì được ra ngoài,nhưng chỉ giới hạn trong vòng 7 ngày hoặc 15 ngày mà thôi, phương pháp này gọi là Thất nhật pháp, Thụ nhật pháp.
- Thời gian an cư thông thường là 90 ngày. Theo Tứ phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, thượng, phần 4: ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày kết thúc an cư, ngày hôm sau (ngày 16 tháng 7) là ngày Tự tứ (Kinh Mục Liên và Vu Lan đều dạy: Công đức của chư Tăng 10 phương là không thể nghĩ bàn, Phật tử nên chuẩn bị Tứ sự cúng dường và cầu xin chư tăng cầu siêu độ cho cha mẹ 7 đời, cửu huyền thất tổ, trong thời gian An cư là thời gian thích hợp nhất nên ngày Tự tứ có 3 ý nghĩa:
1. Ngày hoan hỷ của chư Phật (vì giáo đoàn ngày một cũng cố và phát triển)
2. Ngày thọ Lạp của chư Tăng.
3. Ngày xá tội vong nhân. (tha tội cho những người đã mất). Ngày Vu Lan. (báo hiếu).
- Theo Đại Đường tây Vực ký 2, 8: thời gian an cư là ngày 16 tháng 4 đến ngày rằm tháng 8.
IV. CHỦNG LỌAI AN CƯ:
Có 2 loại:
- Tiền an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 5, hậu an cư thì bắt đầu từ ngày 16 tháng 6.
- Tiền an cư, trung an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 4, Trung an cư thì bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 cho đến rằm tháng 5, Hậu an cư bắt đầu từ 16 tháng 5.
C. SUY NGHIỆM:
An Cư Kiết Hạ là một phương pháp thực tế và đầy nhân bản:
- Kết hợp việc tu chứng và hành trì bằng việc chú trọng thực hành và duy trì giới luật trong một thời gian và một chu kỳ nhất định.
- Làm sáng tỏ nghĩa vụ và bổn phận của người xuất gia lẫn tại gia về vấn đề hoằng pháp và hộ pháp.
- Lập nên một nhân sinh quan đạo đức căn cứ vào Hạ lạp của hàng Tăng già: Người lớn tuổi mà Hạ lạp ít vẫn không được sự tôn trọng bằng người nhỏ tuổi mà Hạ lạp cao, bởi trọng hay khinh ở đây không đo lường hay so sánh về tuổi lớn, nhỏ, địa vị xã hội trước đây mà chỉ căn cứ vào trình độ tu chứng về đạo đức.
D. TU TẬP:
1. Tự thân em hết lòng hộ giới bằng cách cúng dường theo khả năng, và tham gia đầy đủ các pháp hội, để có được chút ít trí tuệ hầu soi rọi cuộc đời mình.
2. Chăm chỉ học tập và siêng năng tu trì, giữ gìn chùa tháp, chăm sóc Già lam, để Tăng Ni an tâm nhập hạ.
3. Động viên khuyến khích đạo hữu, đoàn sinh cúng dường các trường hạ để các nơi đó có thêm kinh phí thực hiện những Phật sự rộng lớn có ích cho mọi người.
Ghi chú: Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Nay chuyển sang chương trình Bậc Chánh Thiện.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550 Tài liệu tham khảo : Theo kinh Thỉnh Thỉnh, Trung A Hàm 29, Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội 5, Kinh Chánh Pháp Niệm, Luật Tứ phần 58, Cảnh Đức truyền đăng lục, Gia Thái Phổ đăng lục, Thiền Uyển Thanh quy, Luận Hộ quốc Hưng Thiền.. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
9Cuộc vận động Phật giáo 1963 và GHPGVN Thống nhất
Tham khảo thêm
Cuộc vận động Phật giáo năm 1963
Diễn tiến chính
- Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật Đản, trong khi các tôn giáo khác vẫn được treo cờ.
- Đêm 8/5/1963 (Phật Đản), tại Đài phát thanh Huế, lực lượng chính quyền đàn áp đồng bào Phật tử tụ tập, làm nhiều người thiệt mạng, phần lớn là các em thiếu nhi.
- Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng, đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo; phong trào lan rộng khắp miền Nam.
- Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để bảo vệ đạo pháp, gây chấn động thế giới.
- Tháng 8/1963, chính quyền tấn công nhiều chùa, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử.
- Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Gia Đình Phật Tử trong cuộc vận động
- Nhiều Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT đã tham gia bảo vệ đạo pháp, một số đã hy sinh; tổ chức tôn vinh các vị là Thánh tử đạo.
Ý nghĩa
- Thể hiện tinh thần vô úy, hy sinh vì đạo pháp và tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt Nam.
- Dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (năm 1964).
Lưu ý
- Anh chị trưởng nên dùng thêm tài liệu lịch sử của Ban Hướng Dẫn để giảng dạy chi tiết, đặc biệt danh sách các vị Thánh tử đạo.
Tham khảo thêm
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Thành lập
- Sau cuộc vận động năm 1963, các hệ phái, tổ chức Phật giáo (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ…) họp Đại hội thống nhất; đầu năm 1964 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với bản Hiến chương.
Tổ chức
- Hai viện chính: Viện Tăng Thống (lãnh đạo tinh thần, giới luật) và Viện Hóa Đạo (điều hành Phật sự).
- Đức Đệ nhất Tăng thống là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
- Gia Đình Phật Tử là tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trực thuộc Giáo hội.
Sau này
- Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước.
Lưu ý
- Đây là đề tài lịch sử tổ chức; anh chị trưởng giảng theo tài liệu chính thức của Ban Hướng Dẫn.
10Tinh thần vô úy và an nhẫn trong Phật giáo
Lục độ

A. DẪN NHẬP
Lục độ là pháp môn tu đặc thù, pháp môn cao nhất trong sự hành trì của đạo Phật, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm vào cái không tính của chân như, cái trạng thái mà kinh Kim Cang đã dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Khi tu theo pháp môn này hành giả không còn khái niệm phân biệt “Nhân, ngã, bĩ, thử” mà hòa đồng vào cái lý mầu nhiệm, giải thoát của đạo Phật, cái thể tính chân không của vạn hữu.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Độ tiếng Phạn là Ba-La-Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua, từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết bàn.
Lục độ là 6 hạnh có thể đưa hành giả và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu hạnh là: Bố thí Ba La Mật, trì giới Ba La Mật, nhẫn nhục Ba La Mật, tinh tấn Ba La Mật, thiền định Ba La Mật và trí tuệ Ba La Mật.
II. HÀNH TƯỚNG:
1. Bố thí Ba La Mật:
a. Định danh:
Bố là cùng khắp; Thí là cho, trao tặng. Bố thí là đem của tư hữu của mình đem cho cùng khắp tất cả mọi người không phân biệt giới hạn người hay vật, thân hay sơ. Hễ thấy ai còn thiếu thốn vật gì, nếu sẵn có, đều bình đẵng giúp tất cả không luyến tiếc.
b. Thành phần của Bố thí Ba La Mật:
Gồm có 3 phương thức sau đây:
- Tài thí: tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí cũng có 2 phương thức:
+ Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình như thân mạng, có nghĩa là khi cần thiết vẫn xã thân mình để cứu giúp người khác không kể sự nguy hiểm đến thân mạng nếu có. Đây là phương pháp bố thí cao nhất mà chỉ có những người giàu lòng từ bi, mới làm được (trong các câu chuyện tiền thân của Đức Thế tôn)
+ Ngoại tài: là những vật thường dùng trong đời sống của mình như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc..
- Pháp thí: là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy của chư Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác, hoặc y theo giới luật của Phật để hành trì trong đời sống hằng ngày nhằm làm khuôn mẫu cho mọi người bắt chước bỏ ác làm thiện. Pháp thí là một phương thức bố thí có một giá trị lớn lao, nó có tác dụng huân tập về mặt tinh thần mang đến nhân lành không những cho kiếp này mà cả những kiếp sau, không kể nghèo khó hay giàu sang, lao động hay trí thức.
- Vô uý thí: Trong cuộc sống, sự sợ hải trước bao nhiêu điều đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra là một tâm lý khổ đau nhất, chiếm hết quá phân nữa thời gian của kiếp người. Do đó khi thực hiện Vô úy thí là mang lại cho họ sự bình tĩnh tuyệt đối trước mọi sự kiện bằng chính hành động của bản thân, nhằm tạo cho họ một tâm an tịnh hầu xử dụng lý trí suy xét của từng sự kiện, phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ của đức Phật. Để qua các giáo lý thích hợp đó tâm họ không còn xao động và bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Tóm lại tu hạnh vô úy thí khi hành giả đi đến đâu cũng đem đến một sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật.
c. Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:
Nói đến hạnh Bố thí Ba la mật cần phải nhận rõ 2 điểm sau đây: Bố thí chấp tướng và Bố thí không chấp tướng:
+ Bố thí chấp tướng: là bố thí với một dụng tâm không trong sạch (cầu danh, cầu tài lợi, vì ganh đua, vì muốn làm nhục và khinh rẽ người, vì sự lừa lọc, bất công, thiên vị). Đây chính là bố thí thuộc về hữu lậu kết quả rất mong manh như mây nỗi giữa hư không gặp gió thổi thì tan biến.
+ Bố thí không chấp tướng: là bố thí Ba la mật: với một dụng ý trong sạch, đúng với ý nghĩa của nó, bố thí với tâm từ bi bình đẳng, bố thí với tâm không thấy kẽ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.
Ngoài ra bố thí thì phát sanh các công năng sau đây:
+ Diệt lòng tham lam ích kỷ
+ Đem lại ấm no
+ Phát triễn chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.
+ Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.
2. Trì giới Ba La Mật:
a. Định danh:
Trì giới Ba la mật là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.
b. Thành phần của giới luật:
Có thể chia ra làm 3
- Giới tại gia: là những giới dành cho những người cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
- Giới xuất gia: là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:
+ Sa di và Sa di ni giữ 10 giới
+ Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.
+ Tỳ kheo giữ 250 giới.
+ Tỳ kheo ni giữ 348 giới.
- Giới Đạo và Tục thông hành: là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới:
+ Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác): là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.
+ Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.
+ Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh): làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi., hỷ, xả.
c. Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
Cũng như hạnh Bố thí cũng có 2 loại:
+ Trì giới chấp tướng: là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.
+ Trì giới không chấp tướng: là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật: không chấp có sự tướng.
Ngoài ra tu hạnh trì giới có các công năng:
+ Ba nghiệp thanh tịnh: không sanh các tà niệm
+ Các thiện công đức phát sanh.
+ Nêu cao giá trị: không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.
+ Người và vật kính yêu: không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.
3. Nhẫn nhục Ba La Mật:
a. Định danh:
Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.
b. Thành phần của nhẫn nhục:
Có 3 thành phần:
+ Thân nhẫn: đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.
+ Khẩu nhẫn: Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chửi, phàn nàn, nguyền rủa.
+ Ý nhẫn: Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.
Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như:
- Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
- Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập.
- Nội pháp nhẫn: Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
- Ngọai pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phần uất.
Và 2 loại nhẫn nhục:
+ Nhẫn nhục có chấp tướng: là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.
+ Nhẫn nhục không chấp tướng: là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.
c. Công năng của Nhẫn nhục:
+ Không làm những việc vô ý thức
+ Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.
+ Không trụy lạc theo năm dục.
4. Tinh tấn Ba La Mật:
a. Định danh:
Tinh tấn là không ô nhiểm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.
b. Thành phần của Tứ chánh cần:
Gồm có 4 điều:
+ Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.
+ Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.
+ Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.
+ Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.
Tinh tấn có 2 lọai:
+ Tinh tấn có chấp tướng: là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng..
+ Tinh tấn không chấp tướng: là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
c. Công năng của hạnh Tinh tấn:
+ Dũng mãnh hăng hái: diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.
+ Không thối xuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.
+ Tiến gần đến đạo giải thoát.
5. Thiền định Ba La Mật:
a. Định danh:
Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)
b. Các loại thiền định:
+ Quán hởi thở: Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dỏi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.
+ Quán hạnh từ bi: Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.
+ Quán sự không thanh tịnh: Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.
+ Quán về pháp nhân duyên: Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.
+ Quán theo niệm Phật: Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.
Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.
c. Công năng của pháp môn Thiền định:
+ Loại trừ bớt lòng tham dục: nhờ quán thanh tịnh.
+ Trừ nóng giận: nhờ quán từ bi
+ Phá si mê: nhờ quán nhân duyên
+ Ngăn các phiền não: nhờ quán niệm Phật
+ Diệt loạn tâm: nhờ quán hơi thở.
+ Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật
6. Trí huệ Ba La Mật:
a. Định danh:
Là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.
Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì: Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.
b. Các loại trí huệ:
Về cơ cấu thì trí huệ có 2 lọai
- Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
- Hậu đắc trí: là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:
+ Đại viên cảnh trí: Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.
+ Bình đẵng tánh trí: Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã
+ Diệu quan sát trí: Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.
+ Thành sở tác trí: Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiết, thân).
Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhật với các tên gọi:
+ Văn huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.
+ Tư huệ: là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.
+Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.
c. Công năng của trí huệ
+ Diệt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.
+ Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.
+ Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.
C. SUYNGHIỆM:
Trừ mê diệt khổ là nguyên vọng duy nhất của người con Phật. Muốn đạt được nguyện vọng ấy cần phải cương quyết thực hành sáu hạnh độ, chỉ vì chỉ có 6 hạnh độ mới có đủ công năng đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.
Với chúng ta những con người thuộc hàng sơ cơ, nên khó có thể hành trì ngay tức thời 6 hạnh độ, tuy thế phải ghi nhớ lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, do đó mình cũng có khả năng giải thoát và giác ngộ, nếu tự mình chí tâm thì có thể tu hành để phát triễn khả năng giải thoát và giác ngộ sẵn có của mình để từ đó dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.
D. TU TẬP:
Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách:
1. Phát Bồ đề tâm:
Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn:
+ Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.
+ Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.
+ Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.
+ Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.
2. Xem thường tài sản và tính mạng:
Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.
3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ:
Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm: chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Tinh thần vô úy và an nhẫn trong Phật giáo
Vô úy
- Vô úy là không sợ hãi. Người con Phật không sợ hãi vì hiểu lẽ vô thường, nhân quả, sống ngay thẳng nên lòng không bất an.
- Vô úy không phải là liều lĩnh, mà là can đảm đứng về phía lẽ phải, dám nhận lỗi, dám bảo vệ người yếu.
- Vô úy thí là đem sự che chở, an ủi giúp người khác bớt sợ hãi; là một trong ba cách bố thí (tài thí, pháp thí, vô úy thí), đã học trong bài Lục độ ở trên.
An nhẫn
- An nhẫn là bình tâm chịu đựng nghịch cảnh, lời chê bai, sự khó khăn mà không oán giận, không trả thù; là hạnh nhẫn nhục trong Lục độ.
