Phật pháp2 bài
1Quy y Tam Bảo
Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

Tam bảo và quy y tam bảo
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
Văn:
Tam Bảo là ba ngôi quý báu: PHẬT, PHÁP và TĂNG
1. PHẬT: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, có 3 nghĩa:
- Tự giác: Tự mình giác ngộ.
- Giác tha: Giác ngộ cho mọi người, mọi loài.
- Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn.
Đức Phật (BUDDHA) là người tỉnh thức tuyệt đối, toàn diện. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân tướng của vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta là một bậc tỉnh thức (giác ngộ) hoàn toàn. Người chỉ đường cho tất cả chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên người tỉnh thức.
PHẬT là NGÔI BÁU THỨ NHẤT.
2. PHÁP: (DHARMA) là chân lý, là sự thật về nhân sinh, vũ trụ. Đức Phật tìm ra và Người đã chỉ dạy cho chúng ta những điều này, đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, dẫn ta đến chân trời tự do, an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát triển trong ta. Từ bi và trí tuệ là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, tất cả lời dạy của Ngài được kiết tập lại thành Kinh, những giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia gọi là Luật. Về sau, nhằm giải thích Kinh, Luật mà tạo thành Luận. Tóm lại, Pháp gồm KINH, LUẬT, LUẬN thường được gọi chung là “Tam Tạng kinh điển”.
PHÁP là NGÔI BÁU THỨ HAI.
3. TĂNG: (SANGHA) là đoàn thể những người xuất gia tu hành, thực tập đạo tỉnh thức và cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Tăng gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo 6 phép hoà kính, giữ gìn giới luật, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.
Các hàng Tăng chúng:
- Tì kheo: Hàng nam giới xuất gia giữ 250 giới.
- Tì kheo ni: Hàng nữ giới xuất gia giữ 350 giới.
TĂNG là NGÔI BÁU THỨ BA.
* QUY Y TAM BẢO là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.(Quy: trở về, Y: nương tựa)
- Trở về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời.
- Trở về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
- Trở về nương tựa Tăng, đoàn thể những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
* LỄ QUY Y:
” Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài. “
Những lời này được phát nguyện dưới sự chứng minh của vị thầy truyền giới. Vị này sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người quy y. Sau đó, người này được chính thức gọi là Phật tử.
Cần nhớ lễ quy y chỉ là hình tướng bên ngoài, chúng ta phải biết tự quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình. Phật nơi tự tâm là bản tánh sáng suốt, Pháp nơi tự tâm là bản tính từ bi, bình đẳng và Tăng nơi tự tâm là bản tánh thanh tịnh, hoà hợp. Dù đã phát nguyện quy y, người Phật tử không bao giờ cầu xin ân huệ mà chỉ tự nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để thanh lọc và thành tựu giải thoát. Phật dạy: “Con phải tinh cần nỗ lực, các Đức Như Lai chỉ là những vị thầy. “
Tư:
Biết được ý nghĩa của ba ngôi báu và quy y rồi, em phải làm sao để sống đúng theo truyền thống một Phật tử, là một người đã hướng về, nương tựa, sống theo Phật, Pháp, Tăng.
“Nhất giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai”
Lễ kính chư Phật sẽ được vô lượng công đức.
Mỗi người chúng ta đều có tính Phật hay khả năng tỉnh thức trong lòng. Vì vậy, ai cũng có thể trở thành người giác ngộ như Đức Phật. Tính Phật này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức thì chúng ta làm cho tính Phật trong ta sẽ đạt được tự do và an lạc hoàn toàn như Phật. Phật ở ngay trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta phải trở về tìm Phật ngay trong tâm ta. Đức Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.
Pháp của Đức Phật chỉ dạy cách thức TU- HÀNH, giữ giới luật để phát triển trí tuệ, hiểu biết chân lý của cuộc đời. Đức Phật dạy chúng ta phải tự cứu mình bằng cách làm theo phương pháp Phật chỉ dạy.
Muốn tu tập đạo giải thoát, ta phải nương tựa vào Tăng đoàn. Một mình đơn độc sẽ gặp nhiều khó khăn trong sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Người xuất gia cũng như người tại gia phải biết về nương tựa nơi Tăng để có thể đi xa trên con đường tu tập.
Tu:
Tin không chưa đủ, em phải tu nghĩa là tự sửa mình. Mặc dù Đức Phật nói “Chúng sanh là Phật sẽ thành” nhưng nếu không tu tập, hành trì giáo pháp thì mãi mãi, chữ “sẽ” chỉ là tương lai không vươn tới được.
Vậy sau khi Quy Y Tam Bảo, hằng ngày, ta phải năng lễ Phật, tu dưỡng bản thân để tiến tới làm người giác ngộ.
Tu dưỡng nghĩa là bồi dưỡng và chuyển đổi.
