Tu học GĐPT

Huynh Trưởng · Bậc 13/16 trên lộ trình

Bậc Kiên

  • 1 năm
  • 26 bài
3 phần · 26 bài · 9 bài có nội dung

Nếp sống tinh thần10 bài

  1. 1Đại cương và mục đích Phật pháp

    A. đào luyện nếp sống tinh thần

    Đại Cương Phật Pháp

    1. Dẫn Nhập

    Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn nhận thấy các nguồn tư tưởng cũng như sự hiện diện của các tôn giáo đương thời đã không giải quyết được gì cho con người và xã hội. Ngài muốn đem giáo pháp mà Ngài đã chứng khai thị cho chúng sanh thoát khỏi khổ đau, đi đến an vui hạnh phúc thật sự. Nhưng giáo lý của Ngài quá thâm sâu, căn cơ chúng sanh cũng khó tiếp nhận, song rồi Ngài cũng quyết định hoằng hóa cứu độ chúng sanh.

    Đầu tiên Ngài đến rừng Lộc Uyển thuyết pháp cho 5 anh em ông Kiều Trần Như, trước đây Ngài đã có lần cùng tu với các vị này nhưng sau đó Ngài thấy cách tu ấy không thể nào đưa đến giải thoát khổ đau. Sau khi nghe pháp 5 anh em đều giác ngộ. Rồi suốt 49 năm không những Ngài đi khắp các miền Ấn Độ để thuyết pháp giáo hóa mà còn thuyết giảng cho hàng Chư Thiên nữa. Những lời chỉ dạy của Đức Phật đại cương như sau.

    2. Đại Cương Phật Pháp:

    Nói đến giáo lý (tức là Phật Pháp) thì rất là nhiều, đến 8 vạn bốn ngàn pháp môn. Vì đức Phật tại thế, Ngài tùy trình độ, tùy căn cơ của chúng sanh để thuyết giảng. Giáo lý ấy gồm 3 tạng kinh điển:

    Kinh (những lời đức Phật Thích Ca đã nói khi tại thế),
    • Luật (những giới luật mà Đức Phật chế ra cho các hàng Phật Tử xuất gia và tại gia tu tập),
    • Luận (do các đệ tử của Phật – các vị tổ – làm ra để bàn giải rõ ràng những nghĩa lý mầu nhiệm).

    Ba tạng kinh điển đó lại nằm trong hai Đại Tạng: Đại tạng Bắc tông (quen gọi là Đại Thừa) và Đại tạng Nam Tông.Về sau người ta còn phân ra Đại Thừa và Tiểu Thừa. Đại Thừa là cổ xe lớn chở được nhiều người. Tiểu Thừa là cổ xe nhỏ chỉ chở được một người. Sở dĩ chia ra như vậy vì căn cơ nguyện vọng của chúng sanh không đồng nhau. Những người nào nhận thấy mình chỉ đủ sức giải thoát riêng cho mình thì đi cổ xe nhỏ. Những người nào cảm thấy giải thoát cho mình mà còn có thể giải thoát, cứu độ cho nhiều người khác và có hạnh nguyện lợi tha thì dùng cổ xe lớn. Phật Pháp tuy nhiều như vậy nhưng chủ yếu là: cho ta thấy rõ sự khổ đau của cuộc đời, nhưng không phải để bi quan chán nản, thất vọng mà để tìm cho ra nguyên nhân khổ đau.

    Sau khi Phật Pháp đã cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau thì Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại. Nhưng không phải để van xin sự cứu rỗi của Thượng Đế hay một vị thần linh nào cho ta tới cảnh giới an vui mà Phật Pháp chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát. Không ai cứu rỗi được chúng ta mà phải tự mình cứu lấy mình. Biện pháp chính có tám điều (sẽ học kỹ trong bài Bát Chánh Đạo).

    Thuộc về nhận thức, về trí tuệ:
    • Hiểu biết đúng đắn.
    • Suy nghĩ đúng đắn.
    Thuộc về đạo đức, luân lý, về lời nói, việc làm:
    • Nói lời đúng đắn.
    • Hành động đúng đắn.
    • Làm ăn sinh sống đúng đắn.
    • Siêng năng,phấn đấu khắc phục khó khăn một cách đúng đắn.
    Thuộc về định tâm:
    • Chú ý, chú tâm tưởng niệm đúng đắn.
    • Tập trung tư tưởng đúng đắn.

    Tám cách, nói đúng hơn là con đường có tám ngành để đi đến an vui giải thoát, này có thể nhóm lại thành ba nhóm:

    • Giới: Đạo đức, luân lý, thực hành qua lời nói, hành động.
    • Định: Định tâm, thực hành qua phép quán tưởng thiền định.
    • Huệ: Nhận thức, trí tuệ.

    Ba nhóm này hổ tương lẫn nhau, có trí tuệ nhận thức đúng đắn mới thấy được giới luật là cần thiết, mới nghiêm trì giới luật. Có nghiêm trì giới luật thì tâm không buông lung, việc định tâm mới dễ dàng. Có định tâm thì trí tuệ mới phát chiếu (ví dụ: khi định tâm thì học bài mau thuộc dễ nhớ, còn khi để tâm buông lung thì học bài khó nhớ, lâu thuộc).

    Phật Pháp còn cho ta thấy rõ sự biến đổi vô thường của vạn vật (trong đó có cả con người): vô thường. Đạo Phật cũng nêu rõ vũ trụ quan: “Duyên khởi”. Mọi sự mọi vật, mọi hiện tượng (nói rộng ra là cả vũ trụ) đều do nhiều yếu tố tương quan với nhau mà thành chứ không thể tự nhiên mà có và cũng không phải do một ai sinh ra, nếu một nhân hay một duyên nào thay đổi thì sự vật, hiện tượng đó cũng thay đổi. Và một nhân sinh quan “Nghiệp báo con người không phải chết là hết mà là sự chuyển biến để rồi trở lại sống một kiếp khác. Sinh tử chỉ là giai đoạn chuyển biến của một chuổi dài luân hồi. Như thế, mọi hành động có ý thức (nghiệp) đều là nhân và là những gì ta nhận lấy trong kiếp sống của mình là quả và cứ thế nhân quả trùng trùng.

    Vậy cuộc đời chúng ta do nghiệp nhân của chúng ta tạo ra chứ không có một đấng thần linh nào ban ơn giáng họa. Muốn an vui ta không phải cầu xin mà có, mà ta phải tạo lấy những nghiệp nhân “Thiện” để hưởng quả lành. Chúng ta không bao giờ buông xuôi tay cho số phận, trái lại cuộc đời chúng ta do chúng ta quyết định (sẽ được học kỹ trong bài nhân quả Nghiệp Báo).

    3. Kết Luận:

    Qua bài này, chúng ta đã có cái nhìn tổng thể toàn bộ giáo lý của đạo Phật, nắm được những nét rất đại cương. Trong chương trình tu học của HT, chúng ta sẽ đi sâu vào từng vấn đề một để tìm hiểu tường tận hơn./.