- Nhẫn không phải là yếu đuối hay cam chịu điều sai, mà là giữ tâm sáng suốt để chọn cách hành xử đúng.
Liên hệ với châm ngôn Bi – Trí – Dũng
- Dũng của người Huynh trưởng, đoàn sinh là dũng của vô úy và an nhẫn: thắng được chính mình trước khi thắng người khác.
Gợi ý hoạt động
- Thảo luận theo Đội, Chúng các tình huống: bị bạn trêu chọc, thấy bạn bị bắt nạt, bị hiểu lầm; tìm cách cư xử vừa an nhẫn vừa vô úy.
11Phật giáo với Tôn giáo, Khoa học, Triết học
Tham khảo thêm
Phật giáo và tôn giáo
- Phật giáo có niềm tin, nghi lễ, tăng đoàn như một tôn giáo; nhưng Đức Phật không tự xưng là đấng sáng tạo hay ban phước giáng họa. Con người tự chịu trách nhiệm về nghiệp của mình, tự giải thoát bằng con đường tu tập; niềm tin trong Phật giáo đi đôi với trí tuệ và kiểm nghiệm (kinh Kālāma).
Phật giáo và khoa học
- Phật giáo khuyến khích quan sát, suy xét, kiểm chứng; nhiều nhà khoa học quan tâm đến thiền và tâm lý học Phật giáo.
- Tuy nhiên khoa học nghiên cứu thế giới vật chất bằng thực nghiệm, còn Phật giáo hướng đến giải thoát khổ đau; không nên đồng nhất hay gượng ép so sánh.
Phật giáo và triết học
- Phật giáo có hệ thống tư tưởng sâu sắc về con người và vũ trụ (duyên khởi, vô thường, vô ngã), nên thường được nghiên cứu như một triết học.
- Nhưng Phật giáo không dừng ở lý luận: mục đích là thực hành để chuyển hóa khổ đau. Đức Phật từng không trả lời những câu hỏi siêu hình không giúp ích cho giải thoát.
Thảo luận
- Có người nói “Phật giáo chỉ là triết học”. Em nghĩ sao?
12Đại thừa và Tiểu thừa
Tham khảo thêm
Nguồn gốc tên gọi
- Sau khi Đức Phật nhập diệt, Tăng đoàn dần chia thành nhiều bộ phái. Khoảng đầu Công nguyên, phong trào Đại thừa (Mahāyāna – cỗ xe lớn) phát triển, đề cao lý tưởng Bồ-tát độ khắp chúng sinh, gọi các truyền thống trước đó là Tiểu thừa (Hīnayāna – cỗ xe nhỏ).
- Ngày nay, để tôn trọng nhau, nên dùng tên Phật giáo Nam truyền (Theravāda – Nam tông, phổ biến ở Sri Lanka, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia) và Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông, phổ biến ở Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng).
Điểm chung
- Cùng tôn thờ Đức Phật Thích Ca, cùng giáo lý căn bản: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tam pháp ấn, Duyên khởi, Giới – Định – Tuệ.
Điểm khác nhau chính
- Lý tưởng: Nam truyền nhấn mạnh quả vị A la hán; Bắc truyền đề cao hạnh Bồ-tát, thành Phật.
- Kinh điển: Nam truyền dùng Tam tạng Pali; Bắc truyền dùng kinh điển Hán tạng, Tạng ngữ, có thêm các kinh Đại thừa (Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bát Nhã…).
Ở Việt Nam
- Có cả Bắc tông, Nam tông và hệ phái Khất sĩ, cùng sinh hoạt trong Giáo hội.
13Nhân sinh quan – Vũ trụ quan Phật giáo
Tham khảo thêm
Nhân sinh quan (cái nhìn về con người)
- Con người là sự hợp thành của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức); không có cái ta cố định, bất biến (vô ngã – anātman).
- Con người chịu sự chi phối của nghiệp, trôi lăn trong luân hồi do vô minh và ái dục; nhưng có khả năng giác ngộ (Phật tánh), tự mình chuyển hóa.
- Cuộc đời có khổ, nhưng khổ có nguyên nhân và có thể chấm dứt (Tứ Diệu Đế).
Vũ trụ quan (cái nhìn về vũ trụ)
- Mọi sự vật do nhân duyên hợp thành (duyên khởi – pratītyasamutpāda), không do một đấng tạo hóa sinh ra.
- Mọi sự vật đều vô thường, luôn biến đổi theo tiến trình thành – trụ – hoại – không.
- Vũ trụ rộng lớn vô cùng, có vô số thế giới.
Liên hệ bài đã học
- Xem lại các bài Ngũ uẩn, Luân hồi, Tứ Diệu Đế (bậc Trung Thiện), Mười hai nhân duyên (bậc Chánh Thiện).
14Các tông phái Phật giáo

I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC TÔNG PHÁI:
Sau khi Phật nhập Niết Bàn một trăm ngày, có 500 vị Thượng Toạ trưởng lão (Sthavias) tổ chức cuộc kết tập lần đầu trong hang Saltapanni rừng nigradha cử Tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Thủ tọa, ngài A Nan trùng tuyên những lời Phật dạy làm thành tạnh kinh, cử Ngài Ưu Ba Li đọc lại các điều răn của Phật để kết tập Luật tạng, tôn giả đại Ca Diếp đứng đầu coi việc giải thích đạo lý trong Kinh, làm thành bộ Luận tạng. Gọi chung là Tam Tạng (Tripitaka).
Một trăm năm sau, trong giáo đoàn có sự tranh luận về cách giữ giới luật và cách hành đạo. Các vị trưởng lão Thượng toạ triệu tập cuộc kết tập lần thứ hai ở thành Xá Vệ, đề cử Thượng Toạ Yaca làm Thủ toạ. Kết quả phái Thượng toạ trưởng lão vẫn giữ phương thức bảo thủ, phái đại chúng giữ phương thức Tiến Thủ. Nhưng cả hai không rời tôn chỉ của Phật.
Vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua Asoka (ADục Vương 227 – 274 trước Tây lịch) triệu tập cuộc kết tập lần thứ ba ở thành Pataliputra.
Vào khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt (thế kỷ I sau Tây Lịch) vua xứ Nhục Chi là Kanisnka, giữ bá quyền vùng Tây Bắc Ấn Độ, rất sùng đạo, triệu tập cuộc kết tập lần thứ tư ở thành Jalandhara, do hai Thượng Toạ Pârcya và Vasumitra làm Thủ toạ, đây là cuộc kết tập lần cuối cùng.
Từ đó trong Phật giáo có hai tông phái lớn là: Tiểu Thừa và Đại Thừa, hai bên tuy phân biệt ra như thế nhưng vẫn theo tôn chỉ của Phật. Đại Thừa thì theo tinh thần Phật dạy mà tiến hóa hợp hợp khế cơ. Tiểu Thừa thì một mực trì thủ lời Phật trong các kinh chứ không thay đổi.
Hiện nay theo các kinh của Hán Tạng thì có 11 tông phái đang hoàng pháp.
II. CÁC TÔNG PHÁI:
* 02 Tông Phái Tiểu Thừa:
1. Câu Xá Tông:
Do ngài Thế Thân Bồ Tát lấy ý nghĩa trong kinh Đại Tỳ Bà Sa (Mahahvibhasacastra) viết thành bộ Câu Xá Luận, được Ngài Trần Châu dịch rồi truyền sang Trung Hoa rất sớm nhung sau đó thất truyền. Đến khi Ngài Huyền Trang sau chuyến Tây du thỉnh kinh mới đem về dịch lại bộ luật này, rồi đệ tử Ngài là Phổ Quang dựa vào mà làm nên “Câu Xá thuật ký” và Ngài Pháp Bảo làm bộ “Câu Xá luận sớ” thì Câu xá mới thành một tông phái là Tông Câu Xá nhưng chỉ thịnh hành đến cuối thế kỷ thứ IX thì suy vong và nhường chỗ cho các tông phái Đại thừa.
Câu Xá Tông chia vạn hữu ra thành Vô Vi Pháp và Hữu Vi Pháp. Vô Vi Pháp chỉ về cảnh giới thường trụ không sinh không diệt, tức là lý thể. Hữu Vi Pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới sinh diệt vô thường.
Căn bản giải thoát dùng Giới, Định, Tuệ để hiểu rõ lý nhân quả của Tứ Diệu Đế. Dùng tam học ấy mà đi tới giải thoát tức là vào Niết bàn.
2. Thành Thực Tông:
Tông này đồng thời với Câu Xá Tông, do ngài Ha Lê Bạt Ma (Harivarma) y vào ý nghĩa Bộ Thành Thật Luận mà lập ra vào khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt.
Thành Thực Tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế giới môn và đệ nhất nghĩa môn.
Tông này chủ trương “Nhân không và Pháp không”. Người và Pháp cả hai đều không. Thi hành Diệt đế, chân lý thứ 3 trong Tứ Diệu đế cũng đủ an lạc, giải thoát lục đạo.
* 02 TôngPhái vừa Tiểu Thừa vừa Đại thừa:
1. Luật tông:
Tông này lấy giới luật làm căn bản. Đến đời Đường, Ngài Trí Thủ luận sư chú giải những bộ luật (Thập tụng luật, Tứ phần luật, Ngũ phần luật, Tăng kỷ luật) và đệ tử của Ngài, Đạo Tuyên luận sư nhận thấy có 68 bộ Luật tứ phần hợp với căn cơ của người Trung Hoa nên đã căn cứ vào bộ luật nầy mà lập “Luật tông”.
Luật tông chủ trương lấy tu rồi sẽ hiểu, hãy giữ giới cho nghiêm tịnh thì tâm sẽ định tĩnh thanh tịnh và trí tuệ sẽ phát sinh, chân tâm sẽ hiển bày, Phật tánh sẽ hiển lộ.
2. Thiền Tông:
Tông nầy nguyên thuỷ thuộc về Không Bộ bên Tiểu Thừa. Thiền Tông không bàn luận về vũ trụ, căn bản là ngộ đạo mà thôi (giải thoát), là một tông phái lấy tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.
Thiền Tông chủ trương “bất lập văn tự”, chỉ cốt “tâm truyền tâm”, thực tướng của vũ trụ thuộc về trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất cả sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thực tướng được. Phi tọa thiền và trực giác thì không sao biết được thực tướng.
* Sáu Tông Đại Thừa:
1. Pháp Tướng tông:
Tông này lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc, tại Ấn độ do Ngài Thế Thân phát triển và tại Trung Hoa do Ngài Huyền Trang truyền bá sau chuyến Tây du thỉnh kinh trở về.
Chủ trương vạn Pháp đều do thức biến ra. (Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức) Thức có 8: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức. Trong 8 thức thì A Lại Gia Thức là căn bản, vì chứa hết thảy Chủng Tử để sinh khởi nhất thiết chư Pháp.
2. Tam Luận Tông:
Tông này lấy Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận của Ngài Long Thọ Bồ Tát và Bách Luận của Ngài Đề Bà làm căn bản, chủ trương là phá chấp nêu bày chánh lý với phương pháp tu hành là phá sự chấp trước của ngọai đạo để chứng ngộ chân lý bằng cách quán pháp “Bát bất trung đạo”.
Về phương diện đạo lý, Tam Luận tông giống như cửa ải muốn tiến bước trên con đường giải thoát phải buông bỏ “Chấp trước”, nếu không muốn bị phát hiện món hàng quốc cấm đó khi qua ải.
3. Thiên Thai Tông (Pháp hoa tông)
Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do ngài Huệ Văn Thiền Sư đời Trần và đời Tuỳ (vào khoảng thế kỷ thứ 6) theo ý nghĩa bộ Trí Độ Luận tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa luận và lấy Pháp Hoa Kinh làm gốc, nên còn gọi là Pháp Hoa Tông.
Thiên Thai chủ trương thuyết “Chư Pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ Tát, Phật sinh tử hay Niết Bàn cũng ở nơi tâm ấy. Khi đã thấu suốt chân lý là chân lý là giải thoát lý chấp trước. Cuối cùng phải triệt ngộ thật tướng của vũ trụ. Do vô vi, do niệm đạt tới sự hoạt động của đại ngã, đại vi.
4. Hoa Nghiêm Tông (hay Hiền Thủ tông):
Tông này cũng phát khởi ở Trung Hoa căn cứ ở Hoa Nghiêm Kinh do Đỗ Thuận và Trí Nghiêm Hoà Thượng ở đời Tuỳ và Đường lập ra, người có công kế thừa và xiển dương là là Ngài Pháp tạng còn gọi là Hiền Thủ.
Tông này theo chủ trương “Pháp giới duyên khởi” Vạn hữu có tam đối lục tướng là do thập huyền môn, thập huyền diệu, lý duyên khởi và lục tướng viên dung mà phát sinh lý “Sự sự vô ngại”. Đây là cái đặc sắc của giáo lý Hoa Nghiêm Tông.
Theo Tông này thì phân biệt chân vọng dứt trừ điên đảo. Để tâm thanh tịnh cùng thực tại Nhất Như là giải thoát.
5. Mật tông (hay Chân Ngôn Tông):
Tông này căn cứ ở Đại Nhật Kinh, lấy bí mật Chân Ngôn làm Tông chỉ, nên cũng gọi là Mật Tông.
Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cương Tát Đỏa, Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không đem qua trung Hoa vào khoảng đời Đường. Chân Ngôn Tông chủ trương thuyết Lục đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức. Cho lục đại là thực của vũ trụ.
Sự giải thoát của Tông nầy là do tự thân thành Phật, cho nên bỏ hết chấp trước mà theo cái hoạt động của Đại ngã với phương thức Tam mật (Thân, Khẩu, Ý).
6. Tịnh Độ Tông:
Tông nầy lấy việc quy y tịnh độ làm mục đích, chuyên trì tụng các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà. Tịnh Độ Tông phát khởi từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong kinh điển ghi các vị Bồ Tát Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân khuyên mọi người nên tu Tịnh Độ. Tịnh Độ Tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật, vì ở thế gian phiền não nên cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương. Vì tự lực khó đạt nên càu tha lực Đức Phật A Di Đà.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
15Ý nghĩa pháp khí trong đạo Phật

Văn:
Chuông, Báo chúng, Khánh, Linh, Trống, Mõ, Bảng, Tích trượng, Bình bát… Mỗi vật có một ý nghĩa riêng, cũng như có một âm thanh riêng. Vì thế khi sử dụng, cần bảo trì một cách cẩn trọng.
1. CHUÔNG
a. Xuất xứ:
Trong kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: “Mỗi khi tiếng chuông chùa ngân lên, mọi hình phạt trong chốn ác đạo đều tạm thời dừng nghỉ. Muôn loài chúng sinh đang chịu cực hình cũng được tạm thời an vui”.