- Về tình cảm: chuyển đổi tham lam, giận hờn thành yêu thương và hoà thuận, đem vui cứu khổ.
- Về lý trí: chuyển đổi si mê, lầm lạc thành sáng suốt, hiểu biết chân chánh.
- Về ý chí: chuyển đổi hèn nhát, thụ động thành tinh tấn, hỷ xả và dũng cảm.
Làm vậy tức là em đã Quy y Tam Bảo một cách đúng đắn và tích cực. Song song với việc tu dưỡng bản thân, em phải noi gương Đức Phật và các vị Tăng, Ni, khuyến khích, giúp đỡ mọi người sống tốt, hướng thiện và hướng thượng.
Cuộc sống chỉ có thể tốt đẹp khi tập thể chúng ta tốt đẹp. Một con én không làm nên được mùa xuân nên ta phải quan tâm đến mọi người, cùng nhau tu dưỡng thì xã hội sẽ tốt đẹp vì đó là tập thể những người tốt. Từ đó, cuộc sống riêng và chung sẽ được an lành, hạnh phúc.
IV.CÂU HỎI:
- Định nghĩa ba ngôi báu?
- Thế nào gọi là Quy y Tam Bảo?
- Tại sao muốn có an lạc và hạnh phúc phải tu dưỡng bản thân và giúp đỡ mọi người cùng tu? Cho ví dụ cụ thể?
- Làm sao biết được Phật là bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
- Em hiểu thế nào là sự quy y và lý quy y?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Quy y Tam Bảo
Dành cho trại sinh Tuyết Sơn
- Trại sinh là Oanh Vũ Đầu, Thứ Đàn nên chỉ cần nắm: Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng; quy y là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.
- Bài ở trên là tài liệu của ngành Thiếu, anh chị Huấn luyện viên chọn ý chính, giảng gọn cho phù hợp lứa tuổi.
2Niệm Phật – Ăn chay
Em niệm Phật
Chuẩn bị:
Khung cảnh: Chánh điện hay trước tượng Phật ở sân chùa.
Giờ học:
1. Chuyện kể gợi ý:
Có thể kể câu chuyện khác cùng chủ đề.
Năm 1971, trên một chuyến tàu lớn đưa các đơn vị GĐPT Gia Định đi thăm Cần Giờ, do bị sóng nhồi, một rồi hai em thiếu nữ bị ngộp thở, khó chịu, Huynh trưởng phụ trách y tế đã theo canô cấp cứu đưa hai em về Bện viện Sài Gòn. Không khí trên tàu lặng đi, anh Trại trưởng truyền lệnh cho các đơn vị quan tâm đến tình hình sức khỏe của trại sinh và dành 10 phút để niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát. Niềm tin giúp mọi người quan tâm, tránh được sự hoảng loạn.
2. Em suy nghĩ:
- Vì sao gặp chuyện nguy hiểm khẩn cấp, Phật tử lại niệm danh hiệu ngài Quan Thế Âm? Niệm danh hiệu Phật có được hay không?
- Em hiểu niệm Phật là gì?
- Thực hành điều thứ nhất có liên quan gì đến việc em niệm Phật?
- Niệm Phật cần phải như thế nào?
- Có mấy cách niệm Phật?
- Niệm Phật được lợi ích gì?
3. Em cần nhớ:
Niệm Phật là tưởng nhớ đến danh hiệu Phật, hình dung các tướng tốt, công hạnh và lời dạy của chư Phật, chư Bồ tát để cố gắng noi theo tu học.
Khi niệm Phật lòng em phải tập trung tưởng nhớ chư Phật, không nghĩ đến bất cứ điều gì ác.
Niệm Phật có nhiều cách. Có thể niệm lớn, niệm thầm, niệm bằng cách tưởng nhớ … Hai cách căn bản là mật niệm (niệm thầm) và tụng niệm (niệm lớn như lúc tụng kinh, lễ Phật).
Chăm chỉ niệm Phật lòng em lằng dịu, được gần Phật, xa việc ác làm việc lành, quên buồn chán đau khổ và tìm được an vui, lợi ích cho mình, cho người.
Em niệm Phật còn tạo được phước lành về sau.
4. Em th ực hành:
- Thành kính lúc niệm Phật.
- Niệm Phật trước khi đi ngũ.
“Em chăm niệm Phật hàng ngày
Tránh xa điều ác, vui say việc lành”.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Em ăn chay

Chuẩn bị:
- Sách dạy nấu ăn (có thể là những bài báo, sách nói về lợi ích việc ăn ngũ cốc, không có ăn thịt cá …).
- Kinh phổ thông có bản ghi những ngày trai (nhị trai, tứ trai, lục trai, thập trai …).
Giờ học:
1. Em suy nghĩ:
- Ăn chay là ăn những món gì?
- Ăn chay có đầy đủ chất bổ dưỡng, có lợi ích cho sức khỏe không? Tại sao?