    Câu hỏi:
    • Mục đích của Phật Pháp là gì?
    • Kể tên những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật tại vườn Nai.
    • Kinh là gì? Kể vài tên Kinh mà Anh / Chị đã đọc.
    • Tam tạng Kinh điển là gồm những gì?
    • Tại sao sau Phật Niết bàn, Tăng Đoàn chia thành hai phái Đại thừa (Đại Chúng bộ) và Tiểu thừa (Thượng Tọa bộ)?
    • Nghiệp là gì? Tại sao nói: “hạnh phúc hay đau khổ là ở trong tay ta”?
    • Phân biệt “biệt nghiệp” và “cộng nghiệp” – “y báo” và “chánh báo”
    • Định nghĩa “Vũ trụ quan” Câu nói: “vũ trụ quan của Phật giáo là Duyên khởi” là có ý nghĩa như thế nào? Anh / Chị hãy giải thích câu nói ấy với những ví dụ cụ thể để nói về vũ trụ quan của Phật giáo.
    • Giới là gì? Công dụng của Giới?
    • Theo ý kiến của Anh / Chị, bài học này đã đầy đủ chưa? Cần đưa thêm vào / bỏ bớt ra những vấn đề gì / những phần nào? Lý do?

    Mục Đích Phật Pháp

    Mục đích của GĐPT là đào tạo những phật tử chân chính và cải tạo đời sống theo tinh thần Phật giáo. Nhưng lấy gì để đào tạo? Dựa vào đâu để cải tạo? Là huynh trưởng, mang trách nhiệm giáo dục các em chúng ta phải nắm vững vấn đề này hơn ai hết. Dĩ nhiên là lấy Phật Pháp để đào tạo, dựa vào Phật pháp để cải tạo. Vậy chúng ta phải thông suốt mục đích của Phật pháp thì việc tu học của bản thân và giáo dục các em mới đúng hướng. Nhưng trước khi tìm hiểu mục đích của Phật Pháp ta cũng cần biết Phật Pháp từ đâu mà hình thành?

    1. Sự hình thành Phật Pháp:

    Phát xuất từ lòng thương vô biên của Thái tử Tất Đạt Đa, khi thấy chúng sanh quằn quại trong đau khổ, trong sự giành giựt cấu xé nhau để mưu cầu sự sống, trong đau đớn thảm khốc của già yếu bệnh tật, chết chóc. Tình thương rộng lớn ấy khiến thái tử phải suy tìm cho ra nguyên nhân khổ đau và phương pháp diệt trừ đau khổ. Qua thực nghiệm, tu hành, lòng từ bi càng mở rộng, công năng tu tập càng lớn lao vượt qua những cam go chướng ngại thì trí tuệ càng phát chiếu sáng ngời. Đến lúc thái tử tập trung tư tưởng, chuyên tu thiền định thì trí tuệ càng sáng chói tuyệt đối (gọi là trí tuệ Bát Nhã), nhìn rõ được nguyên nhân đau khổ và phương pháp diệt trừ nó. Tức là đã tu chứng giác ngộ, đạt quả vị Phật (sẽ được rõ hơn qua bài ‘Cuộc đời đức Phật’) Phật pháp được hình thành qua công năng tu chứng giác ngộ ấy. Vậy ta phải hiểu rằng: Đức Phật không phải là đấng thượng đế tối cao hay vị thần linh nào cả mà chỉ là một con người. Nhưng con người đã giác ngộ và giải thoát, nên vượt lên trên tất cả. Như vậy, đạo Phật không phải là đạo thần quyền thì người theo đạo Phật không phải cốt mong sự cứu rỗi. Do đó, lời dạy của đức Phật (Phật Pháp) không phải là những giáo điều bắt tín đồ phải tuân theo để được sung sướng, để được an vui như những tôn giáo khác mà Phật Pháp chỉ là những lời truyền đạt kinh nghiệm tu chứng của một con người đã hoàn toàn giác ngộ. Đức Phật đã mở rộng con đường tu tập cho mọi người. Ngài không đứng trên mây cao vút, tuyệt đối của an lạc mà nhìn chúng sanh quằn quại trong bể khổ trầm luân để rồi độc quyền ban phát những ân huệ. Đức Phật dìu dắt chúng sanh lên đỉnh cao của an lạc ấy, để ai cũng trở thành Phật cả (nếu biết theo đúng lời dạy của Ngài). Đức Phật đã từng nói trong những lúc thuyết pháp: “Ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành”.

    2. Phật pháp có phải là một hệ thống học thuyết không?

    Phật pháp cũng là một hệ thống học thuyết. Nhưng như đã nhận định trên thì ta có thể khẳng định rằng: Phật pháp khác hẳn các học thuyết cổ kim, cả về căn bản lẫn danh từ và văn tự. Cho nên chớ đem từ ngữ học thuyết khác mà thay cho Phật Pháp.

    3. Sau khi Phật Pháp đã cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau thì Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại. Nhưng không phải để van xin sự cứu rỗi của Thượng Đế hay một vị thần linh nào cho ta tới cảnh giới an vui mà Phật Pháp chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát. Không ai cứu rỗi được chúng ta mà phải tự mình cứu lấy mình.

    4. Mục đích của Phật Pháp:

    Trong bài trước chúng ta hiểu đại cương Phật Pháp, đến đây chúng ta lại thấy được sự hình thành Phật Pháp thì chúng ta cũng thấy mục đích của Phật Pháp là đưa con người từ khổ đau đến an vui, từ mê lầm đến giác ngộ, từ chỗ trói buộc phiền não đến chỗ giải thoát tự tại. Nếu nhận định đúng cuộc đời là vô thường biến dịch không ngừng, là khổ đau chồng chất, vì vô minh mê lầm, cái “Ta” cũng không tồn tại, là uế nhiễm, là vọng động, (Bài Đại Cương Phật Pháp) thì mục đích của Phật Pháp là:

    • a. Đưa chúng ta đến “chơn thường”. Người tu hành để đạt đến quả vị là không bao giờ bị luật vô thường chi phối. (sẽ được học kỹ ở các bậc sau).
    • b. Đưa chúng ta tới “chơn lạc”, sự an vui trọn vẹn và bất tận.
    • c. Đưa chúng ta tới “chơn ngã”. Người tu hành được giải thoát hoàn toàn ra khỏi những trói buộc, làm cho con người đày đủ năng lực để thực hiện ý nguyện tốt đẹp của mình.
    • d. Đưa chúng ta tới “chơn tịnh”.

    Người tu hành gạn lọc được bao nhiêu ô trọc của cuộc đời để sống một cuộc sống trong trắng tinh khiết không vướng chút bợn nhơ của trần tục, được an nhiên tự tại. Nếu nhìn sự tác dụng thực tiễn mà nói, thì Phật Pháp với căn bản Từ Bi, làm cho nhân loại yêu thương nhau hơn. Nhờ ánh sáng trí tuệ, làm cho nhân loại bớt si mê lầm lạc. Thấy được đâu là giá trị thật, đâu là lừa dối. Nhờ tinh thần bình đẳng tuyệt đối của đạo Phật, Phật Pháp san bằng những bất công của xã hội, của nhân loại, và làm cho cảnh giới Ta Bà được hòa vui trong tình nhân loại đại đồng. Nếu nói cô đọng lại thì mục đích Phật Pháp là diệt trừ tham dục vì tham dục là cội gốc chính của đau khổ mê lầm. Kinh Dhammapada (Pháp Cú) có nói: “những người say đắm theo dục, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự buộc ràng, không còn dính mắc nữa thì sẽ xa mọi tiếng khổ để ngao du tự tại.” (câu 347) Nói tóm lại, mục đích của Phật Pháp là đưa Đạo vào Đời “khai thị chúng sanh” để chúng sanh được “ngộ nhập Phật tri kiến”.