Trong Cảm Thông truyện có chép: “Ngày xưa, khi Đức Phật Câu Lưu Tôn ở tại viện Tu Đa La xứ Càng Trúc có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường đánh vào lúc mặt trời vừa mọc. Tiếng chuông ngân lên, liền trong ánh mặt trời có các vị Phật hoá hiện ra diễn nói mười hai bộ kinh, làm cho người nghe chứng được chánh quả không kể xiết”.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo La Hầu La đánh chuông để diễn giảng giáo lý Viên thường cho A Nan và đại chúng nghe.
Như vậy, Chuông đã có từ thời quá khứ các đức Phật còn tại tiền.
Trong bộ Bách Trượng Thanh Quy (trang 68, quyển 87) có chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng Đế đời nhà Đường nghe lời sàm tâu của nịnh thần Tống Tề Khúc giết lầm tôi trung là Hoà Châu, nên khi lâm chung bị đọa vào địa ngục, bị gông cùm kềm kẹp, khảo tra đánh đập rất khổ sở. May nhờ hồn người Bao Tự lạc đến, vua than thở nhờ hồn người Bao Tự đúc chuông cúng dường, làm việc phước thiện. Khi trở lại dương thế, người Bao Tự y lời nhắn gởi tâu lên Hậu chúa, Hậu Chúa thân hành đến chùa Thanh Lượng phát nguyện đúc một quả chuông, lập đàn cầu siêu bạt độ và cúng dường chuông, hồi hướng công đức cho vua Cao Hoàng”.
b. Ý nghĩa và cách sử dung:
Trong các chùa, Phật Học viện thường dùng 3 loại chuộng:
* Đại Hồng Chung (Chuông): Là loại chuông lớn, cũng thường gọi là chuông u Minh; thường đánh vào đầu hôm, cuối đêm tối và khuya, có ý nhắc nhỡ mọi người tinh tấn tu hành để mau ra khỏi luân hồi. Chuông thường đánh 108 tiếng, tiêu biểu tiêu trừ 108 phiền não của chúng sanh. Vì vậy, trong bài kệ chuông có câu: “Mỗi khi nghe tiếng chuông, lòng phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, tâm giác ngộ sanh …”
* Gia Trì Chuông: Là loại chuông thường dùng trong các khóa lễ, đánh như chấm câu trong bài Kinh, Sám hay báo hiệu khi bắt đầu hoặc chấm dứt buổi lễ, đồng thời cũng để điều hoà buổi lễ nhịp nhàng, trang nghiêm, hướng hành giả vào chỗ chí tâm thành kính.
* Báo Chúng Chuông: Là loại chuông báo tin cho chúng Tăng nhóm họp, thọ trai, chuẩn bị khóa lễ, khai chung … trong các tự viện.
2. TRỐNG
a. Xuất xứ:
Kinh Kim Quang Minh chép: “Một hôm Ngài Tin Tướng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống lớn bằng vàng chiếu hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang hiện vô số Phật ngồi trên tòa Lưu Ly, dưới những gốc cây báu, thuyết pháp cho vô số vị đệ tử ngồi quanh chăm chú lắng nghe. Rồi một vị giáo sĩ Bà La Môn cầm dùi đánh mạnh vào trống vàng. Tiếng trống rền vang nghe như lời sám hối. Lúc tỉnh mộng, Ngài đem giấc mộng trình lên Đức Thế Tôn”.
Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy A Nan: “Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, và tiếng chuông mỗi khi họp Đại chứng trong Tinh xá Kỳ Đà nầy”.
Như vậy, trống cũng đã có từ thời Phật còn tại thế.
b. Ý nghĩa và cách sử dung:
Trống có hai loại:
* Đai cổ (trống lớn): được đánh lên vào các lúc:
- Trước khi đánh chuông u Minh, vào đầu hôm và cuối đêm (chuyển trống) mang ý nghĩa, vì tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp, chúng sanh khi được nghe tiếng trống chánh pháp thì nghiệp chướng tiêu trừ, thoát ly luân hồi sinh tử.
- Khỉ thăng tòa thuyết pháp, đánh ba hồi trống lớn (trống phổ cáo) để triệu tập Thánh chúng.
- Khi cử hành các lễ lớn như: Thỉnh Tam bảo, khai kinh, cúng ngọ … thì đánh chuông trống Bát Nhã.
KỆ TRỐNG BÁT NHÃ
Bát nhã hội (3 lần) x xx
Thỉnh Phật thượng đường xx xx (1 lần)
Đại chúng đồng văn xx xx
Bát nhã âm x xx
Phổ nguyện pháp giới xx xx
Đẳng hữu tình x xx
Nhập bát nhã x xx
Ba la mật môn xx xx
xx xx
* Tiểu cổ (trống nhỏ): dùng đánh trong lúc tụng Kinh, bài Sám và các trai đàn lớn, nên còn gọi là trống Kinh.
3. MÕ
a. Xuất xứ:
Trong sách sắc Tu Thanh Quy Pháp khí có ghi lời tuyên truyền: Loài cá luôn luôn thức không ngủ, rất tỉnh táo và linh hoạt bất cứ lúc nào. Vậy chạm mõ theo hình cá với ý nghĩa đánh thức mọi sự mê muội.
Sách Chính Môn đời Đường chép: có một cư sĩ hỏi một trưởng lão ở Thiên Trúc “Sao các Tăng xá đều có treo mõ?” Sư đáp: “Tiếng mõ cảnh tỉnh chúng Tăng.
Hình con cá, là loài ngủ không nhắm mắt, luôn cảnh tỉnh. Ý muốn người tu hành ít ngủ, cảnh tỉnh tu hành, sau được đạo quả
b. Ý nghĩa và cách sử dung:
Mõ có hai loại:
* Loại hình bầu dục có chạm hình đầu con cá dùng để đánh khi tụng niệm
* Loại mõ chạm hình con cá nằm dài, hình điểu treo ở nhà trù, để báo tin giờ thọ trai.
Người đánh mõ gọi là Duyệt chúng (làm đẹp lòng chúng). Trong khi tụng niệm, cố đánh mõ đều đặn, nhịp nhàng mới hướng người tụng nhất tâm thành kính, làm buổi lễ trang nghiêm. Duyệt chúng phải ăn nhịp với Duy Na (người đánh chuông).
4. BẢNG – KHÁNH
a. Xuất xứ:
Theo sách Tượng Khí Tiêu có chép: Hình Bảng giống như đám mây chế bằng đồng hoặc sắt, nên gọi là Vân bảng. Ngài Tục Thư Hoà thượng thì dạy: Vua Thái Tổ cho rằng tiếng trống làng làm giật mình người ngu nên vua cho thiết Khánh Vân Bảng. Bảng có thể chế bằng đá cẩm thạch. Trong luật còn gọi là Kiền Chùy (Vân Kiền Chùy thinh, tức đương chỉnh y phục).
b. Ý nghĩa và cách sử dung:
Bảng – Khánh dùng để báo tin giờ tu học, chấp tác, thiền tọa, tụng kinh, thọ trai, trong các Tòng lâm, Tu viện, Phật Học viện …
5. BÌNH BÁT
a. Xuất xứ:
Trong kinh Phật Bản Hạnh có chép: Sau khi Phật thành đạo có hai thương gia tên là Đề Lê Phú Bà (Tripussa) và Bạc Lê Ca (Bhallika) cúng dường. Trời Tứ Thiên Vương vội xuất hiện dâng bình bát để Phật nhận đồ tín cúng.
b. Ý nghĩa và cách sử dụng:
Bình bát tiếng Phạn là Baydaka, Tàu dịch là ứng Lượng Khí, là đồ dùng đựng thức ăn vừa đủ cho một người dùng. Bát chỉ được làm bằng đá, sành sứ, không dùng các kim khí quý. Bằng gỗ là bát của Bà La Môn.
Ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy, chư Tăng thường đi khất thực, trì bình nên luôn luôn dùng bát. Chư Tăng Bắc Tông thì dùng bình bát trong ba tháng hạ để thọ trai (lúc Qua đường).
6. TÍCH TRƯỢNG
a. Xuất xứ:
Trong kinh Tích trượng có chép, Phật dạy: Nầy các tỳ kheo, các Thầy nên thọ trì Tích trượng, vì đó là món pháp khí mà ba đời các Đức Như Lai đều có thọ trì.
b. Ý nghĩa và cách sử dụng:
Kinh Tích trượng có đoạn, Ngài Ca Diếp bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tích trượng?
Tích trượng gồm có các nghĩa sau: Khinh – Minh – Tĩnh – Sơ, tức là nhờ có chiếc gậy đức hạnh nầy mà: Phiền não được khinh bạt ra khỏi ba cõi của sinh tử; Trí tuệ được minh mẫn (Minh); Tỉnh ngộ được Khổ Không Vô thường (Tĩnh); Sơ là không còn say đắm ngũ dục.
Tích trượng là chữ Tàu, dịch từ tiếng Phạn Nghiệt Đa La, tức là chiếc gậy của tỳ kheo đi đường, cũng có nghĩa là Trí Tượng, Đức Tượng.
Tích trượng to vừa tầm tay người cầm, cao không quá đầu. Trên đầu Tích trượng có bốn vòng (Tứ đế) và mười hai khoen nhỏ (12 nhân duyên) bằng đổng do Đức Thích Ca chế tác. Có loại Tích trượng do Đức cổ Phật Ca Diếp truyền thừa thì trên đầu có hai vòng Chơn và Tục đế cộng với sáu khoen (6 pháp lục độ).
Tư:
Trong đạo Phật, Pháp khí là phương tiện để thúc liễm thân tâm, để điều chúng tạo sự nhịp nhàng khi tụng niệm đông người và cũng là phương tiện đưa chúng sanh đến giải thoát.
l. Người Phật tử là người quyết dứt bỏ nẽo sanh tử, phiền não, phải vâng lời Phật dạy.
2. Học và hiểu sâu sắc ỷ nghĩa các pháp khí, pháp cụ để giới thiệu và trình bày cho bất cứ ai khi đến chùa, tháp, tham quan tìm hiểu những nét đặc thù của Phật giáo.
Tu:
1. Ngồi dậy khi nghe tiếng chuông, tiếng trống, giữ thân tâm thanh tịnh, dõi theo âm thanh, quán tưởng về những nẽo bất thiện đang khổ não, được pháp âm soi thâu mà được an tịnh.
2. Không sử dụng phi thời các pháp khí, phải bảo vệ cẩn trọng vì đây là Pháp Phương tiện độ đời.
3. Em tập cách đánh chuông U Minh, kệ văn, danh hiệu, hạnh nguyện của các vị Bồ tát Thánh chúng.
4. Em tập đánh mõ, chuông, trống Bát Nhã.
5. Em bảo vệ Pháp khí như hộ trì Già Lam, bảo tồn Đạo pháp.
Câu hỏi:
- Hãy kể các loại Pháp khí, Pháp cụ trong chùa?
- Hãy phân biệt Đại hồng chung và chuông gia trì?
- Trống lớn (đại cổ) được đánh lên vào lúc nào?
- Hãy nêu lên xuất xứ của cái Mõ?
- Em phải sử dụng Pháp khí trong chùa như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
16Khái lược lịch sử Phật giáo từ thời du nhập đến Trịnh – Nguyễn
Khái lược lịch sử Phật giáo Việt Nam thời du nhập
Đai cương:
Lịch sử Phật giáo Việt Nam không những chỉ cống hiến sự lợi ích về tìm hiểu lịch sử Phật giáo đơn thuần mà cồn nối lên tình cảm tôn giáo của dân tộc nữa.
Việc tìm hiểu Phật giáo Việt Nam thời du nhập thì có nhiều tài liệu sai khác về thời gian, địa điểm khai phá và nhân vật lịch sử.
Có 3 thuyết bàn về niên đại du nhập:
* Phật giáo được truyền trực tiếp vào Việt Nam trước Trung Hoa (Cổ Châu Pháp Vân, Phật bản hành ngũ lục).
* Phật giáo được truyền vào Việt Nam đồng một lúc với việc truyền vào Trung Hoa (Nam Phong tạp chí 1928).
* Phật giáo được truyền vào Việt Nam theo ngã Trung Hoa (Thuyết Chavannes).
Phật giáo du nhập vào việt nam:
1. Con đường du nhập:
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam bằng con đường trực tiếp từ Ấn Độ, do các thương nhân Ân đem vào, trước khi truyền vào Trung Hoa, nhưng vào thời gian nào thì chưa được xác định và tín ngưỡng Ấn Độ đã Việt hóa trước Công nguyên rất nhiều. Tuy nhiên nếu dựa vào các nhân chứng lịch sử thì Phật giáo được truyền vào Việt Nam cuối đời Linh Đế (Trung Hoa 168 – 189) do Ma Ha Kỳ Vực và Khâu Đà La trực tiếp đem vào Việt Nam (PGVN.TVG.Trg 59).
2. Nhân vật lịch sử:
a. MA HA KỲ VƯC: (hay còn gọi là Ma Ha Kỳ Thành Marajivaka – hay Jivaka).
Nguyên quán Tây Trúc vân du khắp nơi, không trụ bất cứ chỗ nào, có các hành động mà các đệ tử không thể nào biết được. Vào Việt Nam năm 189 sau công nguyên. Ngài đi từ Ân Độ đến Phù Nam, rồi đi dọc bờ biển đến Giao Châu (Việt Nam). Sau chống tích trượng qua Trung Hoa.
Phép lạ: Một lần đến bến sông Tương Dương, Ngài muốn đi đò qua sông, nhưng người lái đó thấy Ngài quần áo rách tả tơi, khinh bỉ không cho Ngài xuống thuyền. Nhưng thật kỳ lạ Ngài lại quá sông trước con thuyền. Đến khỏang năm 306 Ngài về lại Ấn Độ.
b. KHÂU ĐÀ LA:
Ngài người Ấn Độ vân du hoằng hóa vào Việt Nam khỏang năm 189 sau công nguyên. Ngài cùng với cư sĩ Tu Định (Man Tu Định) người Cao Miên ở tại làng Cổ Châu lập chùa Dâu tu tập (Huyện Siêu Loại, Phủ Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh). Ngài Khâu Đà La còn có tên là Cà La Chà Lê. (Kà Ka Cà Rya hay Hắc Sư). Khâu Đà La tu Mật tông.
Một hôm Ngài tụng một bài kệ rồi biến mất, người ta nghe tiếng nói của Ngài vang trên đỉnh núi phía Tây, rồi tìm kiếm Ngài nhưng vô hiệu, nên không rõ rồi Ngài ra sao.
c. KHƯƠNG TĂNG HỘI:
Theo Lương Cao Tăng truyện do Huệ Hạo soạn 519, Ngài dòng dõi người Khang Cư (Sogdian) thuộc giống người Transoxiane lập cư tại Thiên Trúc. Nhưng Khương Tăng Hội theo cha vào Việt Nam từ lúc còn rất nhỏ (khỏang 189) Ngài xuất gia lúc 10 hay 13 tuổi. Ngài là một người trác tuyệt có biệt tài học thức và rộng lượng, thấu suốt tam tạng kinh điển.
d. CHI CƯƠNG LƯƠNG: (Kàlaruci) tên ngài có nhiều nghi vân:
- Cương Lương Tiếp (Kiang – Leang – Isie).