- Vì sao đạo Phật dạy chúng ta ăn chay?
2. Em cần nhớ:
Ăn chay là ăn rau, quả, đậu, mè … mà không ăn thịt, cá, trừng …
Ăn chay rất hợp vệ sinh, đầy đủ chất bổ dưỡng lại dễ tiêu. Giúp thân thể khỏe mạnh, tránh bệnh tật, trí óc sáng suốt.
Theo lời Phật dạy, người ăn chay tránh được tội sát sanh, tránh được quả báo, thể hiện được tình yêu thương muôn loài, bớt tính hung ác, trở nên hiền lành và được hiểu người yêu mến.
3. Em th ực hành:
Em nguyện ăn chay mỗi tháng vào các ngày rằm, mùng một, các ngày vía Phật, Bồ tát.
Lâu dần em tiến đến tứ trai, lục trai, thập trai, trai kỳ, …
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tác phong3 bài
1Tư cách và nhiệm vụ Đầu, Thứ Đàn
Tham khảo thêm
Tư cách Đầu, Thứ Đàn
- Giữ đúng 3 điều luật của Oanh Vũ, làm gương cho các bạn trong Đàn.
- Siêng năng, đi sinh hoạt đều và đúng giờ.
- Vui vẻ, hòa nhã, thương yêu và giúp đỡ các bạn.
- Vâng lời và lễ phép với anh chị trưởng.
Nhiệm vụ Đầu Đàn
- Điều khiển Đàn trong giờ sinh hoạt: tập họp, điểm danh, giữ trật tự.
- Nhắc nhở, giúp đỡ các bạn học bài, làm việc thiện.
- Giữ sổ của Đàn, báo cáo với anh chị trưởng.
- Thay mặt Đàn nhận và chuyển lời của anh chị trưởng.
Nhiệm vụ Thứ Đàn
- Giúp Đầu Đàn trong mọi việc của Đàn.
- Thay Đầu Đàn khi Đầu Đàn vắng mặt.
Gợi ý hoạt động
- Thảo luận theo Đàn: một Đầu Đàn tốt cần có những đức tính nào? Mỗi Đàn trình bày.
2Bổn phận Đầu, Thứ Đàn đối với gia đình, học đường, xã hội
Tham khảo thêm
Đối với gia đình
- Hiếu thảo, vâng lời ông bà, cha mẹ; thương yêu, làm gương cho em nhỏ.
Đối với học đường
- Chăm học, lễ phép với thầy cô, hòa thuận với bạn bè; làm gương cho các bạn Oanh Vũ cùng trường.
Đối với xã hội
- Lễ phép với người lớn, giúp đỡ người già, người yếu; giữ gìn môi trường; chấp hành luật đi đường.
Gợi ý hoạt động
- Mỗi trại sinh nêu một việc cụ thể mình sẽ làm ở gia đình, ở trường và ngoài xã hội sau khi về trại.
3Chào kính
Em chào kính
Chuẩn bị
- Hướng dẫn các em đến chào quý thầy (cô) trong chùa.
- Cho các em quan sát các Huynh trưởng chào nhau.
Giờ học
Em suy nghĩ
- Ở trường học, trong nhà, gặp người lớn, em chào như thế nào?
- Đến chùa gặp quý thầy (cô) em chào như thế nào?
- Khi mặc đồng phục GĐPT, chúng ta chào nhau theo cách nào? Vì sao chúng ta phải chào nhau?
- Cách chào GĐPT có ý nghĩa gì?
Em cần biết
- Gặp người lớn, em phải cất mũ (nón), cúi đầu hoặc khoanh tay chào.
- Gặp quý tăng ni, Phật tử em chắp tay chào.
- GĐPT dùng lối chào khi mặc đồng phục là bắt ấn tam muội (ngón cái đè lên ngón áp út của bàn tay phải, 3 ngón còn lại thẳng, để ngang vai).
- Cách chào biểu lộ tinh thần thân thiện, kỷ luật và sự hòa hợp. Cách chào theo ấn tam muội nhắc ta lắng lòng cho trong sạch, nhớ lời Phật dạy lánh dữ làm lành.
Em thực hành
Em phải chào đúng lúc và đúng cách. Gặp người lớn, người nhỏ phải chào trước. Người nhỏ sẽ xả ấn tam muội sau người lớn khi chào theo cách của GĐPT.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Mở Mắt do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ý nghĩa – Cách thức chào kính trong GĐPT.
Văn:
Gia Đình Phật Tử cũng như các tổ chức khác có cách chào riêng, khi mặc sắc phục, để tò lòng thân thiện, biểu lộ sự hoà hợp, nhắc nhau tinh tấn tu học, biết kinh trên nhường dưới, và chứng tỏ tinh thần kỷ luật của Gia Đình Phật Tử.