    5. Học Phật Pháp như thế nào? Đã rõ mục đích của Phật Pháp thì ta nên học Phật Pháp như thế nào?

    • Người Phật tử đã có ý thức được đạo Phật là đạo của Từ Bi, đạo giải thoát những con người đau khổ mà không trông chờ một sự cứu rỗi nào thì chúng ta học Phật Pháp với tâm niệm mong tìm hạnh phúc riêng mình, cầu sự an ổn cho mình, giải quyết cái chết cho mình … là hoàn toàn trái với Phật Pháp. Ta không nên chỉ nghỉ đến lợi ích riêng mà còn phải nghĩ đến những ngườI, những chúng sanh đang đau khổ xung quanh mình (chúng ta thường nguyện trước bàn thờ; “Từ Bi gia hộ cho chúng đệ tử tâm Bồ Đề vững chắc, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cùng chúng sanh trong Pháp giới tội chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, một thời đồng chứng Vô Thượng chánh đẳng, chánh giác”).
    • Là Phật tử, chúng ta phải học Phật Pháp không chỉ bằng lý thuyết mà còn học qua đời sống, qua đức hạnh, qua hành động của đức Phật nữa.
    • Học Phật Pháp không phải là học suông, học phải suy nghĩ để hiểu rốt ráo. Hiểu để thực hành thấu đáo và tự mình tu chứng.

    Một điều cần thiết nữa, như ta đã biết, Phật Pháp khác hẳn với các học thuyết khác, vậy đừng nên lệ thuộc vào từ ngữ mà ta thường gặp để hiểu Phật Pháp một cách nông cạn, hoặc hiểu Pháp qua học thuyết khác. Chẳng hạn như chữ “Nghiệp” cũng tương đồng với chữ “động tác” nhưng chữ động tác không thể mang cái nghĩa hành động có ý chí, có tính cách chữ “nghiệp”. Chữ “quán đãi”, nếu chỉ hiểu qua thì ai cũng tưởng tương đồng như chữ “đối đãi” nhưng sự đối đãi chỉ là do ý niệm. Chữ “thị hiện” trong đạo Phật cũng khác xa chữ “giáng sanh” của các tôn giáo khác. Chữ “Tự Giác”, “Giác Ngộ” mà chúng ta thường dùng ngoài đời với chữ “tự giác”, “giác ngộ”, trong đạo Phật cũng khác nhau xa. Còn những chữ “vọng động”, “chơn như” v.v... Thì phải đi sâu vào Phật Pháp mới hiểu đúng đắn được. Vậy ta phải hiểu đúng đắn từ ngữ Phật giáo để hiểu vấn đề không sai lệch.

    Câu Hỏi:
    • Phật Pháp là gì? Phật Pháp có phải là một hệ thống học thuyết như những học thuyết khác không? Điểm khác biệt giữa Phật Pháp và các học thuyết khác?
    • Đại Cương Phật Pháp gồm những vấn đề gì? Hãy trình bày.
    • Mục Đích Phật Pháp là gì?
    • Có người nói: Phật Pháp là pháp ly dục, có đúng không? (dùng kiến thức đã học để chứng minh)
    • Người HT học Phật Pháp như thế nào?
    • Như ta đã biết, Phật dạy: “đời là khổ, mọi sự vật hiện tượng đều vô thường, cảm thọ là khổ”. Thế nhưng hôm nay chúng ta lại được biết “thường, lạc, ngã,tịnh” (phần 3 của bài). Như vậy Anh/Chị có nghĩ là có chỗ mâu thuẩn trong Phật Pháp hay không? tại sao?
    • Tương tự, đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Mặt khác, Ngài cũng nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Thiền sư Bankei lại thêm: “Phật tánh ở nơi đức Phật không tốt hơn cũng không xấu hơn Phật tánh ở mỗi chúng sanh”. Theo Anh/Chị hai điều này có mâu thuẩn nhau không? hãy giải thích.

    Quy Y Tam Bảo ^ Mục Lục

    A. Dẫn nhập: Một đứa con khờ dại hư đốn lìa bỏ cha mẹ đi hoang, sống đời phiêu bạt lang thang. Một phút giây nào đó, hồi tỉnh muốn quay về sống trong sự ấp ủ yêu thương của cha mẹ. Sự quay về này chính là thái độ tỉnh giác, dứt khoát làm lại cuộc đời, một cuộc đời tươi sáng trong tình thương và sự dìu dắt của cha mẹ. Tất cả chúng ta cũng là những đứa con phiêu lãng ấy, lâu nay chưa nhận ra được sự khờ dại của mình, mãi miết lang thang, đắm chìm trong chốn khổ đau. Biết chăng có người hằng thương yêu chúng ta, hằng mong mỗi đưa chúng ta đi trên con đường tươi sáng không vướng bận phiền não đau thương. Phút chốc, tỉnh giác muốn trở về với NGƯỜI, hoặc có kẻ thức tỉnh chúng ta để chúng ta quay về nương tựa NGƯỜI. Đó chính là sự QUY Y.

    B. Chánh đề: I. Quy y:
    • Thế nào là quy y? Quy là trở về, Y là nương tựa. Quy y là trở về nương tựa.
    • Quay về nương tựa đâu? Quay về với cội nguồn của mình. Quay về với người hằng yêu thương mình, yêu thương tất cả chúng sanh, muốn dẫn dắt chúng sanh đi vào con đường tươi sáng, hạnh phúc.
    • Vì sao chúng ta phải quay về? Chúng ta sống đầy mê mờ, dục vọng; đang lặn hụp trong chốn bùn nhơ, trôi lăn trong đau thương phiền não. Mà bản thể chúng ta từ vô thủy vốn thanh tịnh sáng suốt nhưng vì vô minh, vọng tưởng nên bị quay cuồng trong sanh tử đau thương. Chúng ta phải quay về với cội nguồn của chúng ta, quay về với ba ngôi quý báu nhất, gọi là Tam Bảo, mà lâu nay chưa biết đến.
    II. Tam bảo:

    1. Thế nào là Tam Bảo? Tam bảo là ba ngôi quý báu tột bực quý hơn cả những gì quý báu nhất của thế gian (vàng bạc, ngọc ngà, danh vọng…) Vì những gì quý báu nhất của thế gian đâu có cứu được con người ra khỏi khổ não đau thương. Chỉ có ba ngôi này mới dìu dắt được con người, đưa con người thoát khỏi khổ đau. Ba ngôi đó là:

    a. Phật: Tiếng phạn bà Bouddha, Tàu dịch là Giác giả là bậc vô cùng sáng suốt, hoàn toàn dứt hết dục vọng, dứt hết tham sân si nên an lạc trọn vẹn gọi là “tự giác”. Ngài đem sự giác ngộ ấy tuyền đạt lại cho mọi người để mọi người thực hành, để ai cũng được an lạc như Ngài, gọi là “giác tha”. Cả hai công hạnh ấy Ngài đã thực hiện một cách tích cực và trọn vẹn, gọi là “giác hạnh viên mãn”. Nói gọn lại, đức Phật là bậc Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn. Người đời còn tôn xưng là đấng Đại Giác. Chỉ có đức Phật mới dẫn dắt chúng ta ra khỏi đau khổ phiền não nên Phật là ngôi quý báu nhất.

    b. Pháp: Tiếng Phạn là Dharma, phương pháp tu hành mà Phật đã dạy để trừ bỏ dục vọng. Là những chân lý mà Ngài đã chứng ngộ được (như Tứ đế, Vô Ngã, Vô Thường, Duyên Sinh…). Pháp gồm có:

    • Kinh: Là lời của đức Phật (hoặc các vị Bồ tát vâng lệnh theo lời Phật mà nói), như Kinh Bát Nhã, kinh Lăng Nghiêm …
    • Luật: Là những giới luật do đức Phật chế ra cho các thành phần xuất gia, tại gia, vâng theo đó mà tu tập, như 5 giới của Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, 10 giới của Sa di, 250 giới của Tỳ kheo, 348 giới của Tỳ Kheo Ni v.v…
    • Luận: Là lời luận giải về kinh điển của các vị Tổ sư, nói rộng các yếu nghĩa trong kinh cho chúng ta dễ hiểu. Như Luận Khởi tín, Luận Nhân Minh v.v…

    Nhờ Pháp mà chúng ta hiểu được chơn lý, vận dụng để tu tập, trừ khổ được vui, dần dần chứng ngộ, giải thoát nên Pháp là quý nhất trên đời.

    c. Tăng: Nói cho đủ là Tăng già, tiếng Phạn là Shanga, Tàu dịch là Hòa hợp chúng; là một đoàn thể xuất gia tu hành theo đạo Phật, gồm 4 người trở lên sống theo 6 phép hòa kính (Lục Hòa). Đây là một tập thể cách ly gia đình, sống theo lời Phật dạy, giữ gìn giới luật, oai nghi, luôn luôn nghiên cứu kinh điển, làm gương sáng cho mọi người. Nhờ quý vị này mà giáo lý của đức Phật (Pháp) được bảo tồn và cũng chính nhờ những vị này truyền lại giáo lý cho chúng ta sau khi đức Phật nhập diệt. Như vậy, chính nhờ quý vị Tăng già mà ta mới biết được Phật, biết được Pháp; biết được con đường giải thoát giác ngộ. Cho nên Tăng là ngôi quý báu nhất đối với chúng ta, những người thiết tha với sự tu tập giải thoát.

    2. Các định danh Tam bảo:

    a. Đồng thể Tam bảo: Mỗi chúng sanh đều có bản tánh thanh tịnh, sáng suốt; đều có khả năng giác ngộ, gọi là Phật tánh. Nhưng vì vô minh che lấp nên Phật tánh không thể hiện ra được. Vì mỗi chúng sanh đều có Phật tánh nên chúng sanh cùng như chư Phật đồng chung một thể tánh, gọi là “Đồng thể Phật bảo”. Các giáo pháp không phải đức Phật đặt ra mà đó là chơn lý đức Phật chứng ngộ. Đó là một thực tế hiển nhiên mà trí tuệ đức Phật đã nhìn thấy, thực tế đó là mọi sự vật, mọi hiện tượng trong vũ trụ, trong thế gian này, gọi là thế gian pháp. Chính từ thế gian pháp này làm đối tượng tư duy mà đức Phật đã giác ngộ chân lý nên người ta cũng thường nói: “Phật pháp bất ly thế gian pháp”. Mỗi chúng sanh cũng là một trong vạn pháp của thế gian. Vì vậy, chúng sanh cũng là “Đồng thế gian pháp bảo”. Ngày xưa, đức Phật cùng với Tăng chúng cũng sống trong lục hòa, đức Phật cũng là một vị Tăng già. Mỗi chúng sanh nếu xuất gia nghiệm thi giới luật dòng tam lục bảo cũng là một vị tăng già, tất cả chúng sanh cùng đức Phật đồng một thế gian thì chúng sanh cũng là “Đồng thế Tăng bảo”. b. Xuất thế gian Tam bảo: Đức Phật Thích Ca cũng như chư Phật trong mười phương đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian, gọi là “Xuất thế gian Phật bảo”. Chánh pháp của đức Phật có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian nên gọi là “Xuất thế gian Pháp bảo”. Các vị Thánh Tăng đã chứng ngộ thoát ra ngoài sự ràng buộc của thế gian như đức Quán Thế Âm, đức Văn Thù v.v… gọi là “Xuất thế gian Tăng bảo”. c. Thế gian trụ trì Tam bảo: Tức là Tam bảo hiện có trong thế gian.

    • Thế gian trụ trì Phật bảo: Xá lợi của Phật, các tượng Phật đúc hoặc vẽ…
    • Thế gian trụ trì Pháp bảo: Ba tạng kinh điển, in chép bằng sách, vở hiện có trong thế gian.
    • Thế gian trụ trì Tăng bảo: Chư vị Tỳ Kheo chân chánh, giới luật trang nghiêm hiện tại.

    3. Sự tướng quy y Tam bảo: Sau khi hiểu rõ ý nghĩa quy y Tam bảo và nhận thấy cần có sự “quy y” tức là nguyện trở về nương tựa vào Phật Pháp Tăng để thăng hoa cuộc sống của chúng ta, để tu tập đi dần đến giải thoát giác ngộ, thì chúng ta cũng phải có buổi lễ đánh dấu biến chuyển lớn trong cuộc sống chúng ta, tức là “Lễ Quy Y”. Chúng ta chọn một vị Tăng giới hạnh trang nghiêm, uyên thâm giáo pháp làm bổn sư cho chúng ta. Vị này chủ trì buổi lễ quy y. Trong buổi lễ quy y, chúng ta có phát nguyện: “Đệ tử phát nguyện: Trọn đời quy y Phật, Trọn đời quy y Pháp, Trọn đời quy y Tăng”. Tiếp đó, cũng phát nguyện một cách thành khẩn:

    • Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y Thiên thần, quỷ vật.
    • Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.
    • Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tổn hữu, ác đảng. (Thường kèm với lễ quy y có thọ trì 5 giới). Sau khi phát nguyện quy y thì hằng ngày phải nhớ đến lời phát nguyện của mình: Luôn nhớ nghĩ đến đức Phật, nhớ nghĩ đến công hạnh của Ngài. Phải chí tâm lễ bái. Hàng ngày tụng đọc kinh, luật, luận (Luật ở đây là 5 Giới mà chúng ta đã phát nguyện thọ trì), luôn luôn học hỏi, suy gẫm giáo lý. Và cốt nhất là phải thực hành giáo lý trong cuộc sống của chúng ta. PHẢI TỤNG GIỚI (TẬP THỂ HAY CÁ NHÂN) MỖI THÁNG 1 HAY 2 LẦN. Chúng ta phải tôn kính chư Tăng. Hằng ngày tới lui thăm viếng các vị bổn sư của chúng ta, có điều gì vướng mắc trong cuộc sống cũng nhờ vị bổn sư chỉ dạy để có những ứng xử hợp giáo pháp. Những thắc mắc về giáo lý, nhờ vị bổn sư giảng giải để hiểu được tường tận. Xem vị bổn sư như người cha tinh thần của chúng ta. Chúng ta phải cúng dường chư Tăng (hay ít ra là vị bổn sư chúng ta) những phẩm vật, thuốc men hay đồ dùng để chư Tăng có đủ phương tiện tu hành.