- Cương Lương Lâu (Kiang – Leang – Loa).
- Chi Cương Lương (Kiang – Leang – Leon Lehe Kàlaruci) nghĩa là Chân Hỷ.
Kàla nghĩa là đen, Ruci nghĩa là vui vẽ như vậy không thể dịch Kala là Chân được. Phạn văn KaLiana có nghĩa là tốt hay đẹp. Vậy Chi Cương Lương phải là Kalianaruci mới đúng.
Ngài người xứ Lục Chi, vào Việt Nam năm 255 ở lại giảng đạo khoảng 10 năm, đến năm 266 qua Quảng Châu và dịch kinh Thập Nhị Du kinh.
e. MÂU BẮC: tức là Mâu Tử.
Ngài sinh ở Thương Ngô (nay là Ngô Châu) bên cạnh sông Tây Giang. Khoảng năm 165 hay 170 Ngài đến Việt Nam cùng với Mâu Thân trước năm 189 sau trở về Thương Ngô, lúc 25 tuổi và lập gia đình ở đây khoảng năm 194 đến 195 Mâu Tử theo Phật giáo và nhiều người Trung Hoa ở Việt Nam bấy giờ cũng theo đạo Phật giống Ngài.
3. Những nhà sư du hành:
a. Đoàn thứ nhất: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ tư gồm Pháp Sư Minh Viễn, Thiền sư Huệ Mạng, Thiền sư Vô Hành (Bát Nhã Đề Bà).
b. Đoàn thứ hai: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ V đến thứ VII gồm: Thiền sư Đàm Nhuận, luật sư Trí Hoằng, Tăng Cà Bát Ma.
c. Đoàn thứ ba: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ VIII đến thứ X gồm: Sư Vận Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Pháp sư Khương Xuy, Pháp sư Huệ Diện, Pháp sư Trí Thành, Thiền sư Đại Thành Đăng.
Kết luân:
Thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy ở Việt Nam có vị trí thuận lợi, nơi giao tiếp giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.
Mặc dù Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ân Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khởi, xuyên qua các dữ kiện lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa. Do đó người Việt Nam thời bấy giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận chuyển tư tưởng nói trên.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Khái lược Phật giáo Việt Nam thời đại : Đinh – Lê – Lý – Trần

I. KHÁI LƯỢC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ DÂN TỘC:
Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn độc lập của dân tộc Việt Nam,kéo dài 431 năm, từ năm Đinh Tiên Hòang xưng đế đến năm Trần Thuận Tông nhường ngôi cho Trần Thiếu Đế(Thái Tử An) rồi bị Quý Ly cướp ngôi,(1400) chia ra như sau:
- Nhà Đinh từ 968 đến 980 cai trị 12 năm.
- Nhà Lê từ 980 đến 1009 cai trị 29 năm.
- Nhà Lý từ 1010 đến 1225 cai trị 215 năm.
- Nhà Trần từ 1225 đến 1400 cai trị 175 năm.
II. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO:
Trong bốn triều đại đó, Phật giáo gắn liền với lịch sử dân tộc, do các vị cao Tăng tài đức đương thời luôn luôn tham gia quốc chánh.
Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn thăng hoa của lịch sử Phật giáo. Hệ tư tưởng Phật giáo, nhân tài theo Đạo Phật, đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc, có nhiều giai đọan quyết định cả vận mạng dân tộc lúc bấy giờ.
(Tham khảo tập sử liệu “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới triều đại nhà Hậu Lê (Lê Lợi) ta thấy rất rõ nét những sự việc của Phật Giáo xen lẫn với các sự việc của đất nước. Điều đó nói lên hệ tư tưởng Phật Giáo chỉ đạo cho đời sống của dân tộc trong giai đoạn này. Đó là đem Đạo, giáo hóa đời và ngược lại đem đời nhập hóa vào Đạo).
Trong phần này chia làm 4 giai đoạn phù hợp với 4 triều đại lịch sử dân tộc cho dễ hiểu.
1. Phật giáo thời đại nhà Đinh:
Trong triều đại nhà Đinh Phật Giáo được quan tâm là do sức đóng góp của các danh Tăng. Vua Đinh định phẩm trật cho hàng Tăng Sĩ, đó cũng là thời kỳ đầu tiên hàng giáo phẩm Phật Giáo Việt Nam có danh vị: vào năm Tân Mùi (971) vua Đinh Tiên Hoàng chế định chức sắc hàng quan lại triều dình, kể cả hàng Tăng sĩ lỗi lạc của Phật giáo, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Pháp Sư Trương Ma Ni làm Tăng Lục, giới văn nhân trong nước hầu hết ở trong hàng Tăng Sĩ.
2. Phật giáo triều đại nhà Lê:
Vua Lê Đại Hành lên ngôi, cho dù việc chính trị trong nước có thay đổi, nhưng Phật Giáo cứ phát triển mạnh hơn. Vua Đại Hành tiếp tục phong Ngài Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, và bất cứ việc gì trong nước Vua đều hỏi ý kiến Tăng Thống.
Năm 963 Vua Đại Hành sai sứ đi thông hiếu với nhà Tống, đã thỉnh 2 bộ kinh về truyền bá trong nước, đó là Cửu Kinh và Đại Tạng Kinh.
Trong giai đoạn này, Tăng Sĩ Phật Giáo còn một vị nổi danh nữa là Pháp Sư Đỗ Thuận. Pháp sư được làm sứ giả đón tiếp sứ thần nước ngoài (Chuyện Lý Giác) và hổ trợ cho Vua Lê Đại Hành trong việc “vận trù định sách” với trách nhiệm chính trong vai trò đối ngoại của triều đình.
3. Phật Giáo triều đại nhà Lý:
Vua Lý Thái Tổ là con nuôi Sư Lý Khánh Văn, là học trò Sư Vạn Hạnh, do đó bản thân nhà vua là một Phật tử thuần thành. Người xây dựng triều Lý đã đem học thuật và tư tưởng Phật Giáo vận dụng vào việc cai trị đất nước, vì vậy Phật Giáo vào thời nầy trở thành Quốc giáo.
Vua Lý Thái Tổ đặt nền móng phát triển đạo Phật, xây chùa tạc tượng, đúc chuông, truyền bá chánh pháp cho con cháu đời đời noi theo.
Suốt 215 năm Lý trị vì đất nước, Phật Giáo cũng sản sinh nhiều Tăng tài nổi danh nhờ các cống hiến to lớn như của các nhà sư như: Thiền Sư Vạn Hạnh, Thoại Linh, Viên Chiếu… Các dòng Thiền được hình thành và phát triển như: Dòng Thiền thứ nhất của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (560). Dòng Thiền thứ hai của Ngài Vô Ngôn Thông (820), phái Thảo Đường (1060)…
Năm 1224, vua Lý Huệ Tôn xuất gia ở chùa Chân Giáo lấy hiệu là Huệ Quang Đại sư.
Suốt triều Đại nhà Lý hơn 2 thế kỷ, Phật giáo hòa nhập trọn vẹn trong đời sống của toàn dân.
4. Phật giáo triều đại nhà Trần:
Đó là thời kỳ vẻ vang và phát triển rất mạnh. Đâu cũng có chùa, có Phật để tín đồ chiêm bái. Tăng đoàn mạnh đến nỗi triều đình phải tổ chức các khoa thi để loại bớt. Phật Giáo chấn hưng khoảng 100 năm đầu, rồi dừng lại, bởi sự phát triển quá đà nên mê tín dị đoan và thoái bộ.
Trong thời đại này, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được xiển dương. Vua Trần Thái Tôn đã mở đầu bằng “Thiền môn chỉ mãn” và “Khóa Hư” để rồi vua Trần Nhân Tông xuất gia khai sáng phái Trúc Lâm. Phật Giáo đời Trần sản sinh nhiều danh Tăng và cư sĩ tên tuổi như: Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tảng), Pháp Loa, Huyền Quang..
Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được xưng tụng là Trúc Lâm Tam Tổ.
III. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐƯƠNG THỜI:
1. Tư tưởng dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi:
Qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần, dòng Thiền thứ nhất Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển. Hệ tư tưởng chính của phái nầy là:
a. Bản chất của Giác Ngộ là Bồ Đề, Kinh căn bản của Thiền Tông đương thời:
- Quán nội giới của thân là không.
- Quán ngoại giới của thân là không.
- Không bị chấp trước vào Nhất Thiết Trí.
- Không chấp trước vào phương tiện tu hành.
- Không bị chấp trước vào các địa vị tu chứng của các vị Hiền Thánh.
- Không chấp trước vào sự thanh tịnh đạt được do hành đạo lâu ngày.
- An trú Bát Nhã Ba La Mật.
- Không bị chấp trước vào công việc giảng luận giáo hóa.
- Quán các chúng sanh phát khởi Từ bi và lòng lân mẫn.
b. Tư tưởng Phật giáo:
Qua Kinh Tổng Trì, Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một trong những Thiền sư lừng danh từ Tâm An sớm nhất trong lịch sử thiền. Kinh mật giáo “Đại Phật” nói: Đối với mọi lời giáo huấn của Phật, không gì là không nắm được tinh yếu, nếu có thể giữ gìn được tâm ấn ấy để mở rộng tất cả pháp môn, đó gọi là người thông đạt được cả Tam Thừa. Tâm ấn ở đây là tinh yếu mật ý của Mật tông.
Theo mật giáo, trong vũ trụ có làng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên, thì có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi phải tuần tự từng bước. Sự giác ngộ có thể thành đạt ngay giờ phút hiện tại. Sử dụng các thế lực thần linh, sử dụng thần chú ấn quyết các hình ảnh Mandàla có thể hỗ trợ đắc lực cho sự thiền quán hành đạo.
Chính vì khuynh hướng nầy của Mật Giáo mà Phật Giáo đã bao trùm tín ngưỡng dân gian Việt Nam đương thời.
2. Tư tưởng dòng Thiền Vô Ngôn Thông:
Kéo dài ba triều đại Đinh, Lê, Lý, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa, được thấy trong lối trình bày lịch sử Thiền, trong các tổ chức tu viện, trong việc sử dụng thoại đầu.
Các Thiền sư trong Thiền phái này thay gì tu tập theo kinh Bát Nhã, họ đã thu nạp rất nhiều kinh điển khác như: Viên Giác, Pháp Hoa…… Các Thiền sư chủ trương đốn ngộ và vô đắc. Ảnh hưởng của Mật Giáo còn thấy trong hệ tư tưởng của dòng Thiền nầy.
3. Tư tưởng Thiền phái Thảo Đường:
Thiền sư Thảo Đường là đệ tử đắc pháp của Thiền sư Tuyết Đậu thuộc thiền phái Vân Môn, do đó tư tưởng của Thảo Đường được xuất xứ từ Vân Môn, mà tác phẩm trọng yếu là tập “Bích Nham” và “Tuyết Đậu Ngữ Lục”. Chủ trương của Thảo Đường là Thiền học trí thức và thi ca, không chú trọng về tà thuật huyền bí.
4. Tư tưởng phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử:
Thiền phái Trúc Lâm bao gồm hệ tư tưởng của ba thiền phái có trước, phát triển rất mạnh tư tưởng được lược sau:
Sự quan trọng của tâm học, chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên nền tảng học vững chắc mới thàng tựu được. Tâm học gồm như: Tâm lý học tức là Duy Thức học. “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức tiếp xúc nhau sự gì xảy ra? Khi ấy cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có một chủ thể thường tại để mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt, còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ có sinh diệt”
Như vậy là đừng tìm quả vị giác ngộ như một đối tượng của nhận thức: Quả vị giác ngộ phải được thực hiện ngay trong tự thể của tâm. Mọi tìm cầu bên ngoài đều vô hiệu.
IV. KẾT LUẬN:
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam thông qua bốn triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đã ăn sâu vào cội rễ dân tộc, xuyên qua các ảnh hưởng của Phật Giáo đối với tất cả các vấn đề của dân tộc như:
- Tạo vị trí vững chắc trong lòng dân tộc
- Chi phối chính trị xuyên suốt 4 triệu đại.
- Ảnh hưởng sâu rộng trong văn minh và văn hóa dân tộc.
- Chi phối kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật.
- Phát triển Tăng đoàn vững mạnh, hệ thống tu viện thanh tịnh.
- Dịch thuật, biên soạn rất nhiều kinh sách Phật Giáo.
- Về tư tưởng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa.
- Phát triển Tịnh Độ Tông.
- Chịu ảnh hưởng của Mật Giáo, thoái hoá dẫn đến mê tín dị đoan.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời đại Lê – Nguyễn

I. ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRIỀU LÊ – NGUYỄN:
Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn nầy có thể chia làm 3 giai đọan:
1. Giai đoạn nhà Lê trị vì từ 1427 – 1527:
Giai đoạn nầy kéo dài 99 năm qua 10 đời từ Triều đại vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đến vua Lê Chiếu Thống.
2. Giai đoạn Nam Bắc phân tranh từ 1528 -1802 (hoặc thời kỳ Vua Lê và chúa Trịnh phía Bắc – Chúa Nguyễn Hoàng ở phương Nam):
Giai đọan này kéo dài 274 năm được chia ra như sau:
* Từ 1528 – 1533: Khởi đầu Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, họ Trịnh giúp vua Lê Trung Hưng rồi lấn quyền vua Lê về chính trị.
* Từ 1533 – 1788: Nguyễn Hoàng ly khai họ Trịnh vào Nam tạo thế phân tranh kéo dài 255 năm.
* Từ 1788 – 1802: Nhà Nguyễn Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo dài 14 năm sau cái chết của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
3. Giai đoạn nhà Nguyễn Gia Long (1802-1945):
Kể từ khi đánh thắng nhà Tây Sơn, vua Gia long thành lập triều đại kéo dài 143 năm và chấm dứt vào thời kỳ vua Bảo Đại.
II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU LÊ – NGUYỄN
Dựa vào lịch sử nước nhà ta cũng chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra làm 3 giai đoạn:
1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê:
Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần. Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15). Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách đồng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt.