Khi mặc đồng phục, ta chào bằng cách bắt ấn Tam Muội (cũng gọi là ấn Cát Tường, ấn Chánh Định – ngón cái: tâm; ngón trỏ: thân; ngón cái ấn trên ngón trỏ ý chỉ thân tâm không hai).
Khi chào đứng nghiêm, mặt hướng vào người mình chào, tay phải gập lại, cánh tay song song với thân người, lòng bàn tay hướng về phía trước, cùi chỏ gần sát thân người và ngang bằng với tầm lưng (đừng đưa quá ra phía sau hay phía trước), các ngón tay khép vào nhau, ngón tay cái đè lên ngón tay đeo nhẫn, tay trái xuôi theo người.
Ấn Tam Muội có mục đích làm cho lòng mình lắng lại, chú tâm không tán loạn, phóng ra sự an lành (Cát Tường). Vậy chào theo lối bắt ấn Tam Muội là nhắc nhở chúng ta lắng lòng hướng về việc lành, tin theo đức Phật, tin vào chánh Pháp, chúc tốt lành cho nhau. Chính đức Phật thường dùng ấn này để phóng hào quang cứu độ chúng sanh.
Tư:
Chào kính là những quy ước xã hội mang tính văn hoá, nhân bản nhằm thăng tiến cuộc sống tinh thần của con người nên thông thường:
- Người nhỏ chào người lớn trước.
- Khi đi trong hàng, gặp Thầy hay anh chị trưởng, chỉ người hướng dẫn chào mà thôi.
- Khi gặp đám tang, tất cả đều chào.
- Khi đón chào quan khách, hô khẩu hiệu tất cả chào một lần.
- Khi chào cờ sen trắng, hô khẩu hiệu (tiếng reo) chào xong, đứng nghiêm hát bài ca chính thức Sen Trắng.
- Khi gặp quý Tăng Ni thì chắp tay như búp sen ngang ngực cúi đầu chào, khi gặp quý Bác (đạo hữu) cũng vậy.
- Khi đi ngang qua nơi tôn nghiêm (chùa, đền thờ…) thì yên lặng để tỏ lòng thành kính.
- Khi mặc thường phục: cất nón, cúi đầu, vái chào tuỳ theo trường hợp.
Tu:
Là đoàn sinh GĐPT, em luôn luôn nêu cao tinh thần kỷ luật, danh dự của đoàn thể:
- Gặp Tăng, Ni, em chắp tay như búp sen để ngang ngực cúi đầu chào.
- Gặp các anh, chị và bạn đoàn (có đoàn phục), tay bắt ấn Tam Muội (Cát Tường) để tỏ ý vui mừng, nhắc nhở nhau tinh tấn tu học.
- Những lúc đi ngang qua nơi tôn nghiêm nên im lặng, không cười nói múa may, tỏ lòng tôn kính.
- Khi vào nơi tôn nghiêm, xuống xe dẫn bộ để tỏ lòng tôn kính, lịch sự.
Câu hỏi:
- Vì sao chúng ta phải chào nhau?
- Lúc mặc đồng phục chúng ta phải chào nhau như thế nào?
- Chào theo lối bắt ấn Tam Muội có mục đích gì?
- Lúc nào tất cả cùng chào?
- Lúc mặc thường phục chào nhau như thế nào?
- Khi có dịp cùng với đoàn đi ngang qua tiền đình chùa, nhà thờ, đình em phải như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tổ chức2 bài
1Hệ thống tổ chức Đoàn Oanh Vũ và Đàn kiểu mẫu
Tham khảo thêm
Hệ thống tổ chức
- Đoàn Oanh Vũ (nam hoặc nữ) do Đoàn trưởng, Đoàn phó và các Huynh trưởng phụ trách điều khiển.
- Đoàn chia thành các Đàn. Theo chương trình tu chính, mỗi Đàn có từ 4 đến 6 đàn sinh, kể cả Đầu Đàn và Thứ Đàn; không có Đầu Đàn nhất.
- Tên các Đàn ngành Đồng: Vàng – Trắng – Nâu – Lam; tiếng reo: Hòa, Thuận, Tin, Vui.
Đàn kiểu mẫu
- Đàn đi sinh hoạt đầy đủ, đúng giờ, đồng phục chỉnh tề.
- Đàn có sổ sách, góc Đàn, cờ Đàn gọn gàng.
- Các đàn sinh thương yêu, giúp đỡ nhau, học bài và thi vượt bậc tốt.
- Đàn tự điều khiển được các sinh hoạt nhỏ dưới sự hướng dẫn của Đầu, Thứ Đàn.
Lưu ý
- Chi tiết tổ chức theo Nội quy GĐPT Việt Nam và hướng dẫn của Ban Hướng Dẫn địa phương.