    4. Lý tánh của quy y Tam Bảo: Tinh tấn làm những công việc trên hàng ngày cũng chưa đủ, ta cần luôn tự nhắc cho mình ý nghĩa của quy y Tam bảo và luôn luôn nhớ về “Đồng thế Tam bảo”. Như trong “Đồng thế Tam bảo” ta đã thấy rõ: Tam bảo đều có trong mỗi chúng ta, vì vô minh che lấp, chúng ta mãi đuổi theo dục vọng, sống cuộc sống đầy tham, sân, si. Vậy, quy y Tam bảo cũng còn có ý nghĩa quay trở về với tự tánh của chúng ta. Tự quy y Phật: Tự trở về với Phật tánh của mình. Mỗi khi những đám mây vô minh được quét sạch thì mặt trăng trong sáng của Phật tánh sẽ được hiện rõ. Tự quy y Pháp: Trong tâm ta cũng có đủ các Pháp (cụ thể như từ bi, trí tuệ, tinh tấn, hỷ xả v…) ta trở về với bản thể của chúng ta, phát huy những pháp tánh hằng có ấy trong mỗi chúng ta, lại nữa, những giáo pháp mà chúng ta đã học đã hiểu thì giáo pháp đó đã khắc sâu trong tâm chúng ta, chúng ta luôn luôn đem thực hành trong đời sống. Tự quy y Tăng: Trở về nương tựa ông thầy trong tâm chúng ta. Tăng già là thể hiện sự hòa hợp, thanh tịnh, tự tại. Trong tâm chúng ta cũng sẵn có nhưng vì mê mờ chúng ta không thấy được, nay nhờ đức Phật chỉ dạy, ta mới trở về nương tựa ông thầy gần gũi ta nhất.

    C. Kết luận: Chúng ta đã hiểu ý nghĩa của Quy Y Tam Bảo, chúng ta cũng đã nhận thức được. Chỉ có nương tựa vào Tam bảo mới có thể thăng hoa cuộc sống, mới có thể giải thoát được khổ đau, tiến dần đến an vui, tự tại thì người Phật tử chúng ta phải quy y Tam bảo, nhưng phải đủ cả Lý lẫn Sự. Không nên hoàn toàn chỉ quy y Tam bảo bên ngoài mà quên mất Tam bảo của tự tâm chúng ta, nhưng cũng không vì thế mà rơi vào tự tôn, nếu tự tôn thì cũng gần kề với ngã mạn và ngã mạn cũng lại là cái lưới vô minh đưa chúng ta trong trầm luân thống khổ.

    Câu hỏi:
    1. Tại sao phải làm lễ quy y? Mục đích của lễ quy y là gì?
    2. Tại sao chúng ta phải quay về nương dựa Tam Bảo? Cái gì đã đưa chúng ta vào phiền não?

    3. Phân biệt Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng với Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng?

    Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Tam quy – Ngũ giới và Năm hạnh

    Ngũ Giới

    A. Định nghĩa:

    Ngũ giới là năm điều răn cấm mà đức Phật đã chế ra, để ngăn những ý tưởng ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chánh. Năm điều răn ấy là:

    • Không được giết hại.
    • Không được trộm cắp.
    • Không được tà dâm.
    • Không được nói dối.
    • Không được uống rượu.

    Sự giữ Giới hay không giữ Giới là hoàn toàn do chúng ta tự liệu lấy. Đạo Phật khác với các tôn giáo khác chính là ở điểm: Đức Phật không phải là một quan Tòa tối cao giữ quyền thưởng phạt. Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó một cái mầm thưởng phạt rồi. Đức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi và rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào là con đường sáng và con đường nào là con đường tối nguy hiểm không nên đi. Nếu chúng ta không theo con đường sáng mà lại mù quáng đi vào con đường tối tăm nguy hiểm thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai họa, chứ Phật không tạo ra tại họa để trừng phạt chúng ta. Năm giới chính là năm thành trì ngăn chận cho ta đừng đi lạc vào đường ác, là năm hàng rào ngăn chận cho ta khỏi rơi xuống vực sâu, trong khi ta đi trên đường giải thoát.

    A. Năm giới:

    1. Không được giết hại: Điều răn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta là không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loài vật, sinh mạng có một giá trị quý báu, nhất là mạng người; giết sinh mạng kia để bồi dưỡng sinh mạng này là không hợp lý, là một điều ác. Phật giáo cấm sát sanh bởi nhiều lý do:

    • a. Tôn trọng sự công bằng: Chúng ta ai cũng coi sinh mạng mình là quý, là một của báu tuyệt đối. Nếu ai mưu hại là mình chống trả triệt để để bảo vệ sinh mạng. Mình đã quý trọng sinh mạng mình, tại sao lại chà đạp sinh mạng người khác? Phật dạy:” … ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.
    • b. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Lòng từ bi của đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tử Ngài sát hại sanh vật, bất cứ trong trường hợp nào. Bởi vì đem tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cao độ, tâm từ bi bị bóp chết. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạc ác không kém giết một con người. Nghe tiếng kêu la của con vật, không nỡ ăn thịt nó, thấy nó sống không đành thấy nó chết. Vậy người có lòng từ bi không nỡ ăn thịt hay không nỡ giết hại người hay loài vật.
    • c. Tránh quả báo ứng oán căm thù: Khi giết một người hay một con vật, thì sự oán hận của họ tràn trề khó dập tắt được. Bởi vì có thể, vì yếu đuối nên bị ta giết hại. Hơn nữa gây nhân giết hại thì chỉ lấy quả báo bị giết hại. Lợi ích của sự không giết hại: Vì những lý do trên, đức Phật cấm đệ tử không giết hại, đồng thời không giết hại sẽ có những điều lợi sau đây:
    • a. Về phương diện cá nhân: Một người không tàn nhẫn sát nhân, hại vật, không độc ác làm đổ máu thì lòng không bức rức, hối hận, thân tâm được nhẹ nhàng thư thới, giấc ngủ được an lành, nét mặt được hiền hòa trong sáng.
    • b. Về phương diện xã hội: Nếu tất cả nhân loại trên thế giới đều giữ gìn đúng giới thứ nhất của Phật dạy thì chiến tranh sẽ không có mà các nghiệp sanh tử luân hồi cũng được giải thoát. Cho nên xưa có câu:”Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp. Thập phương hà xứ động đao binh. Gia gia hộ hộ đồng ta thiện. Thiên hạ hà tư bất thái bình”. Dịch nghĩa: Hết thảy mỗi chúng sanh không nghiệp sát. Mười phương nào có nỗi binh đao. Mỗi nhà mỗi chốn đều tu thiện. Lo chi thiên hạ chẳng thái bình.

    2. Không được trộm cắp: Ai cũng biết trộm cắp là lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người khác, mà không có sự ưng thuận hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyền hành. Phật cấm trộm cắp vì những lý do sau đây: a. Tôn trọng sự công bằng: Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao mình lại chăm chăm muốn đoạt của người? Quyền sở hữu của ta, ta biết tôn trọng thì tại sao lại chà đạp lên quyền sở hữu của người? Làm như thế là trái lẽ công bằng. Một xã hội thiếu công bằng thì không thể tồn tại lâu dài. b. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Mỗi khi vô ý đánh mất một vật gì hay một số tiền, ta buồn khổ, ăn không ngon, ngủ không yên; tại sao ta lại nở nhẫn tâm lấy của người, để cho người khác phải khóc than, đau khổ vì ta? Không làm cho người khác đau khổ là nuôi dưỡng lòng từ bi. c. Tránh nghiệp báo oán thù: Trong xã hội có tổ chức, tôn trọng lẽ công bằng, thì tội trộm cắp bao giờ cũng bị trừng phạt. Khi bị bắt, kẻ trộm cướp phải tìm trăm phương ngàn kế để trốn thoát, sống chui rúc trong bóng tối. Khi bị bắt phải bị tra khảo, ngồi tù, nhốt khám. Phận mình đã đành cực thân, khổ trí; lại làm cho gia đình, cha mẹ, vợ con cũng buồn rầu khổ sở xấu hổ và mất hết cả hy vọng ở tương lai. Nếu không bị luật thế gian trừng trị, thì người trộm cắp cũng không tránh khỏi luật nhân quả nghiệp báo, không sớm thì muộn cũng bị mất cắp lấy trộm. Hơn nữa, Phật dạy: Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa bé luyến tiếc một chút mật trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị cái họa đứt lưỡi (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). d. Xây dựng xã hội thanh bình: Một xã hội không có kẻ cắp trộm, người người sống an ổn không phập phồng lo sợ là một xã hội thanh bình.