Mười ba năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê. Thế nhưng triều đại Hậu Lê là triều đại độc lập chính trị đầu tiên của Việt Nam đã bỏ rơi nền văn hóa dân tộc độc lập, đã bỏ rơi truyền thống dung hợp, khai phóng nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh và phú cường để chạy theo một cách chính thức và toàn diện nền văn hóa ngoại lai đã từng được quân xâm lăng Trung hoa đô hộ áp đặt nhưng không thành công. Mặc dầu năm 1424 vua Lê Thái Tổ có mở kỳ thi khảo hạch tăng đạo, người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành, ai hỏng thì phải hoàn tục (quả thật là một lối xét định kiến thức và đạo đức của tu sĩ Phật giáo một cách từ chương như là một biện pháp nhằm đàn áp và tiêu diệt Phật giáo một cách quy mô và toàn diện hơn). Ngoài ra có những lúc triều đình cũng tổ chức những buổi rước Phật (năm 1934), xuống chiếu ra lệnh cho bá quan văn võ ăn chay (1448, 1449) để đến chùa cầu mưa, nhưng những hình thức đó chẳng qua được xem như là một thứ đạo phù thủy dùng để cúng tế cầu đảo. Một tinh thần văn hóa ngoại lai mang đậm bản chất độc tài, độc tôn, độc đoán, hẹp hòi cố chấp và bảo thủ đã thể hiện rõ nét trên con người của vua Lê Thái Tổ khi sai bắt giết hai đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn (khiến Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử) và Phạm văn Xảo, rồi sau đó cùng một số nho thần ích kỷ với bản chất nô lệ từ tâm hồn đến tư tưởng đã vu hãm vô cùng hèn mạt để giết Nguyễn Trãi và giết sạch 3 họ nhà ông. Quả thật một chế độ khắc nghiệt và tàn bạo thể hiện đúng bản chất độc tài chuyên chế của Tống Nho phi nhân, nô lệ văn hóa ngoại lai, khác với truyền thống của dân tộc Đại Việt đã từng tha chết cho tên giặc cướp Nùng Trí Cao và vua Chiêm Thành Chế Củ đời vua Lý Thái Tông, rồi đời vua Trần Thánh Tông cũng đã từng tha chết khoan dung cho cả quan quân công tác với quân Mông Cổ, kể cả đoàn quân bại trận trong 2 thời kỳ chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288.
2. Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh:
a. Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài):
Sau thời gian bị suy thoái dưới thời Hậu Lê và nhà Mạc, đến thời chúa Trịnh Phật giáo bắt đầu phục hưng. Từ năm 1533 Phật giáo hồi sinh bởi công lao của các Thiền sư:
+ Thiền phái Tào Động: Vào khoảng 1575 – 1599 thiền sư Thủy Nguyệt, người Thanh Triều, Thái Bình là đời 36 phái Tào Động tại Trung Hoa và là Sơ tổ phái Tào Động Việt Nam ở đàng Ngoài.
+ Thiền sư Chuyết Chuyết tên là Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 tại quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa. Từ Trung Hoa vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 vào năm 43 tuổi, Ngài mất Rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi. Sau khi tịch được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Ngài thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương (người Đại Việt).
+ Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết. Thiền sư là viện chủ chùa Phật Tích (năm 1643), đến năm 1644 khi sư phụ mất ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Thiền sư thị tịch vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Trước khi tịch Ngài có để lại một bài kệ được dùng để đặt pháp danh cho các thế hệ kế thừa của Thiền phái Lâm Tế ở đàng ngoài.
+ Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với Thiền sư Chân Trú (là đệ tử của Thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng. Sau khi Chân Trú mất, ông tu hạnh đầu đà du phương cầu học, sau đó đến tham học với Thiền sư Minh Lương (đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên. Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Thiền sư cùng chúng đệ tử là những người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, phục hồi nền văn học nước nhà: trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh (1715), soạn Kế Đăng Lục (1734), Thiền Tông Bản Hạnh, trùng khắc Thánh Đăng Lục (1750), Khóa Hư lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763), Tam Tổ Thực Lục (1765)… Năm 1722 lúc 76 tuổi Thiền sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu là Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726 trong tư thế kiết già, Ngài tịch vào tháng 10 âm lịch thọ 80 tuổi.
+ Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, năm 18 tuổi đậu cử nhân được tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn, sau đó làm Tri phủ Triệu Phong Quảng Trị. Năm 25 tuổi tham học đạo Phật với Thiền sư Viên Cảnh người Trung Hoa. Năm 1655 (năm 28 tuổi) ông Từ Quan, xuất gia với Thiền sư Viên cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính để thiền sư giảng pháp. Sau đó ngài bị vu cáo cùng một quan Thị Nội giám là Gia Quận công là âm mưu trốn ra đàng ngoài, bị chúa Nguyễn Phúc Tần tra khảo, sau đó đưa vào Quảng Nam. Từ sự đối đãi ấy tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) Thiền sư cùng 50 đệ tử dùng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài, thuyền ghé vào Trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na hầu, quan trấn thủ về tâu với triều đình, chúa Trịnh Tạc sai Đường Quận công đem thuyền vào Nghệ An rước Thiền sư và chúng đệ tử ra Đông Đô. Sau đó chúa Trịnh cho xây dựng chùa ở trấn Sơn Nam để thầy trò giảng pháp tu học vào năm 1683. Năm Ất Mùi (1715) sáng ngày 13.05 sau khi tắm, thiền sư khoác y, đội mủ, đeo tràng Hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi.
b. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong):
Khác với đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng thấy đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ, cho nên khi mới vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã liên tiếp cho xây dựng các chùa. Đồng thời chính là lúc chuyển tiếp giữa triều Minh và Thanh nên các danh tăng Trung Hoa tới đàng trong hoằng hóa khá nhiều nhưng đều thuộc thiền phái Lâm Tế:
- Thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị.
- Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ (Báo Quốc), Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, ở Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
- Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông ở Phú Yên
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và các chùa Quốc An và Hà Trung ở Thuận Hóa.
- Riêng hai vị Thiền sư Thạch Liêm khai sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa và Quốc sư Hưng Liên (đệ tử Thạch Liêm) khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng Nam thuộc phái Tào Động
3. Lịch sử Phật giáo Việt Nam triều Nguyễn:
a. Thời kỳ Tây Sơn:
Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước, Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ ở các làng xóm để tập trung vật liệu xây ở mỗi Phủ, Huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang và cho mời những Tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo, còn những người không xứng đáng phải hoàn tục. Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lạm phát chùa chiền và thoái hóa của Tăng sĩ trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố phường, làng mạc, bàng bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở, nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo trong cả một chương trình phát triển đại quy mô. Nhưng vì vua Quang Trung mất sớm nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.Thời kỳ nầy có một tác phẩm nổi bậc đó là “Hứa Sử truyện” của Ngài Toàn Nhật, đệ tử Ngài Diệu Nghiêm.
b. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long:
Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn. Triều đình Nguyễn Gia Long thực hiện đúng bản chất của một chế độ Tống Nho thời Hậu Lê. Qua hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn: Quật mộ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem giam sọ của hai người vào ngục tối, con của vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và các tướng lãnh khác cùng vợ con kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, voi dày xé xác. Con cháu anh hùng Quang Trung bị truy nã, chém giết, các di tích liên hệ đến phong trào Tây Sơn bị tiêu hủy với ý đồ man rợ qua câu nói: “trẫm vì chín đời mà trả thù”. Rồi để cũng cố nền thống trị độc tài bằng cách tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế, tạo nên thế gia đình trị, Nguyễn Ánh tiếp tục giết hại những công thần đã cùng vào sinh ra tử như: Đỗ Thành Nhơn, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, san bằng mồ mã Lê Văn Duyệt, Lê Chất… Do chính sách của Nguyễn Ánh, sợ ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị, nên Phật giáo không được ưu đãi. Tuy có một số chùa được sắc tứ và trùng tu nhưng là những ngôi chùa mà trong thời gian bôn tẩu Nguyễn Ánh đã từng cư trú, hoặc chuẩn bị để đánh bại Quang Trung, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích gây phúc đức cho dòng họ. Tuy vậy vẫn có một số danh Tăng nổi tiếng như:
- Thiền sư Mật Hoằng người Bình Định, đệ tử của Thiền sư Linh Nhạc thuộc dòng phái Nguyên Thiều, năm 1815 được vua Gia Long triệu về kinh cấp chứng chỉ Tăng Cang và trú trì chùa Quốc An.
- Thiền sư Phổ Tịnh người Quảng Nam hiệu là Đạo Minh, đệ tử của Ngài Chiếu Nhiên thuộc phái Liễu Quán. Năm 1808 được Hoàng Thái Hậu Hiến Khương thỉnh trụ trì chùa Thiên Thọ (Báo Quốc). Ngài tịch năm 1816.
- Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chính, đệ tử của Thiền sư Đạo Nguyên. Ngài xuất gia năm 1807, thọ Cụ túc giới năm 1810 là người sáng tác sách ‘Pháp Hoa đề cương’ năm 1819 và Tâm kinh Trực giải năm 1843 còn lưu lại đến ngày nay.
- Thiền sư Thanh Nguyên hiệu Minh Nam là người viết bài tựa cho ‘Pháp Hoa đề cương’.
- Thiền sư An Thiền trú trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh là tác giả cuốn Tam Giáo Thông Khảo viết vào năm 1845.
- Thiền sư Nhất Định pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị sinh năm 1783 tịch năm 1847. Đương thời Thiền sư được vua Gia Long và vua Minh Mạng tôn trọng.
- Thiền sư Diệu Giác pháp danh Hải Thuận, người làng Bích Khê, Quảng Trị họ Đỗ, sinh năm 1805, mất năm 1896. Là đệ tử của Thiền sư Nhất Định, trú trì chùa Diệu Đế là người có công trùng tu các tổ đình Huệ Lâm, Báo Quốc, Kim Tiên.
- Thiền sư Phúc Điền trú trì chùa Liên Tông làng Bạch Mai, Hà Đông là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo, Ngài biên soạn sách ‘Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục’.
- Và còn rất nhiều danh Tăng nổi tiến khác.
III. NHẬN ĐỊNH:
Lịch sử Phật giáo suốt hai triều LÊ – NGUYỄN kéo dài 517 năm, nhưng do tình hình chính trị trong nước bất ổn nên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật giáo nước nhà.
Thời Hậu Lê nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, nền văn hóa dân tộc độc lập của Đại Việt bị thay thế bằng nền văn hóa giáo điều và từ chương của Tống Nho. Nho học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thoái lại càng suy thoái hơn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vỡ sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý – Trần. Bởi vậy triều Hậu Lê xem như là một triều đại mà Phật giáo suy đồi nhất trong các triều đại kể từ khi đất nước Đại Việt dành lại chủ quyền dân tộc từ tay đế quốc Trung Hoa đến thế kỷ 15 – 16. Trong thời kỳ này đa số Tăng sĩ thiếu học, tu tập theo hình thức, không chú trọng nội dung tư tưởng, ngoài ra còn làm nhiều việc mê tín như: điểm nhãn, cầu mưa, phù chú..
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhìn chung hai họ Trịnh Nguyễn đều hâm mộ đạo Phật, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo công đức cho dòng họ, chứ không biết áp dụng Phật giáo vào việc trị dân, dựng nước, đồng thời cùng chung mục đích là dành dân, chứng tỏ là mình cai tri nhân từ, để lấy chính nghĩa hầu tranh quyền lẫn nhau.
Tóm lại qua lịch sử cho chúng thấy được:
- Sự rạn nức niềm tin nơi triết học Tống Nho, khiến nhiều nhà trí thức quay qua nghiên cứu Phật giáo.
- Từ năm 1558 – 1802 có 3 phái thiền hoằng hóa ở Đàng trong: Trúc Lâm – Lâm Tế và Tào Động (do một số cao Tăng từ Trung Hoa sang truyền các dòng Thiền vào nước ta).
- Tăng tài tuy nhiều nhưng không có hệ thống nhất quán mà chỉ phát triển theo khu vực.
- Phật giáo Đàng Trong phục hưng và phát triển mạnh dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng vì tình trạng chiến tranh và ảnh hưởng của chính trị nên tài liệu về Phật giáo bị tiêu hủy và thất lạc: từ các phổ hệ truyền thừa của các thiền phái đến các lịch sử truyền thừa của các chùa cũng như ngữ lục, tiểu sử của các thiền sư thời đó.
- Về văn học sử dù bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn một số tác phẩm văn học mang ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo tiêu biểu như:
- Thi phẩm “Tư Dung văn” của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634).
- Tác phẩm “Sãi Vãi” và 10 bài thơ họa lại “Hà Tiên thập cảnh” (của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích) của Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1717-1767).
- Thi phẩm chữ Nôm “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh” của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích.
- Thi phẩm “Phong Trúc tập” của ẩn sỉ thiền giả Ngô Thế Lân (người đã dâng các bảng điều trần lên chúa Nguyễn).
Tuy nhiên theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc tinh thần Đạo Phật được xem như đã hòa quyện cùng với tinh thần dân tộc của người dân Việt, vì lẽ đó Phật giáo vẫn tiềm tàng trong mọi giới chờ một ngày thuận duyên sẽ đơm hoa kết trái.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
17Mười hai nhân duyên

A. DẪN NHẬP:
Mười hai nhân duyên là cách trình bày đặc biệt của giáo lý “Duyên khởi”. Giáo lý này được đức Phật nói đến rất nhiều trong các Kinh tạng, khi Ngài chứng ngộ được nguyên lý “Thập nhị nhân duyên”, thấy được các nhân duyên hình thành nên vũ trụ vạn hữu sau 49 ngày tham thiền nhập định vào ngày mùng 8 tháng 12 Âm lịch (theo kinh Phật Bản hạnh là ngày trăng tròn tháng 12). Tuy nhiên không phải ngay từ buổi đầu, Đức Phật thuyết 12 nhân duyên mà Ngài chỉ đơn giản nói một duyên, hai duyên hoặc ba duyên …. Thuyết 9 nhân duyên được Phật nói đến trong kinh Mahanidana Digh Nikaya 19 tạng Pali; thuyết 10 duyên được Phật nói đến trong kinh Thành Dụ; còn thuyết 12 nhân duyên thì được Phật nói đến trong kinh Đại Duyên. Ngoài thuyết 12 nhân duyên của Mahanidana – Sùtra chúng ta còn thấy thuyết 24 nhân duyên của Buddhaghosa ở trong Visuddhumagga.
B. NỘI DUNG:
I. HÀNH TƯỚNG CỦA THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN:
Mười hai nhân duyên Tức là Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử làm nhân làm duyên cho nhau.
1. Vô Minh: (Avijya)
Tức là tăm tối, mù mờ, không nhận thức sáng suốt. Phật dạy: “Thế nào gọi là Vô minh? Tức là không nhận thức được sự có mặt của khổ, không nhận thức được nguyên nhân gây ra đau khổ, không nhận thức được hạnh phúc khi chấm dứt nguyên nhân đau khổ và không nhận thức được con đường của sự chấm dứt nguyên nhân đau khổ, gọi là vô minh”.