2Sổ tay Đầu Đàn, sổ điểm danh, sổ sinh hoạt, sổ Hiếu
Tham khảo thêm
Sổ tay Đầu Đàn
- Ghi tên, ngày sinh, địa chỉ, số điện thoại gia đình của các bạn trong Đàn; các bài hát, trò chơi, gút, dấu đi đường của Đàn.
Sổ điểm danh
- Mỗi buổi sinh hoạt, ghi có mặt, vắng có phép, vắng không phép của từng bạn.
Sổ sinh hoạt
- Ghi ngày, nội dung buổi sinh hoạt, bài đã học, việc Đàn đã làm và nhận xét của anh chị trưởng.
Sổ Hiếu
- Mỗi đàn sinh ghi những việc làm hiếu thảo hằng ngày; Đầu Đàn nhắc các bạn ghi và đưa anh chị trưởng xem.
Gợi ý hoạt động
- Mỗi trại sinh tự làm và trang trí một sổ tay Đầu Đàn trong trại.
Điều khiển7 bài
1Hình thức và hiệu lệnh tập họp
Tham khảo thêm
Các hình thức tập họp thường dùng cho Đàn, Đoàn
- Hàng dọc: mỗi Đàn một hàng, Đầu Đàn đứng đầu, Thứ Đàn đứng cuối.
- Hàng ngang: các bạn đứng thành một hàng bên cạnh nhau.
- Vòng tròn, nửa vòng tròn (hình chữ U): dùng khi học bài, kể chuyện, chơi trò chơi.
Hiệu lệnh
- Hiệu lệnh bằng tay và bằng còi do Ban Huynh trưởng quy định theo tài liệu huấn luyện của Ban Hướng Dẫn.
- Khi nghe hiệu lệnh, Đầu Đàn dẫn Đàn chạy nhanh, im lặng vào đúng vị trí, đứng nghiêm chờ lệnh.
Gợi ý hoạt động
- Tập luyện nhiều lần: Huynh trưởng ra hiệu lệnh bất ngờ trong ngày trại, các Đàn thi tập họp nhanh và đúng.
2Tập xây tổ Đàn và dựng lều
Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.
A. lều trại:
1. Chuẩn bị:
- Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
- 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
- 1 dây nóc.
- Búa, cuốc.
2. Thực hiên:
a. Chọn vị trí và hướng trại:
Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.
Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).
b. Dựng trại:
- 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
- Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
- 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.
Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.
Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

B. xây tổ đàn:
Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.
Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.
Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.
Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…
1. Chuẩn bị:
- Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
- Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
- Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
- 1 tấm tăng lót trải.
2. Thực hiện:
Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.
Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.
Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).


Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
3Cấp cứu: cầm máu và sát trùng vết thương, băng bó vết thương bằng khăn tay
Cấp cứu – Băng bàn tay – Bàn chân bằng khăn tay

1. Khái niệm:
Cấp cứu là săn sóc tạm thời vết thương dễ chờ nạn nhân đi bác sĩ hoặc bệnh viện. Việc cấp cứu có tính cách cấp tốc, rất cần thiết và quan trọng, đòi hỏi sự bình tĩnh, nhẹ nhàng cẩn thận.
2. Cách dùng thuốc khử trùng:
Dùng Oxy già, thuốc đỏ với vết thương nhẹ. Dùng Alcol với vết thương sâu hơn. Dùng 1 ít bông gòn y tế nhúng thuốc bôi lên vết thương một cách nhe nhàng, từ trong vết thương ra ngoài.
3. Băng bằng khăn tay:
Khăn phải sạch, xếp chéo thành hình tam giác, đặt chỗ bị thương vào giữa khăn, không để bi cấn đau, đầu nhọn để ở phần ngón tay, xếp phân đầu nhọn vào, hai góc khăn còn lại xếp vào và vòng qua cổ tay, buộc lai bằng gút dẹp.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:
Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.
2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):
Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.
3. Cách dùng thuốc đỏ:
Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …
Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.
4. Băng bàn tay bằng khăn tay:
Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.
5. Băng bàn chân bằng khăn tay:
Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

6. Băng đầu:
Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Cấp cứu: cầm máu, sát trùng, băng bó bằng khăn tay
Cầm máu vết thương nhỏ
- Rửa tay sạch, dùng gạc hoặc khăn sạch ấn nhẹ lên vết thương vài phút cho đến khi máu ngừng chảy.
- Nâng phần bị thương cao hơn tim nếu được.
- Vết thương chảy nhiều máu, sâu, hay do vật bẩn gây ra: báo ngay Huynh trưởng, đưa đến cơ sở y tế.
4Đầu Đàn với trò chơi
Trò chơi

- Điều khiển trò chơi nhỏ cho cả đoàn.
- Sổ tay trò chơi.
I. Điểu khiển trò chơi:
1. Muc đích:
Trò chơi là một phương pháp giáo dục linh hoạt hữu hiệu nhất đối với lứa tuổi thanh thiếu nhi, nhằm mục đích:
- Luyện giác quan.
- Phát triển thân thể.