    3. Không được tà dâm: Tà dâm là muốn nói về sự dâm dục không đoan chính, luật dạy người xuất gia ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dục. Khi đã có cưới hỏi thì gọi là chính, ngoài ra lén lút, lang chạ, phi pháp gọi là tà. Nói một cách vi tế hơn, thì phàm những sự đam mê người khác phái, nghĩ ngợi bất chính, chơi bời lã lơi, cũng đều thuộc về loại tà dâm cả. Phật cấm tà dâm vì những lý do sau đây: Tôn trọng sự công bình, bảo vệ hạnh phúc gia đình, tránh oán thù và quả báo xấu xa. Lợi ích về sự không tà dâm: a. Về phương diện cá nhân: Kinh Thập Thiện nói, người thế gian không tà hạnh thì được hưởng 4 điều lợi ích: Sáu căn đều được vẹn toàn Trọn đời được người kính trọng Đoạn trừ hết cả phiền lụy quấy nhiễu Cuộc tình duyên trọn đời không ai dám xâm phạm. b. Về phương diện xã hội: Trong một xã hội mà ai cũng không tà hạnh thì gia đình được yên vui, những sự luân thường bại lý sẽ tiêu tan, những cảnh thù hiềm chém giết không xảy ra, con cái được chăm sóc chu đáo, được hưởng tình thương trọn vẹn của cha mẹ, xã hội sẽ cường thịnh. Nói tóm lại, cõi ta bà ô trược, đau khổ này sẽ biến thành thế giới thanh tịnh an vui.

    4. Không được nói sai sự thật: Nói sai sự thật có 4 cách: Nói dối, Nói hai lưỡi, Nói thêu dệt, Nói lời hung ác. a. Nói dối hay nói láo là nói không thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải, hoặc giả trước mặt khen tốt sau lưng chê mạt. Tóm lại, ý nghĩ với lời nói, việc làm với lời nói trước sau mâu thuẫn trên dưới khác nhau, trong ngoài bất nhất, đều thuộc về nói dối cả. b. Nói thêu dệt: là việc ít xít cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân hận, hoặc trau tria lời nói, chuốt ngọt giọng hay cho êm tai mát dạ để cám dỗ người nghe; cũng có khi nói biếm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ sở. Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật, thêm bớt, đều gọi là nói thêu dệt cả. br> c. Nói hai lưỡi: Thành ngữ Việt Nam gọi là “Đòn xóc nhọn hai đầu”. Nghĩa là đến chỗ này thì hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì hùa với bên kia để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trở lại chống nhau, oán thù nhau. d. Nói lời hung ác: Là nói những tiếng thô tục, cộc cằn, chửi rủa, làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi. Phật cấm nói sai sự thật vì những lý do sau đây:

    • a. Tôn trọng sự thật: Người theo đạo Phật phải tôn trọng sự thật. Người quen nói dối không thiết tìm sự thật thì khó có thể chứng quả được.
    • b. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Cái động lực chính của sự nói dối là lòng ích kỷ, ác độc, muốn hại người để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình. Người bị lừa dối sẽ chịu khổ vì mình, có khi phải mắc thù vương oán, có khi phải tan gia bại sản. Người tu hành như thế là đã tán tận lương tâm, không những đã bóp chết tình thương của mình mà còn làm đổ nát tình thương trong lòng người. Một khi lòng từ bi không còn nữa, sự chân thật không còn cần thiết nữa, nghĩa là động lực chính đã mất, thì sự tu hành chỉ còn là giả dối.
    • c. Bảo tồn sự trung tín trong xã hội: Trong một gia đình, một đoàn thể, một xã hội mà không ai tin ai thì mọi công việc từ nhỏ đến lớn đều thất bại và không thể nào sống hòa hợp với nhau.
    • d. Tránh nghiệp bào khổ đau: Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm, nhưng nó nguy hiểm hơn lưỡi kiếm, vì nó có hai mũi nhọn, một mũi đâm vào người khác, một mũi đâm vào chính mình.

    Phật dạy: “Phù sĩ xử thế phú tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do ký ác ngôn” (nghĩa là: Phàm kẻ ở đời, lưỡi quá bén nằm trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác). Đã đành nói ly gián, nói xuyên tạc là để hại người thì thế nào cũng hại lại mình. Ác lai ác báo là thế. Để tránh sự thù oán, chúng ta không nên dối trá, điêu ngoa. Lợi ích của sự không nói dối: a. Về phương diện cá nhân: Được người trọng nễ, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm. Trong nghề làm ăn, người chân thật được nhiều thân chủ và được tin cậy giao phó cho nhiều trọng trách. b. Về phương diện quần thể: Gia đình, xã hội đoàn kết trong sự tin cậy, không ai oán hận thù hiềm, anh em thương yêu thông cảm nhau hơn.

    5. Không được uống rượu: Tất cả những thứ có chất men làm say người hay chất độc hại người đều không được dùng. Chính mình không uống đã đành, mà cũng không được ép nài người khác uống. Ép nài, khuyến khích người khác uống tội lại nặng hơn cả chính mình uống nữa. Lúc lâm bệnh nặng, uống các thứ thuốc không lành. Thầy thuốc bảo phải dùng rượu hòa với thuốc, thì tạm dùng được, nhưng trước khi dùng phải bạch cho chúng Tăng biết. Khi hết bệnh, không được tiếp tục uống thuốc có hòa với rượu nữa. Phật cấm uống rượu vì những lý do sau đây: a. Bảo toàn hạt giống trí tuệ: Rượu còn nguy hiểm hơn thuốc độc. Một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhung chỉ chết một thân hiện tại, chớ uống rượu vào làm mất giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Vì thế, để bảo tồn hạt giống trí tuệ quý báu, Phật cấm uống rượu. Chúng ta cũng thấy thực tế những người say rượu mất cả lý trí, nói xàm, nói bậy, hành động hung ác. Có khi đâm chém nhau.Ngày nay, khoa học cũng chứng minh rượu đốt cháy những tế bào thần kinh. b. Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi: Uống rượu, chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, nhưng nó có thể làm động lực cho những tội lỗi nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh điều đó:

    Một thanh niên nọ, không biết sao đã làm cho một hung thần phần nộ đòi giết anh ta. Anh ta van xin thần tha cho tội chết, vì anh còn một mẹ già không ai nuôi dưỡng, chàng sẵn sàng nhận lãnh một hình phạt khác. Vị hung thần bảo:” Vậy người phải về nhà giết mẹ ngươi, ta sẽ trả mạng sống cho ngươi.” Anh ta van xin: “Con chỉ có một bà mẹ già yêu quý nhất trong đời. Mẹ con đã suốt đời khổ cực, hy sinh cho con. Làm thế nào con có thể giết được? Xin ngài cho một hình phạt khác.” “Ngươi hãy về nhà châm lửa đốt nhà ngươi.” ‘Vậy thì mẹ con còn chỗ nào nương trú? Con thì không kể nhưng mẹ con già nua làm sao chịu nổi với sương gió năng mưa? Xin ngài ban ân, cho một hình phạt khác.” “Bây giờ ta cho ngươi một hình phạt rất đơn giản: Ngươi hãy uống hết bình rượu này.”