2. Hành: (Sànkhàra)
Tức là hành động (Action), động lực trong tâm khi bị khuấy động bởi vô minh (Cái giận, cái ghét, cái buồn, cái bực bội, thù hận, v. v..Tất cả những hiện tượng ấy đều do vô minh khuấy động). Trong kinh Phật dạy: “Hành có ba loại: Thân hành, khẩu hành và ý hành”. Như vậy chúng ta thấy đức Phật không chỉ công nhận mọi hành vi của thân, khẩu, mà ngay cả trong ý niệm, suy tư, tình cảm đều được gọi là Sànkhàra.
3. Thức: (Vijnàna)
Thức là ý thức, là sự hiểu biết, là khả năng biểu hiện và nhận thức, được thúc đẩy bởi một sự phát triển nội tại theo quy trình của Nghiệp thức do một nhân tố có tính quyết định đó là Chủng tử Thức A Đà Na.
4. Danh sắc: (Nàma, Rùpa)
Danh ở đây không phải là tên gọi mà chỉ cho tâm lý (Psycho). Tâm lý theo Phật giáo nguyên thuỷ thì đó gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc tức là vật lý (Physics) những hiện vật chất, thời gian, không gian. Phật dạy: “Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý gọi là Nàma và tứ đại là Rùpa”
5. Lục Nhập: (Sabhàytana)
Cũng còn gọi là lục xứ. Thế nào gọi là lục xứ, tức là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xứ tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sự gặp gỡ của lục căn và lục trần gọi là lục nhập.
6. Xúc: (Phassa)
Tức là xúc chạm, tiếp xúc. Xúc là một tâm sở biến hành, nó được tạo ra bởi lục nhập. Nhưng phạm vi của xúc là sự va chạm giữa căn và trần, sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng.
7. Thọ: (Vedàna)
Tức là nhận lãnh, cảm thọ gồm: khổ thọ, lạc thọ, phi khổ phi lạc thọ. Cảm thọ được phát sinh do sự xúc chạm. Từ sự xúc chạm mà phát sinh cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác trung tính. Phật dạy: “Thọ có sáu loại: Thọ phát sinh từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Đây gọi là thọ”.
8. Ái: (Tanha)
Tức tham ái, vương vấn, thèm muốn, khao khát. Sự thèm muốn, khao khát cái gì? – Đó là sự khao khát về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Chính sự khao khát vấn vương là nguồn gốc của khổ đau. Phật dạy: “Chính Tanha (ái) hướng dẫn đến đời sống khác, đi tìm hỷ và tham, tìm kiếm hỷ lạc tại chỗ này, chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này các thầy khất sĩ đây gọi là nguồn gốc của khổ đau”.
9. Thủ: (Upàdàna)
Tức là mắc kẹt, vì tham ái, vương vấn nên mới mắc kẹt. Sự mắc kẹt có nhiều phương diện. Phật dạy: “Có 4 loại thủ chấp: Dục thủ (sự mắc kẹt vào tham muốn), Kiến thủ (mắc kẹt vào nhận thức), Giới cấm thủ (mắc kẹt vào những giới điều), Ngã luận thủ (mắc kẹt vào ý niệm về ngã). Bốn loại này đều gọi là chấp thủ”.
10. Hữu: (Bhara)
Có nghĩa là có– sự hiện hữu, sự có mặt. Vì mắc kẹt cho nên mới có hiện hữu. Vì mắc kẹt vào Dục, Giới cấm, Ngã và Kiến nên mới có sanh, tử luân hồi tam giới lục đạo. Hữu tức là sự hiện hữu của tam giới, (Dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Thầy Buddhaghosa nói: “Hữu có chín loại: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, Tưởng hữu, Phi tưởng hữu, Nhất uẩn hữu, Tứ uẩn hữu và Ngũ uẩn hữu”.
11. Sinh: (Jàti)
Tức là sự biểu hiện– Phật dạy: “Cái thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác, là sinh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, sự xuất hiện của các uẩn, sự hình thành của các xứ. Đây gọi là sinh”. Đối với con người thì sự biểu hiện của danh sắc hay ngũ uẩn gọi là Jàti.
12. Lão tử: (Jàra – Marana)
Tức là già chết, sự hoại diệt. Phật dạy:“Cái gì thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác là già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, các căn suy hoại. Đây gọi là già. Cái thuộc chúng sinh bộ loại này hay bộ loại khác là chết, là sự tách rời là sự tiêu mất, là tử vong; các uẩn tan rã, vứt bỏ. Đây gọi là chết”.
II. Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN:
Thập nhị nhân duyên là 12 nguyên lý giải thích sự hình thành của các loài sinh động vật trong vũ trụ. Đây là sự triển khai và cụ thể hóa “Lý Duyên sanh”, là một giáo lý đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, là cốt lỏi của nhân sinh quan Phật giáo. Lý Duyên sanh được tóm tắt trong một nguyên tắc hết sức giản dị nhưng bao quát được nguyên lý hình thành nên vũ trụ vạn hữu:
- Do cái này sanh, cái kia sanh.
- Do cái này diệt, cái kia diệt..
Điều này cho chúng ta thấy được rằng giáo lý Thập nhị nhân duyên là một giáo lý căn bản trình bày tướng trạng của sanh tử luân hồi với sự liên hệ mật thiết cùng định luật Nhân quả, đồng thời nó cũng nói lên mối tương quan sinh thành của các sự vật trong vũ trụ. Đó cũng là quy luật của sự sống chết, sự sinh diệt, một quy luật chi phối đời sống của mọi sinh vật hiện hữu trong vũ trụ.
1. Nhân:
Tức là nguyên nhân, điều kiện căn bản, cũng có khi gọi là hạt giống, là yếu tố quyết định, là điều kiện sinh khởi có mặt của một hiện hữu. Trong truyền thống Phật giáo Bắc phương cũng như Namphương đếu có nói tới 6 nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân và Dị thục Nhân.
2. Duyên:
Tức là điều kiện hổ trợ, những yếu tố tác động giúp nhân sinh khởi. Abhidharma có nói tới 4 duyên: Nhân duyên, Tăng thượng duyên, Đẳng Vô gián duyên và Sở duyên duyên.
Tóm lại nhân duyên trong 12 nhân duyên hàm ý nghĩa “nhân duyên khởi”: sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi.
III. NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH CỦA 12 NHÂN DUYÊN:
1. Đồ hình biểu thị sự vận hành của 12 nhân duyên:

2. Ý niệm tam thế lưỡng trùng:
Từ đồ hình biểu thị trên cho ta thấy Mười hai nhân duyên đã được xây dựng và thành lập ra lý thuyết tam thế lưỡng trùng. Tam thế tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Lưỡng trùng là hai lớp nhân quả. Theo thuyết này thì Vô Minh, Hành được xếp vào quá khứ. Thức, danh sắc, Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc về hiện tại. Sinh và lão tử được xếp vào tương lai. Trong 12 chi thì vô minh và hành thuộc về kiếp trước, còn sinh và lão tử thuộc về kiếp sau. Thức … Hữu thuộc về đời hiện tại. Sự phân chia này có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy hiểm vì người học có thể hiểu lầm rằng nếu sinh và lão tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có sinh và lão tử. Cũng vậy, vô minh và hành được xếp trong quá khứ, nhưng chúng ta cũng biết trong hiện tại có vô minh và hành. Trong tất cả các chi phần của 12 nhân duyên, ta đều nhận ra sự có mặt của vô minh và hành.
Trên một ngàn năm qua, thuyết tam thế lưỡng trùng được coi như mẫu mực. Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc được xem như là quả, mà nhân là Vô Minh và Hành. Trong kiếp trước đã có nhân Vô minh và Hành cho nên hiện tại phải có quả là có Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc. Đó là cặp nhân quả đầu. Rồi lại vì có Thọ, Ái, Thủ, Hữu mà chúng ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả Sinh và Lão tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các duyên, nối kết quá khứ, hiện tại, vị lai cho nên gọi là tam thế lưỡng trùng.
3. Hai pháp quán “Lưu chuyển” và “Hoàn diệt”:
Từ định lý Duyên khởi đã chứng đắc “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này không thì cái kia không và cái này diệt thì cái kia diệt”. Đức Phật đã thuyết minh về 12 nhân duyên như sau:
- “Do vô minh có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi khỗ, ưu não hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi”.
- “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt;....; do sinh diệt nên lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy toàn bộ khỗ uẩn đọan diệt. Này các Tỷ kheo như vậy gọi là đọan diệt”.
Mười hai nhân duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng lưu chuyển (sinh khởi: do vô minh, hành sinh...) và chiếu hướng hoàn diệt (còn gọi là đoạn diệt: do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt...).
+ Quán Lưu chuyển: Quán sát trạng thái sinh khởi trong 3 đời: Vô minh, Hành ở quá khứ; Sanh, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, quả trong hiện tại; Ba quả hiện tại lại làm nhân là Ái, Thủ, Hữu dẫn đến quả vị lai là Sanh, Lão, Tử.
+ Quán hoàn diệt: Khi 12 nhân duyên được tập khởi, nghĩa là năm uẩn tập khởi và đây là chiều hướng của khổ đau, luân hồi. Khi 12 mắc xích này bị phá vỡ thì cấu trúc của năm uẩn cũng tan rã và đây là con đường của an lạc, giải thoát.
C. SUY NGHIỆM:
Mười hai nhân duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe là con người. Vì con người bị vướng mắc nặng vào Vô Minh, Ái và Chấp thủ nên Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục đích giải thoát, giác ngộ. Đây không phải là một giáo lý dùng để đối trị chấp ngã hay nhằm giải thích thế giới; mà đây là một sự thật và là một pháp tu tập vì giải thoát thiết thực cho con người. Cuộc sống là sự hiện hữu của các mối tương quan đa phương giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên. Khi một cá nhân sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và ngược lại. Mỗi người phải có trách nhiệm với cộng đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ cá nhân mình.
Mười hai nhân duyên là một giáo lý vô cùng tinh tế và khó hiểu, bởi con người vốn đã quen với nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một nhận thức đúng về giáo lý này đòi hỏi phải có sự quán sát và tư duy thường xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý 12 nhân duyên theo pháp quán “Hoàn diệt”, chắc chắn sẽ từng bước mang đến cho chúng ta một cuộc sống độ lượng, vị tha, giải thoát và an lạc trong hiện tại. Bởi như lời Phật dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Ta (Phật)”. Thấy Phật là thấy được thực tại tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính, bị giới hạn bởi vô minh, tham ái và chấp thủ này.
D. TU TẬP:
Tóm lại thuyết mười hai nhân duyên mà Đức Thế Tôn dạy nó không phải là một lý thuyết mà là một pháp môn hướng dẫn tu tập; là con đường chuyển hóa khổ đau và đem lại hạnh phúc an lạc.
Vậy để tu tập 12 nhân duyên thì chúng ta phải không gây nhân hiện tại là Ái, Thủ, Hữu. Vì đó chính là Vô minh của quá khứ. Một khi Ái, Thủ, Hữu hiện tại không còn thì dĩ nhiên chúng ta không còn tái sanh trong đời sau nữa. Do đó mà Tam tạng giáo điển thường xuyên nhắc ta đoạn tận tham ái và chấp thủ chính là để đoạn diệt gốc khỗ đó.
Trong tinh thần một Đoàn sinh bậc Chánh thiện của Gia Đình Phật Tử các em cần phải quyết tâm:
- Luôn luôn ghi nhớ và thực hành châm ngôn Bi Trí Dũng và 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.
- Phát nguyện trai kỳ (ăn chay hàng tháng tối thiểu là tứ trai) nhằm giúp chúng ta trưởng dưỡng thân tâm.
- Thọ trì ngũ giới một cách triệt để giúp chúng ta đoạn trừ tham ái.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
18Phật giáo Việt Nam cận đại và GHPGVN Thống nhất
Tham khảo thêm
Các tập đoàn Phật giáo Nam – Trung – Bắc
Phong trào chấn hưng Phật giáo
- Từ những năm 1920, Phật giáo Việt Nam có phong trào chấn hưng: lập hội, mở trường Phật học, ra báo, dịch kinh sách sang chữ quốc ngữ.
Các hội Phật học ba miền
- Miền Nam: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (thành lập năm 1931 tại Sài Gòn).
- Miền Trung: An Nam Phật học hội (thành lập năm 1932 tại Huế); cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám có công lớn, cũng là người khai sinh tổ chức Gia đình Phật hóa phổ, tiền thân của GĐPT.
- Miền Bắc: Bắc Kỳ Phật giáo hội (thành lập năm 1934 tại Hà Nội).
Tổng hội Phật giáo Việt Nam
- Năm 1951, đại biểu Phật giáo ba miền họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam; cũng trong năm này danh xưng Gia Đình Phật Tử chính thức được dùng.
Gợi ý hoạt động
- Mỗi Đội, Chúng tìm hiểu một hội và vẽ bảng thời gian (dòng sự kiện) chung của Đoàn.
Tham khảo thêm
Cuộc vận động Phật giáo năm 1963
Diễn tiến chính
- Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật Đản, trong khi các tôn giáo khác vẫn được treo cờ.
- Đêm 8/5/1963 (Phật Đản), tại Đài phát thanh Huế, lực lượng chính quyền đàn áp đồng bào Phật tử tụ tập, làm nhiều người thiệt mạng, phần lớn là các em thiếu nhi.
- Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng, đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo; phong trào lan rộng khắp miền Nam.
- Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để bảo vệ đạo pháp, gây chấn động thế giới.
- Tháng 8/1963, chính quyền tấn công nhiều chùa, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử.
- Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Gia Đình Phật Tử trong cuộc vận động
- Nhiều Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT đã tham gia bảo vệ đạo pháp, một số đã hy sinh; tổ chức tôn vinh các vị là Thánh tử đạo.
Ý nghĩa
- Thể hiện tinh thần vô úy, hy sinh vì đạo pháp và tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt Nam.
- Dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (năm 1964).
Lưu ý
- Anh chị trưởng nên dùng thêm tài liệu lịch sử của Ban Hướng Dẫn để giảng dạy chi tiết, đặc biệt danh sách các vị Thánh tử đạo.
Tham khảo thêm
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Thành lập
- Sau cuộc vận động năm 1963, các hệ phái, tổ chức Phật giáo (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ…) họp Đại hội thống nhất; đầu năm 1964 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với bản Hiến chương.
Tổ chức
- Hai viện chính: Viện Tăng Thống (lãnh đạo tinh thần, giới luật) và Viện Hóa Đạo (điều hành Phật sự).
- Đức Đệ nhất Tăng thống là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
- Gia Đình Phật Tử là tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trực thuộc Giáo hội.
Sau này
- Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước.