- Luyện đức tính tốt.
- Biết tâm lý trẻ.
- Vui, sống động sau những giờ mệt mỗi.
2. Các loại trò chơi:
- Trò chơi luyện chuyên môn
- Trò chơi luyện thân thể.
- Trò chơi luyện đức tính
- Trò chơi luyện giác quan.
Trong các trò chơi này, chúng ta tuỳ theo hoàn cảnh, địa điểm mà tổ chức trò chơi.
3. Điều khiển trò chơi:
Khi chưa quen điều khiển, các em có thể tập bằng cách cho một trò chơi quen thuộc nhưng thay đổi vài chi tiết để trò chơi hứng thú hơn, sau đó em tập điều khiển những trò chơi mới.
Điều nên nhớ là trò chơi phải được vạch tuần tự theo các việc sau đây:
a. Chuẩn bị:
Chọn trò chơi: Trò chơi phải thích hợp với mục đích, vừa sức, thời gian không quá 10 phút. Có thể nên chọn hai trò chơi cùng một lúc (một dùng trong nhà, một dùng ngoài trời) để tránh trường hợp thời tiết thay đổi bất ngờ.
b. Dụng cụ:
Những dụng cụ cần thiết cho một trò chơi phải được chuẩn bị đầy đủ (thí dụ: khăn tay, cờ, còi, sỏi ….)
c. Địa điểm:
Là yếu tố quyết định thành công của trò chơi. Địa điểm bằng phẳng, có bóng mát, đất cát càng tốt.
d. Điều khiển:
- Giải thích thật rõ ràng nguyên tắc và mục đích trò chơi. Nếu được, nên kể thành một câu chuyện lý thú.
- Phổ biến luật chơi cho toàn thể thấu hiểu.
- Giới thiệu thành phần giám sát trò chơi.
- Khi thấy trò chơi cần phải linh động hơn, nên cho vừa hát vừa chơi.
- Nhận xét khả năng từng người.
- Chấm dứt trò chơi khi đàn hay đoàn vui nhất để gây dự luyến tiếc, lần sau thích hơn.
- Trò chơi không nên quá 10 phút.
e. Chấm dứt trò chơi:
- Tuyên bố kẻ thắng (reo hò, bài hát, …)
- Nhận xét, khuyến khích các bạn kém.
II. Sổ ghi trò chơi:
Sổ ghi trò chơi có thể làm riêng bằng một quyển sổ cỡ bỏ túi, hay ghi chung vài sổ ghi bài hát của mỗi em.
Mục đích của sổ ghi trò chơi là để ghi hay soạn trước những trò chơi em đã thu thập được để khi cần đem ra sử dụng (điều khiển Đoàn hay Đàn chơi).
Mỗi trò chơi em nên ghi riêng và sau đó để thêm một khoảng trống để sau này ghi thêm phần ưu, khuyết điểm bổ túc thêm.
Khi ghi một trò chơi, em nên ghi nhớ các điều sau đây:
- Tên trò chơi.
- Mục đích.
- Chuyện kể (nếu có càng tốt và nên dùng).
- Câu chuyện nên có tính cách Phật giáo để Phật hóa trò chơi.
- Số người chơi, địa điểm, dụng cụ.
- Cách chơi và luật chơi.
Muốn điều khiển đoàn hay đàn, chơi có kết quả và nhất là luyện cho mình sự dạn dĩ, tập điều khiển tạo được hứng thú, hăng say cho người chơi. Sau mỗi lần chơi nhớ ghi thêm vào các khuyết điểm cần bổ túc để lần sau chơi vui hơn.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Trò chơi luyện trí lực

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548)
1. Ra khỏi luân hồi:
- Số người, sân chơi: tùy nghi.
- Chuẩn bị: Bảng, phấn, giẻ lau.
- Cách chơi:
Trước mặt các em, trên bảng đã vẽ 3 hình: sao, tròn, vuông. Cho các em quan sát và suy tính cách vẽ I nét được cả 3 hình mà không cần phải nhấc bút (phấn) lên. Mỗi em chỉ vẽ được 1 lần. Nếu chơi theo nhóm sẽ tính nhóm nào vẽ đủ hình nhanh nhất là nhóm thắng.
Có thể chọn hình khác tùy trưởng
2. Đếm số:
- Số người, sân chơi: tùy nghi.
- Chuẩn bị: Người chơi đứng hoặc ngồi theo vòng tròn.
- Cách chơi:
Tất cả giơ 2 tay ra phía trước, quản trò đứng giữa vòng, hô to 1 con số (từ 1 đến 10), các em lập tức xòe các ngón tay ở 2 bàn ra, sao cho tổng các ngón tay xòe ra phù hợp với số quản trò đã hô. Ai làm sai hoặc chậm đều bị phạt. Quản trò có thể hô nhanh để trò chơi thêm hào hứng.