    Chàng thanh niên nghĩ rằng: Việc này thì dễ dàng, dẫu có say đi nữa cũng chẳng sao. Sau đó, quả thật anh say tít chẳng còn biết gì nữa, trở về châm lửa đốt nhà, bà mẹ chạy ra níu kéo lại, anh đẩy mẹ ngã vào lửa, chết thiêu. Khi tỉnh dậy, đau đớn quá, mẹ đã chết, nhà không còn nên anh tự tử theo mẹ. Thế là chỉ nhận một hình phạt nhẹ nhàng uống hết một bình rượu mà lại đã nhận thêm một lúc ba hình phạt: giết mình, giết mẹ, đốt nhà. Ngoài ra rượu còn làm mất tư cách con người.

    Người uống rượu vào thì nói năng bừa bãi, nham nhỡ, đi đứng xiêu vẹo, khi say quá thì té nhào xuống đất … không còn tư cách gì cả. Tóm lại rượu gây ra nhiều tội lỗi. Sau đây là 10 điều tai hại của uống rượu mà trong kinh đã nói:

    Tăng trưởng lòng giết hại
    • Trí tuệ kém dần.
    • Sự nghiệp chẳng thành.
    • Thâm tâm nhiêu khê.
    • Thân hay tật bệnh.
    • Tâm sầu hận, bồng bột, ưa cãi lẫy.
    • Phước đức tiêu mòn.
    • Tuổi thọ giảm bớt.
    Mạng chung đọa vào địa ngục

    Lợi ích của sự không uống rượu: a. Về phương diện cá nhân: (Người không uống rượu thì tránh được 10 điều hại kể trên):

    • Vun trồng được hạt giống trí tuệ.
    • Tâm trí được tỉnh táo.
    • Giữ gìn được sức khoẻ, tránh bệnh tật.

    b. Về phương diện quán thể: Gia đình được yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội được an hòa, nòi giống được hưng cường.

    B. Kết luận: Chúng ta đã thấy rõ: Giới chính là để “Phòng phi, Chỉ ác” (ngăn ngừa những hành động phi pháp, những ý nghĩ độc ác), chính đó là căn bản của giải thoát. Người tu theo đạo Phật nói chung, người Huynh trưởng nói riêng phải tinh tấn hành trì Giới luật, vừa là để trở thành một con người có nhân cách, hiền thiện làm gương cho đàn em; vừa để tiến dần đến giải thoát cho tự thân. Không những thế, nếu mọi người trong xã hội ai ai cũng thực hiện 5 Giới này thì quốc gia nào mà không phồn thịnh, xã hội nào lại không hòa bình.

    Câu hỏi:

    1. Theo anh chị, năm giới cấm được sắp xếp như thế nào để đúng vị trí của nó? Cho giải thích?

    2. Có người bảo, vì cuộc sống hàng ngày của chúng ta, sự việc giữ giới “Không sát sanh” là một giới không thể nào giữ được. Do đó, chúng ta chỉ cần giữ giới này trong giới hạn “con người” thôi, có nghĩa là chúng ta không giết người là được rồi! Theo anh chị nghĩ thế nào? Và cũng theo anh chị thì làm sao giữ được giới không sát sanh?

    3. Phân biệt tà dâm và dâm dục?

    4. Có người đề nghị, trong các buổi lễ quy y cho các em oanh vũ, chúng ta nên cho các các em phát nguyện giữ 3 giới (không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối) thôi, còn lại hai giới (không tà dâm, không uống rượu) thì nên để các em đến bậc Thiếu mới phát nguyện. Anh chị nghĩ sao?

    Mục đích Phật pháp. Tam Quy. Ngũ Giới. Cuộc đời Đức Phật. Đại cương Kinh Đại phương tiện Phật báo ân. Ngài Bồ Đề Đạt Ma. Ngài Khương Tăng Hội. Niền tin và đức tin.

    • Mục đích Phật pháp.
    • Tam Quy.
    • Ngũ Giới.
    • Cuộc đời Đức Phật.
    • Đại cương Kinh Đại phương tiện Phật báo ân.
    • Ngài Bồ Đề Đạt Ma.
    • Ngài Khương Tăng Hội.
    • Niền tin và đức tin.

    B. đào luyện kiến thức căn bản

    Mục đích và phương tiện. Tâm lý trẻ. Cờ Phật giáo. Lược sử Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Nội quy – Quy chế Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

    • Mục đích và phương tiện.
    • Tâm lý trẻ.
    • Cờ Phật giáo.
    • Lược sử Gia Đình Phật Tử Việt Nam.
    • Nội quy – Quy chế Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

    C. đào luyện kiến thức và khả năng chuyên môn

    • Tổ chức làng xã Việt Nam.
    • Giáo dục y tế: Sự tác hại của Ma túy – Bệnh Sida.
    • Cứu thương: Khái niệm và mục đích.
    • Thể dục: Mục đích thể dục và các động tác căn bản.
    • Ôn lại nhạc lý căn bản và các bài hát đã học, giới thiệu một số nhạc cụ phổ thông.
    • Đại cương và phương pháp dạy môn Thủ công – Nữ công – Gia chánh.
    • Bảng hiệu lưu thông.
    • Khắc trên phấn – Gỗ.
    • Phương pháp in lụa.

    Năm thứ hai

    A. đào luyện nếp sống tinh thần

    Ngũ Minh Pháp (Giới thiệu Tuệ Tỉnh thiền sư trong phần Y Phương Minh). Sổ tức – Niệm Phật. Từ Nhiếp Pháp. Tứ Ân. Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Kinh Ưu Bà Tắc. Những đặc tính của Phật pháp. Đạo Phật với thanh niên. Năm hạnh.

    • Ngũ Minh Pháp (Giới thiệu Tuệ Tỉnh thiền sư trong phần Y Phương Minh).
    • Sổ tức – Niệm Phật.
    • Từ Nhiếp Pháp.
    • Tứ Ân.
    • Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
    • Kinh Ưu Bà Tắc.
    • Những đặc tính của Phật pháp.

    Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Cuộc đời Đức Phật
    Hình minh họa: Lịch sử Đức Phật Thích Ca
    I. VĂN:
    A. BỐI CẢNH ẤN ĐỘ:

    Từ thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, Ấn Độ đã có một nền văn minh khá cao. Aryan sau khi đã chinh phục Ấn Độ, họ lại bị chinh phục bởi ảnh hưởng huyền bí của thiên nhiên, của dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ … Xã hội lúc bấy giờ phân hoá, có nhiều giai cấp, rất nhiều những bất công trong xã hội. Có thể tóm lược 4 đẳng cấp như sau:

    1. Bà La Môn: Gồm các đạo sĩ có kiến thức uyên bác, là đẳng cấp lãnh đạo về tinh thần.

    2. Sát Đế Lỵ: Gồm giới quý tộc dòng dõi vua chúa, là đẳng cấp nắm quyền cai trị nhân dân.

    3. Phệ Xá: Gồm giới Nông, Công, Thương.

    4. Thủ Đà La: Hàng tôi tớ lao động.

    Riêng giai cấp hạ tiện (Paria) bị loại ra khỏi đẳng cấp cuối, bị đối xử như thú vật, ai cũng có quyền đánh, giết.