Lưu ý
- Đây là đề tài lịch sử tổ chức; anh chị trưởng giảng theo tài liệu chính thức của Ban Hướng Dẫn.
19Các tôn giáo lớn trên thế giới
Tham khảo thêm
Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo)
- Ra đời ở Ấn Độ từ rất xưa, dựa vào kinh Veda; tin vào Phạm Thiên (Brahman), luân hồi, nghiệp; xã hội chia đẳng cấp. Đức Phật ra đời trong bối cảnh này và chủ trương bình đẳng, không phân biệt giai cấp.
Nho giáo
- Do Khổng Tử (thế kỷ 6 – 5 trước Công nguyên, Trung Hoa) xây dựng; đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo hiếu, trật tự gia đình và xã hội.
Lão giáo (Đạo giáo)
- Gắn với Lão Tử và Đạo Đức Kinh; đề cao “Đạo”, sống thuận theo tự nhiên, vô vi.
Thiên Chúa giáo (Kitô giáo)
- Dựa trên lời dạy của Đức Giêsu, kinh Thánh; tin vào Thiên Chúa, đề cao bác ái.
Hồi giáo
- Do nhà tiên tri Muhammad truyền dạy (thế kỷ 7, bán đảo Ả Rập); kinh Qur'an; tin vào Thượng đế duy nhất (Allah).
Đạo Bahá'í
- Ra đời ở Ba Tư thế kỷ 19, người sáng lập là Bahá'u'lláh; đề cao sự hợp nhất của nhân loại và các tôn giáo.
Thái độ của người Phật tử
- Tôn trọng các tôn giáo bạn, đối thoại trong hiểu biết, cùng hợp tác vì lợi ích con người; vua A Dục từng khắc chỉ dụ khuyên tôn trọng các tôn giáo khác.
Tu dưỡng – Phục vụ12 bài
1Thọ Bát quan trai

A. DẪN NHẬP:
Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.
B. NỘI DUNG:
I. ĐỊNH DANH:
Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).
Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:
- Không được sát sanh.
- Không trộm cướp.
- Không được dâm dục.
- Không được nói dối.
- Không được uống rượu.
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
- Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
- Không được ăn quá giờ ngọ.
II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
1. Không được sát sanh:
Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.
Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.
Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.
Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.
2. Không được trộm cướp:
Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.
Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.
Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.
Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.
Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,
Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.
3. Không được dâm dục:
Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.
Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.
Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.
Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.
Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.
4. Không được nói dối:
Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.
Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.
Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.
5. Không được uống rượu:
Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.
Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.
Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.
6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:
Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.
Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.
Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.
Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.
Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.
7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:
Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…
Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.
8. Không được ăn quá giờ ngọ:
Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.
Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
- Ít mống tâm sái quấy
- Ít buồn ngủ
- Dễ được nhất tâm
- Ít hạ phong
- Thân được yên ổn ít sanh bệnh
Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.
Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.
C. SUY NGHIỆM:
Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.
Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.
- Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
- Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
- Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
- Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
- Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
- Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
- Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
- Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.
Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?
Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.
Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.
D. TU TẬP:
Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
2Tứ niệm xứ

A. DẪN KHỞI:
Tứ niệm xứ là 4 lãnh vực quán niệm, thuộc 4 chi phần trong 37 phẩm trợ đạo thuộc về pháp môn Thiền định. Hai kinh “Quán niệm hơi thở” và “kinh Niệm xứ” dạy về pháp tu Tứ niệm xứ. Đây là bốn pháp quán giúp cho hành giả nhận chân được bản chất của thế giới vạn hữu là vô thường, vô ngã, không, là nhân duyên sinh. Để giúp cho hành giả có đủ ý thức tự mình tinh cần để giải thoát mọi ràng buộc khổ đau để đạt đến sự giải thoát an lạc tuyệt đối.
B. NỘI DUNG:
I. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ NIỆM XỨ:
Tứ niệm xứ là bốn pháp quán về 4 lãnh vực: thân thể, cảm thọ, tâm ý, vạn pháp.
1. Thân niệm xứ (Quán thân bất tịnh):
Thân thể là do được kết hợp giữa Ngũ uẩn với sự dẫn dắt của thần thức để thọ sanh từ tinh huyết của cha me, để thấy rằng tấm thân ngũ uẩn của chúng ta chỉ là một túi chứa đựng đầy những thứ bất tịnh ngay khi chưa chào đời, lúc còn sống và cả cho đến sau khi trút hơi thở cuối cùng thì cũng chỉ còn là một thi thể vô tri vô giác đón chờ sự phân hủy của thời gian.
Đức Phật dạy chúng ta pháp quán Thân niệm xứ, cho chúng ta thấy rõ rằng tất cả là vô thường (từ tốt đẹp trở thành uế trược), để từ đó giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác không còn nương tựa chấp trước, tham ưu bất cứ một vật gì ở trên đời này.
2. Thọ niệm xứ (Quán thọ thì khổ):
Theo nghiệp thức để thọ nhận thân thể nầy, mà hữu thân thì hữu khổ vì chính đây là mầm chính của đau khổ. Cảm thọ có 3 lãnh vực:
+ Khổ thọ: Thọ nhận những thứ khó chịu về thức ăn, khí hậu, tâm lý trong cuộc sống như: Đắng, cay, nóng, lạnh – ghen ghét, tức giận.
+ Lạc thọ: Thọ nhân những thứ (thú vui) phù hợp với lòng tham ái về vật chất, tâm lý trong cuộc sống như: ngon ngọt, mát mẻ, thương yêu …
+ Xả thọ: xả bỏ bớt những thứ đã nhận lảnh của khổ thọ cũng như lạc thọ. Phật dạy: “tất cả mọi thú vui của thế gian đều là nguyên nhân đưa đến khổ”.
3. Tâm niệm xứ (Quán tâm vô thường):
Là cái nhận biết phân biệt của con người, một trong ngũ uẩn: đó là “Tâm ý”, luôn luôn biến chuyển, thay đổi thay theo từng sát na, theo từng sự việc để rồi sanh ra vọng tưởng phiền não. Để đối trị với các vọng chấp, Phật dạy phép quán này nhằm giúp chúng ta nhận rõ cái tâm vô thường để chuyển đổi từ tâm mê sang tâm ngộ, phải phá trừ ngã chấp để vượt thoát sanh tử luân hồi.
4. Pháp niệm xứ (Quán pháp vô ngã):
Pháp là đối tượng của tâm ý, là thế giới vạn hữu, trong đó thân chúng ta không có tự thể, thế giới vạn hữu trong vũ trụ không có cái gì tự mình tồn tại độc lập mà phải nương vào nhau mà sinh tồn đó chính là nguyên tắc “nhân duyên sinh” của đạo Phật. Thế nhưng vì chúng ta chấp có tự tướng nên sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ, thử, quý trọng, khinh rẽ đưa đến sự tranh chấp, đấu tranh trong xã hội. Do vậy, Pháp quán vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo, nhằm mục đích xóa bỏ quan niệm sai lầm về:
+ Một đấng thần linh sáng tạo ra vũ trụ
+ Rời bỏ quan niệm chấp trước vào hữu ngã.
II. CÁC CẤP ĐỘ TU TẬP TỨ NIỆM XỨ:
Căn bản của pháp quán Tứ niệm xứ là dựa vào 16 đề mục trong pháp quán niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 4 lãnh vực Thân – Thọ – Tâm – Pháp:
1. Cấp độ 1: thực hành theo tư thế kiết già (hay bán già) theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra (theo câu nói thầm lần lượt theo 16 đề mục qua 4 lãnh vực nêu trên). Thời gian thực tập từ 1 đến 2 tháng.
2. Cấp độ 2: vừa theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra, đồng thời theo dỏi thân và tâm giữ niệm theo nội dung cũng theo nội dung 16 đề mục trên. Thời gian cho đến khi thuần thục.
3. Cấp độ 3: tiếp tục theo dõi hơi thở, nhưng xem hơi thở như là đối tượng chính để buộc tâm, theo dõi thân hành để biết rõ đường hơi thở vào ra, giữ chánh niệm tĩnh giác. Lưu ý trong cấp độ này chỉ khởi “Tưởng” chứ chưa khởi “Quán”, chỉ nỗ lực tu tập niệm lực và hành thiền chỉ. Mục đích nhiếp phục tham ưu.
4. Cấp độ 4: tập buộc niệm vào đối tượng (nghĩ đến vô thường của thân, của tâm …). Đây là thời gian tu tập về Định lực, hành thiền chỉ. Mục đích đối trị hôn trầm và trạo cử.
5. Cấp độ 5: tiếp tục cấp độ 4, nhưng sau 30 phút thì chuyển qua tập hành “Thiền quán”. Mục đích để đối trị 5 triền cái (trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi).
6. Cấp độ 6: Phối hợp giữa tu tập “Chỉ” và “Quán”, tùy theo tâm lý thích ứng của hành giả từng thời, tùy theo tâm trạng để thực hành: nếu tâm rơi vào “trạo cử” thì hành “Thiền chỉ”, nhưng tâm rơi vào thụ động thì hành “Thiền quán”. Điều quan trọng là suốt thời gian hành thiền phải giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác.
C. SUY NGHIỆM:
Tứ niệm xứ là một pháp quán nhằm giúp chúng ta loại bỏ tâm niệm “Nhân, ngã, bỉ, thử”, vì chỉ khi nào loại bỏ được tâm niệm này chúng ta mới thoát ly được sanh tử luân hồi để tiến bước lên con đường dẫn tới Phật quả.
D. TU TẬP:
Để việc tu tập pháp quán Tứ niệm xứ đạt hiệu quả cao, chúng ta cần có một số công việc phải làm để hổ trợ cho việc hành “Thiền chỉ” và “Thiền quán”:
1. Xếp đặc cuộc sống cá nhân:
Để có một nếp sống điều hòa (ăn, ngũ, làm việc, nghĩ ngơi, tu tập) sẽ giúp cho chúng ta có được một tâm lý quân bình, thuận lợi cho việc tu tập.
2. Thực hành trong cuộc sống:
Các hạnh “Bố thí” và “Trì giới” để giúp chúng ta nuôi dưỡng các tâm lý thiện vì tâm lý nầy rất gần gủi với Thiền tâm.
3. Các việc sắm lễ, các niệm “khởi sám”:
Là nguyên nhân giúp tâm chúng ta trở về với sự an tịnh trước khi thực hành thiền.
4. Thực hành hạnh “Nhẫn nhục”:
Vì kham nhẫn là đức tính dễ loại bỏ các chấp ngã, kiêu mạn, giúp chúng ta dễ đi vào chánh niệm tĩnh giác loại bỏ được yếu tố gây ra trạo cử, si mê trong lúc hành thiền.
5. Khi ngồi Thiền cần lưu ý:
+ Thân hành: ngồi thẳng lưng, giữ thân trong tư thế nghỉ ngơi (các cơ hoàn toàn được xã).
+ Tâm hành: trú tâm vào “chánh niệm tĩnh giác”
Trên đây là những cấp độ để thực hành Thiền Tứ niệm xứ. Tuy nhiên khi bước vào việc thực hành, công tác đầu tiên là phải tìm cho mình một y chỉ sư để giúp mình thực tập để đi đúng chánh pháp hầu khỏi lạc vào ma thiền.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
3Tứ như ý túc
Tham khảo thêm
Tứ như ý túc là gì
- Tứ như ý túc (Pali: iddhipāda; Phạn: ṛddhipāda) là bốn nền tảng giúp hành giả thành tựu thiền định và mọi việc tu tập như ý; thuộc 37 phẩm trợ đạo.
Bốn như ý túc
- Dục như ý túc (chanda): có ý muốn, mong cầu mạnh mẽ hướng đến điều thiện, đến giải thoát.
- Tinh tấn như ý túc (vīriya): siêng năng, nỗ lực không ngừng.
- Tâm như ý túc (citta): tâm chuyên chú, nhất tâm vào việc tu tập.
- Quán như ý túc (vīmaṃsā): suy xét, quán sát sáng suốt để điều chỉnh việc tu tập cho đúng.
Ứng dụng
- Muốn làm thành một việc tốt (học một kỹ năng, bỏ một thói quen xấu), cần đủ bốn yếu tố: muốn thật sự, cố gắng đều đặn, chú tâm, và biết xét lại để sửa.
- Đây là tinh thần chủ đạo của bậc Trực.
Lưu ý
- Nên học thêm với quý Thầy để hiểu sâu bốn như ý túc trong thiền định.
4An trú trong hiện tại (có thực tập)
Tham khảo thêm
Em cần biết
- An trú trong hiện tại là sống trọn vẹn với giây phút đang có: đang ăn biết mình đang ăn, đang đi biết mình đang đi, không để tâm chạy theo những chuyện đã qua hay lo lắng chuyện chưa tới.
- Đức Phật dạy không nên mải tiếc nuối quá khứ, không nên mong cầu viển vông tương lai; quán chiếu kỹ những gì đang xảy ra trong hiện tại. Lời dạy này có trong kinh Nhất dạ hiền giả.
- An trú hiện tại không phải là không lo cho tương lai, mà là làm tốt việc của hôm nay chính là chuẩn bị cho ngày mai.
Thực tập
- Thở chánh niệm: hít vào biết mình đang hít vào, thở ra biết mình đang thở ra.
- Đi thiền: bước chậm, mỗi bước chân phối hợp với hơi thở.
- Ăn trong chánh niệm: ăn chậm, nhai kỹ, biết ơn thức ăn.
- Nghe chuông chánh niệm: nghe tiếng chuông thì dừng lại, thở ba hơi.
Gợi ý hoạt động
- Tổ chức một buổi “ngày chánh niệm” cho Chúng, Đội: thiền ngồi, thiền đi, ăn cơm trong im lặng, chia sẻ cảm nhận.
5Thiền trong đời sống
I. GIỚI THIỆU:
Thiền là gì? Cửa Thiền là cửa chùa, thiền gia là nhà chùa… Như vậy là đã hiểu chữ thiền một cách đơn giản. Có thể nói: Sống đạo là sống Thiền, làm quen với cuộc sống của nhà chùa là thực tập sống Thiền, là làm quen với giáo dục Thiền vậy.
Hằng tuần ta dành 10 hay 15 phút ngồi tĩnh tâm (Thiền tọa hay ngồi thiền) đó là ta đã thực tập thiền, đã bước đầu chập chững đi vào giáo dục Thiền của GĐPT.
Ngồi Thiền là một trong những tư thế đẹp nhất của con người nói chung và của người Phật tử nói riêng. Ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa đã đạt đến nhơn phẩm cao nhất của con người trong tư thế ngồi đó dưới cội Bồ Đề.