3. Năm hạnh:
- Số lượng:
Tùy nghi nhưng chia thành 5 đội, mỗi đội mang tên 1 trong 5 hạnh: trí tuệ, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn. từ bi. Những em lẽ sẽ làm phụ tá cho quản trò để phát hiện em chơi sai.
- Sân chơi:
Rộng đủ đứng thành vòng tròn và vẽ được 5 vòng nhỏ, chứa được số em mỗi nhóm.
- Cách chơi:
Tất cả đứng thành vòng tròn, trước mặt mỗi nhóm là 1 vòng tròn nhỏ. Quản trò đứng giữa, yêu cầu vòng tròn bắt bài hát, vỗ tay và đi theo nhịp (theo vòng chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại tùy quản trò). Nghe tiếng còi, mỗi nhóm nhanh chóng tìm về vòng tròn của nhóm. Nhóm thua là nhóm về sau cùng hoặc để em khác nhóm vào nhầm mà không phát hiện và mời ra.
Thỉnh thoảng người quản trò đổi tên nhóm để các em phải tập trung sự chú ý, tránh sự nhàm chán do quá quen.
Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 ) 1. Ra khỏi luân hồi : – Số người, sân chơi : tùy nghi. – Chuẩn bị : Bảng, phấn, giẻ lau. – Cách chơi : Trước mặt các em, trên bảng đã vẽ 3 hình : sao, tròn, vuông. Cho các em quan sát và suy tính cách vẽ I nét được cả 3 hình mà không cần phải nhấc bút ( phấn ) lên. Mỗi em chỉ vẽ được 1 lần. Nếu chơi theo nhóm sẽ tính nhóm nào vẽ đủ hình nhanh nhất là nhóm thắng. Có thể chọn hình khác tùy trưởng 2. Đếm số : – Số người, sân chơi : tùy nghi. – Chuẩn bị : Người chơi đứng hoặc ngồi theo vòng tròn. – Cách chơi : Tất cả giơ 2 tay ra phía trước, quản trò đứng giữa vòng, hô to 1 con số ( từ 1 đến 10 ), các em lập tức xòe các ngón tay ở 2 bàn ra, sao cho tổng các ngón tay xòe ra phù hợp với số quản trò đã hô. Ai làm sai hoặc chậm đều bị phạt. Quản trò có thể hô nhanh để trò chơi thêm hào hứng. 3. Năm hạnh : – Số lượng : Tùy nghi nhưng chia thành 5 đội, mỗi đội mang tên 1 trong 5 hạnh : trí tuệ, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn. từ bi. Những em lẽ sẽ làm phụ tá cho quản trò để phát hiện em chơi sai. – Sân chơi : Rộng đủ đứng thành vòng tròn và vẽ được 5 vòng nhỏ, chứa được số em mỗi nhóm. – Cách chơi : Tất cả đứng thành vòng tròn, trước mặt mỗi nhóm là 1 vòng tròn nhỏ. Quản trò đứng giữa, yêu cầu vòng tròn bắt bài hát, vỗ tay và đi theo nhịp ( theo vòng chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại tùy quản trò ). Nghe tiếng còi, mỗi nhóm nhanh chóng tìm về vòng tròn của nhóm. Nhóm thua là nhóm về sau cùng hoặc để em khác nhóm vào nhầm mà không phát hiện và mời ra. Thỉnh thoảng người quản trò đổi tên nhóm để các em phải tập trung sự chú ý, tránh sự nhàm chán do quá quen. Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5Tập hát cho Đàn

1. Em cần biết:
Có nhiều em mới, chưa thuộc các bài đã được tập rồi nên em có thể tập cho đàn hát để tất cả đều thuộc. Lúc tập hát cần chú ý những điểm sau:
- Hát cho các em nghe vài lần.
- Tập kỹ từng câu hai ba lần.
- Tập xong hai ba câu, cần hát lại một đoạn đã tập. Khi tập xong mỗi đoạn hay khi tập xong cả bài, cần chia thành từng nhóm nhỏ để hát thi, xem em nào hát sai thì tập lại kỹ hơn. Phải vui vẻ và kiên nhẫn.
- Khi Đàn đã hát đúng thì tập hát theo tiến vỗ tay, sau đó có thể tập thêm nhiều điệu bộ như các anh chị đã tập để bài hát vui hơn.
- Khi tập hát nên để Đàn nồi hay đứng hình chữ U để dễ kiểm soát. Nếu cần cho đứng, một thời gian cho ngồi thoải mái.
2. Em trả lời:
- Lúc tập cho 1 Đàn hát, em cần chú ý những điều gì?
- Đức tính em cần có khi dạy hát?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
6Vẽ huy hiệu Hoa sen

Chuẩn bị:
- Bút chì, compa, gôm, bảng, phấn.
- Hình Huy hiệu Hoa sen vẽ theo mẫu hướng dẫn đúng quy cách.
- Một số giấy trắng làm nháp tập cho các em vẽ.
Giờ học:
1. Hướng dẫn vẽ:
Huynh trưởng yêu cầu vẽ kích thước Huy hiệu, độ lớn nhỏ tuỳ yêu cầu, cơ sở căn cứ là đường kính vòng tròn huy hiệu.
Vừa vẽ, vừa giải thích cách vẽ (lưu ý vòng tròn vẽ 5 cánh trên bằng 2/3 vòng tròn lớn, vòng tròn vẽ cánh Phật gần bằng 1/3 vòng tròn lớn, cách vẽ đối xứng).
- Đường tròn tâm O đương kính AB
- O1A1 = 1/3AB
- A1A2 = A2A3
- O3B1 < 1/6AB
- Dây cung C1C2 thẳng góc với AB tai C (CO3 = O3B1)
2. Em suy nghĩ:
- Hoa sen có màu gì? Có bao nhiêu cánh?
- Huy hiệu hoa sen của GĐPT màu gì? Có bao nhiêu cánh.
- Màu cánh sen trắng có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của mỗi cánh?
- Màu nền xanh lá mạ tượng trưng cho điều gì?
- Hình tròn nói lên sự việc gì?
3. Em cần nhớ:
Hoa sen là loài hoa mọc trong bùn nhưng vẫn toả ngát hương thơm, không bị ô nhiễm. Hoa sen thường có 2 màu trắng và hồng, có nhiều cánh.
GĐPT chọn Hoa sen làm Huy hiệu. Hoa sen này có 8 cánh, có màu trắng trên nền xanh lá mạ.
Năm cánh trên tượng trưng cho 5 hạnh:
- Cánh giữa: Tinh tấn.
- Trái của cánh giữa: Xỷ xả.
- Trái của hỷ xã: Trí tuệ.
- Phải của cánh giữa: Thanh tịnh.
- Phải của thanh tinh: Từ bi.
Ba cánh dưới chỉ cho 3 ngôi báu:
- Cánh giữa: Phật.
- Cánh trái: Pháp.
- Cánh phải: Tăng.
Màu trắng: Sự trong sáng của trí tuệ và tinh khiết.
Màu xanh lá mạ: Tuổi trẻ đang vươn lên đầy hy vọng trong tương lai.
Hình tròn: tượng trưng cho sự viên dung vô ngại của đạo Phật.
4. Em thực hành:
- Vẽ Huy hiệu Hoa sen và điền tên của từng cánh.
- Tôn trọng và giữ gìn Huy hiệu Hoa sen.
(Tham khảo hướng dẫn vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh Trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện).

Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
7Kể chuyện cho Đàn

1. Em thể hiện:
Huynh trưởng yêu cầu 2 đoàn sinh kể lại chuyện đạo, chuyện tiền thân được nghe.
2. Em cần biết:
Kể chuyện cũng như đóng kịch, là làm thế nào cho người nghe có cảm tưởng như mình đang sống trong khung cảnh xảy ra câu chuyện. Giọng kể phải thay đổi theo tình tiết của câu chuyện, lúc buồn bui, lúc linh động, lúc giận hờn,…
Muốn kể chuyện có kết quả, nghĩa là người nghe thấu suốt câu chuyện và lấy làm thích thú, em cần chú ý các điểm chính sau đây:
- Tập kể chuyện và tập nói trước ở nhà để tránh bỡ ngỡ và rụt rè vì không quen nói trước đàm đông. Vào phòng riêng hay ra vườn vắng và kể một câu chuyện, cứ xem đồ vật trong phòng hay cây cối ngoài vườn là người quen. Chính lúc này để em tự giữ bình tĩnh cũng như sửa giọng nói, điệu bộ.
- Khi đứng trước bạn bè hay người quen, cũng giữ cảm tưởng như đang đứng trong vườn cây, đừng sợ sệt, cố giữ bình tĩnh giọng nói và điệu bộ.
- Khi kể chuyện phải đóng ngay từng vai ở trong chuyện. Lúc vui, lúc buồn, lúc căm hờn, lúc dịu hiền, … cốt làm cho người nghe thấy hứng thú và cảm nghĩ như đang đứng trước sự việc xảy ra.
- Giọng kể không mau, không chậm, nhất là tránh lối kể chuyện như đọc, luôn luôn theo dõi phản ứng của người nghe.
- Kết luận: nếu cần để cho người nghe đoán.
- Kết thúc: nếu cần, tóm tắt nhấn mạnh những điểm chính.
Tóm lại, muốn cho câu chuyện được như ý của người nghe, người kể phải đi từ tình tiết này đến tình tiết khác của câu chuyện, phải chuẩn bị hoàn hảo.
3. Em trả lời:
- Em có nhận xét gì về cách kể chuyện của mình và của các bạn?
- Các yếu tố nào giúp em thành công trong kể chuyện?
Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