II. GHI NHỚ:
Tới giờ ngồi Thiền ta ngồi Kiết già hay Bán già, mắt lim dim nhìn tới phía trước trong khoảng một mét, lưng thẳng, hai vai ngang nhau, bàn tay phải đặt thoải mái lên bàn tay trái (hay ngược lại) và buông thả tất cả các bắp thịt trong toàn thân, giữ cho sống lưng luôn thẳng, duy trì chánh niệm. Theo dõi hơi thở ra vào, đọc nhẩm bài kệ:
Trong tư thế thiền tọa
Đoá hoa nhân phẩm nở
Hoa Ưu Đàm muôn thuở
Vẫn toả ngát hương thơm.
Đó là bài kệ điều thân, xong chuyển sang điều chỉnh hơi thở, thở ra cho hết không khí cũ trong phổi, rồi hít vào cho đầy buồng phổi bằng không khí tươi mát mới mẻ…. Để hết tâm ý vào hơi thở vào ra… làm thế nào để hơi thở luôn luôn được nhẹ nhàng khoan thai và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong cát mịn. Hơi thở càng nhẹ nhàng bao nhiêu thì thân và tâm dễ dàng thanh tịnh bấy nhiêu.
Trong khi thở vào, ta biết ta đang thở vào, ta thấy: Hơi thở đang đi vào trong từng tế bào cơ thể và đem tới sự an lạc cho từng tế bào ấy, vì dưỡng khí ôxy lọc máu và thực sự đi theo máu về tận các tế bào của cơ thể. Trong khi điều chỉnh hơi thở, theo dõi hơi thở…có thể đọc thầm bài kệ sau:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời.
Vừa theo dõi hơi thở, vừa thực tập bài kệ trên. Ví dụ dành 5 hay 10 phút để thực tập 2 câu đầu của bài kệ, rồi cũng dùng 5 hay 10 phút cho 2 câu sau của bài kệ. Tất nhiên trước khi ngồi thiền là đã thuộc nằm lòng các bài kệ trên.
Phương Pháp này cho ta sự thanh tịnh và an lạc ngay trong giờ phút đang ngồi thiền. Vì yếu chỉ của Thiền là “Chỉ” và “Quán”. Chỉ là dừng, là chấm dứt. Chấm dứt là chấm dứt tình trạng tạp loạn của thân ý, trở về tình trạng chuyên nhất và tập trung đó chính là “Định”.
Quán là nhìn rõ thấy kỹ. Quán hơi thở vào ra, quán sự vô thường của cuộc sống, quán sự mong manh của một hơi thở: hơi thở mà không có ra hay ra mà không có vào, thế là hết, mạng sống chấm dứt, đó là vô thường của cuộc sống này, Vô thường không chờ ai, không sợ ai, không trừ cho một ai cả…
Do đó mà ta quý từng giây, từng phút của cuộc sống này, phải thấy rằng hơi thở ngắn ngủi, cuộc sống có thể mất đi bất cứ lúc nào, nên phải tinh tấn làm tất cả các thiện Pháp, xa các ác Pháp, để khi trút hơi thở cuối cùng không còn gì phải hối tiếc, vì đã lãng phí thời gian có mặt trên đời này.
Ngoài việc tọa thiền, Phật còn dạy: “Thiền hành”. Đó là thực hành thiền trong khi đi bách bộ, đi dạo ở một con đường vắng bên dòng sông hay trong vườn chùa… vừa đi vừa theo dõi hơi thở vào ra và duy trì chánh niệm. Khi đã quen với giáo dục thiền, có thể thực hành Thiền hành giữa hai buổi thiền toạ.
III. TU TẬP:
Bước đầu làm quen với giáo dục Thiền, em thấy thật sự an lạc trong giờ ngồi thiền sau buổi lễ Phật hàng tuần, và niềm an lạc ấy theo em về đến nhà, ra phố, đến trường, trong những giờ kế tiếp. Vì vậy em quyết tâm thực hành.
1.- Mỗi sáng sau khi thức dậy, em ngồi tĩnh tâm trên giường từ 5 đến 10 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ, em cũng ngồi tĩnh tâm 5 – 10 phút như vậy và có thể tăng dần thời gian lên.
2.- Những lúc có dịp đi dạo một mình, hay có dịp ngắm trăng, nhìn một dòng sông, ngắm cảnh bình minh hay hoàng hôn … Nói chung, là khi có dịp em cũng thực hành Thiền, hoặc đi, hoặc ngồi tuỳ theo hoàn cảnh và ý thích của em trong lúc đó.
Em theo dõi hơi thở, duy trì chánh niệm, như vậy em sẽ có một ngày an lạc, một giấc ngủ ngon lành, không mộng mị, một buổi du ngoạn đầy ý nghĩa, dù một mình vẫn không thấy mình bị quấy nhiễu … Từ đó em có một cuộc sống hạnh phúc an lạc không bệnh hoạn ốm đau, em khoẻ mạnh cả thân lẫn tâm vậy.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
6Phật giáo với vấn đề tu dưỡng thanh niên
Tham khảo thêm
Thanh niên hôm nay
- Tuổi thanh niên có nhiều sức sống, ước mơ, nhưng cũng nhiều cám dỗ: mạng xã hội, game, rượu bia, ma túy, áp lực học hành, nghề nghiệp, tình cảm.
Phật giáo giúp thanh niên tu dưỡng
- Giới: giữ năm giới để tránh xa tệ nạn, sống trong sạch, được người tin cậy.
- Định: tập thiền, chánh niệm để làm chủ cảm xúc, bớt căng thẳng, tập trung học tập.
- Tuệ: học hỏi, suy xét nhân quả để tự quyết định đúng đắn cho cuộc đời mình.
- Chọn bạn tốt, sống có lý tưởng phục vụ; Gia Đình Phật Tử là môi trường để rèn luyện.
Thực hành
- Mỗi người đặt cho mình một mục tiêu tu dưỡng cụ thể trong 3 tháng (bỏ một thói quen xấu, tập một thói quen tốt) và chia sẻ kết quả với Đoàn.
7Thực hành Ngũ minh pháp

A. DẪN NHẬP:
Cách đây 2549 năm để có đủ những phương thức hoằng pháp thích hợp với từng hoàn cảnh, địa dư, phong thổ, tập quán của mỗi quốc độ, Đức Phật đã chỉ dạy cho các đệ tử năm kiến thức cần phải có của một người hoằng pháp. Và nhất là trong thế giới phức tạp ngày nay, khi mà con người bị chi phối rất nhiều vì những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa, thì năm kiến thức đó lại cần phát huy mới có thể đáp ứng kịp thời để thích hợp với xã hội mới, vì không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xã hội, thì đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai trò lãnh đạo của mình nữa.
B. NỘI DUNG:
1. Hành tướng của Ngũ Minh Pháp:
Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết, để đem đạo vào đời. Đó là những kiến thức về nội minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.
a. Nội minh:
Nội minh l kiến thức thông suốt và kinh nghiệm thực hành về nội điển Phật giáo.
Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, thì trước tiên mình phải tự tìm hiểu giáo lý của đạo Phật. Chúng ta đã biết rằng không hiểu giáo lý, thì không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những tình trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng vì người hành đạo thiếu sự am tường giáo lý nội điển. Vì không biết rõ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mả, giết hại sinh vật để tế Thần, tế Thánh, cúng kiến ông bà.
Muốn cho tình trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự mình thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lý cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nội giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ “nhứt manh dẫn quần manh” ấy.
Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lý đã dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lý. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo.
Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đình Phật tử chẳng hạn.
Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội điển. Phải tìm hiểu giáo lý hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lý cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rõ ràng:
a) Hệ thống Bát nhã: Giáo lý chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lý tánh chân không.
b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lý Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác.
c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lý pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.
Về mỗi hệ thống giáo lý, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lý và các pháp môn phương tiện để có thể xem ra ứng tiếp với xã hội cho hợp thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậc nhất.
b. Nhân minh:
Am tường giáo lý chưa đủ. Muốn trình bày giáo lý ấy một cách rỏ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lý; phương pháp luận lý ấy gọi là nhân minh.
Nhân minh là gì? Là một môn luận lý học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng “Nhân”, nghĩa là bằng cách suy cứu đến lý do.
Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.
Một lập luận đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: TÔN, NHÂN, DỤ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của mình. Nhân là lý do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ:
Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.
Nhân: Vì ông Nguyễn Văn A đã có lúc bị sanh ra.
Dụ: Phàm cái gì đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v…(đông dụ). Trái lại, phàm cái gì không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v.
Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Di dụ là những thí dụ khác loại (không sinh thì không chết).
Ta thêm một ví dụ khác:
Tôn: Trò B sẽ bị phạt
Nhân: Vì trò B học bài không thuộc.
Dụ: Phàm, ai không thuộc bài thì đều bị phạt cả, như trò C, trò D (đồng dụ).
Phàm, ai thuộc bài thì đều không bị phạt như trò Mít, trò Ổi.
Ta nhận thấy môn luận lý nhân minh có hơi giống với luận lý học hình thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lý học này, vì nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp.
Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối không có tính cách của dị dụ. Còn dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển Phật Học Phổ Thông khóa IX).
Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi vì các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia.
c. Thanh minh:
Môn học về ngữ văn tự, về âm thanh và về văn học.
Sự truyền giáo cũng đã rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng rãi vậy.
Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lý tu tập; người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu.
Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng ri vậy.
Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đòi hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ý đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn.
d. Công xảo minh:
Môn học về công nghệ và kỹ thuật:
Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện lòng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo rộng rãi trong phạm vi xã hội nhân sinh.
Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, thì không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, thì gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi vì chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đã là một sự đe dọa ghê ghớm.
Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo lòng vị tha và bác ái muốn cho muôn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hoạ do dục vọng gây nên.
e. Y phương minh:
Môn học về các phương pháp chữa bệnh.
Các Đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, Đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đã đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thực hành một công tác xã hội rất thích hợp với lòng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật tử thì đã có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.
Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm nom, và mỗi một ngôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.
C. KẾT LUẬN:
Trong thời đại hiện tại, xã hội đòi hỏi một phương thức hoằng pháp rộng rãi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phàm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xã hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được hoài bảo cứu tế to rộng của Đức Bổn sư.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
8Hai buổi công phu

A. GIỚI THIỆU:
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.
B. NỘI DUNG:
I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:
- Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
- Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
- Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:
Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.
Vậy đại ý hai thời công phu là:
1. Thời kinh sáng:
Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:
- Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
- Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
- Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
- Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
- Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
- Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
- Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
- Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
- Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
- Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
- Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
- Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.
Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.
Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.
2. Thời kinh chiều:
Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.
- Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
- Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
- Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
- Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
- Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
- Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.
Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.
Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.
3. Hai thời sóc vọng:
Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.
C. THỰC HÀNH:
Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.
Câu hỏi:
- Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
- Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
- Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
- Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
9Tổ chức và điều hành 1 tủ thuốc tại phường, khóm (xã, thôn) hoặc tại chùa
Tham khảo thêm
Mục đích
- Giúp bà con nghèo, người già có thuốc thông thường kịp thời; tạo duyên lành giữa chùa và địa phương.
Tổ chức
- Xin phép quý Thầy trụ trì và chính quyền địa phương theo quy định về y tế.
- Mời bác sĩ, dược sĩ, y sĩ Phật tử làm cố vấn chuyên môn; chỉ nhân viên y tế được khám và kê thuốc.
- Ban điều hành: trưởng ban, thủ kho (quản lý thuốc, hạn dùng), thư ký (sổ sách), thủ quỹ.
Điều hành
- Nguồn thuốc: vận động cúng dường, mua từ nơi có giấy phép; không nhận thuốc không rõ nguồn gốc, hết hạn.
- Sổ sách: sổ nhập – xuất thuốc, sổ ghi người đến nhận, công khai thu chi.
- Bảo quản thuốc nơi khô, mát, có tủ khóa; kiểm tra hạn dùng hằng tháng.
- Lịch phát thuốc cố định; có danh sách cơ sở y tế gần nhất để chuyển bệnh nặng.
10Tổ chức và điều khiển một lớp học tình thương
Tham khảo thêm
Mục đích
- Giúp trẻ em nghèo, trẻ không có điều kiện đến trường được học chữ, học kỹ năng sống, có nơi vui chơi lành mạnh.
Tổ chức
- Khảo sát nhu cầu: số em, lứa tuổi, trình độ, giờ rảnh.
- Địa điểm: phòng học tại chùa hoặc nhà văn hóa; bàn ghế, bảng, sách vở.
- Giáo viên: Huynh trưởng, đoàn sinh ngành Thanh, giáo viên Phật tử tình nguyện; phân công lịch dạy cố định.
- Liên hệ chính quyền địa phương, nhà trường để các em có thể học tiếp hoặc thi lấy chứng nhận khi đủ điều kiện.
Điều khiển lớp
- Chương trình: đọc, viết, tính toán; đạo đức, kỹ năng sống, vệ sinh; văn nghệ, trò chơi.
- Theo dõi chuyên cần, tiến bộ của từng em; thăm hỏi gia đình.
- Tạo không khí thân thương, tôn trọng, không phân biệt.
11Tổ chức và điều hành một lớp dạy nghề
Tham khảo thêm
Mục đích
- Giúp người khó khăn, thanh niên thất nghiệp có nghề để tự nuôi sống bản thân, gia đình theo tinh thần chánh mạng.
Tổ chức
- Khảo sát nhu cầu của người học và nhu cầu lao động ở địa phương để chọn nghề phù hợp (may, nấu ăn, sửa xe, tin học văn phòng, cắm hoa…).
- Mời người thợ giỏi, giáo viên dạy nghề làm thầy; chuẩn bị dụng cụ, nguyên vật liệu, địa điểm.
- Lập kế hoạch khóa học: thời gian, giáo trình, thực hành, kiểm tra cuối khóa.
Điều hành
- Quản lý học viên, chuyên cần; kết hợp dạy nghề với dạy đạo đức nghề nghiệp.
- Liên hệ cơ sở sản xuất, giới thiệu việc làm sau khóa học; theo dõi kết quả học viên.
12Tìm hiểu về cô nhi viện và ký nhi viện
Tham khảo thêm
Khái niệm
- Cô nhi viện: nơi nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi.
- Ký nhi viện: nơi gửi giữ, chăm sóc trẻ em trong ngày khi cha mẹ đi làm, hoặc nuôi dưỡng trẻ có hoàn cảnh khó khăn tạm thời.
- Nhiều chùa, tu viện ở Việt Nam có mái ấm nuôi dạy trẻ mồ côi, trẻ khó khăn.
Tìm hiểu
- Tổ chức, hoạt động, nguồn kinh phí, nhu cầu của các em; những khó khăn của người chăm sóc.
Phục vụ
- Thăm viếng định kỳ, tặng quà thiết thực theo nhu cầu (sữa, sách vở, quần áo).
- Dạy học, sinh hoạt vui chơi, kể chuyện, hướng dẫn kỹ năng cho các em.
- Tôn trọng nội quy, quyền riêng tư của các em: không chụp ảnh, đăng mạng khi chưa được phép.