    B. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT:
    1. Sự ra đời của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:

    Từ cung trời Đâu Xuất, Bồ tát Hộ Minh quán chiếu và quyết định chọn cõi Ta Bà cho lần tái sinh sau cùng của mình.

    Một đêm, trong giấc ngủ an lành, hoàng hậu MAYA mộng thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào hông bên phải, sau đó bà thọ thai. Suốt thời kỳ mang thai, hoàng hậu MAYA được hoàn toàn khoẻ mạn, về cả thân lẫn tâm.

    Theo phong tục Ấn Độ, phụ nữ mang thai khi sắp sinh phải về nhà cha mẹ đẻ đợi ngày lâm bồn. Đang chuẩn bị lên đường, vào một buổi sáng đẹp trời, chim hót, hoa cười, hoàng hậu MAYA ra vườn thượng uyển để thưởng cảnh. Khi đến gốc cây Vô Ưu (Asoka), thấy màu sắc của hoa thật rực rỡ, hoàng hậu MAYA vịn cành định hái hoa, liền đó Thái tử ra đời. Bấy giờ là ngày trăng tròn tháng Veaka nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch, vào năm 624 trước Tây lịch. Vườn thượng uyển gọi là vườn Lâm Tỳ Ni (Lum Bi Ni) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).

    Người trị vì nước này là Vua Tịnh Phạn, thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca) đã đặt tên cho Thái tử là Siddharta (Tất Đạt Đa) nghĩa là “Người được toại nguyện”. Các đạo sĩ Bà La Môn được mời đến đoán vận mạng của thái tử. Quan sát 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của thái tử, họ kết luận đây là bậc chuyển luân thánh vương hoặc nếu xuất gia sẽ thành bậc chánh đẳng chánh giác. Riêng tiên A Tư Đà, sau khi nhìn tướng mạo thái tử đã cười vang rồi lại khóc ròng. Khi được hỏi vì sao, nhà tiên tri giải thích là ông vui vì Thái tử sẽ đắc quả Phật và sẽ giảng pháp cứu đời nhưng ông đau buồn vì mình không thể sống đến ngày Thái tử chứng quả để được nghe pháp.

    2. Cuộc sống của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:
    a. Cuộc sống cung đình:

    Bảy ngày sau khi thái tử ra đời, hoàng hậu MAYA thác sinh về cung trời Đao Lợi. Thái tử được dì là Mahabaxàbađề nuôi dưỡng. Thái Tử được giáo dục rất hoàn mỹ. Đến tuổi đi học, Thái tử nổi tiếng thông minh, văn võ toàn tài, lại luôn khiêm tốn, lễ độ, được mọi người yêu quý.

    Năm mười sáu tuổi, Thái tử kết hôn cùng công chúa Daduđàla, sau khi đã thắng tất cả các vương tôn, công tử trong các cuộc thi theo tục lệ. Con trai của Thái tử tên là La Hầu La (nghĩa là trói buộc).

    Vua cha xây cho Thái tử ba toà cung điện dành riêng cho từng mùa (mưa, nóng, lạnh) với đầy đủ tiện nghi và luôn có cung tần, mỹ nữ đêm ngày ca múa, săn đón mua vui cho Thái tử. Nhưng hạnh phúc thế gian không làm cho Thái tử say đắm, không đủ để Thái tử quên đi ấn tượng của lần theo cha đi dự lễ cày cấy vào năm lên 9 tuổi. Ngài đau xót khi thấy người và vật phải vất vả và khổ đau trong cuộc tranh sống (Lần ấy Thái tử đã ngồi dưới gốc cây theo lối kiết già và chứng nhập sơ thiền).

    b. Thái tử tiếp xúc với đời:

    Thái tử đã khẩn cầu vua cha để được du ngoạn ra ngoài hoàng cung.

    • Lần thứ nhất, ra cửa Đông: Ngài gặp một cụ già lưng còng, tóc bạc, mắt lòa.
    • Lần thứ nhì, ra cửa Tây: Ngài gặp người bệnh rên la khổ sở.
    • Lần thứ ba, ra cửa Nam: Ngài gặp một đám tang người đưa khóc kể sầu đau. Mỗi lần được người phu xa giải thích về những hình ảnh không thể tránh được ấy của cuộc sống, Thái tử càng nhận rõ hơn thực trạng đau khổ của kiếp người, của chúng sinh vì định luật sinh, già, bệnh, chết.
    • Lần thứ tư, ra cửa Bắc: Ngài gặp một vị sa môn, hình ảnh của sự thanh thoát, cao quý. Cuộc gặp gỡ này càng thúc bách nhu cầu tìm đạo giải thoát ở Ngài.

    Lão, bênh, tử là ba bức tường thành mà chúng sanh không thể vượt qua được, ngoài con đường giải thoát.

    3. Thái tử Xuất Gia:

    Nhận thấy vô thường và khổ đau bao trùm cuộc sống, một đêm, sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người đang ngủ say, Thái tử truyền Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc, lặng lẽ vượt thành, xuất gia tìm đạo.

    Theo hướng Đông Nam, hướng về dãy Hi Mã Lạp Sơn, Ngài vượt qua dòng sông A Nô Ma thì dừng lại, tự cắt tóc, cởi hoàng bào, trao gươm cho Xa Nặc, truyền dắt ngựa, mang tóc, áo bào, gươm báu trở về trình lại với vua cha ý chí xuất gia của mình. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng hai.

    Thái tử tìm đến học đạo với A La La Ca Lam, một đạo sư nổi tiếng đã chứng đắc Vô sở hữu xứ định. Không bao lâu, Ngài đã chứng đắc những gì Đạo sư đã chứng đắc. Được Đạo sư mời hợp tác giảng dạy chúng đệ tử, nhưng Ngài biết đây chưa phải là đích của giải thoát nên đã cáo từ. Rời thành Tỳ Xá Ly đến Vương Xá, thủ đô vương quốc Ma Kiệt Đà, Ngài gặp vua Tần Bà Xa La, được vua ngỏ ý nhường lại nửa vương quốc, Ngài đã từ chối. Đến thọ giáo với Uất Đầu Lam Phất, cũng chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đã đạt được thành quả như thầy, chứng đắc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ định. Biết rằng đây vẫn còn ở trong vòng sinh tử, Ngài lại ra đi. Chẳng còn ai để tìm đến học, Ngài quyết định tự thực hiện lấy cứu cánh giải thoát, cùng 5 anh em Kiều Trần Như tu khổ hạnh.

    Trong 6 năm, Ngài tự ghép mình vào những phép tu đau đớn cùng cực của thể xác. Nhưng rồi Ngài cũng nhận ra cách tu cực đoan này chỉ làm tổn hại cả thể chất và tinh thần, không thể dẫn đến giải thoát nên Ngài quyết định chấm dứt việc tiết thực, ăn uống trở lại để lấy sức, tinh cần đi vào ngõ thiền định với kinh nghiệm của lần chứng Sơ thiền trong dịp theo vua cha dự lễ “xuống đồng” lúc nhỏ. Năm anh em Kiều Trần Như thấy Ngài thay đổi lối tu hành nghĩ là Ngài đã thoái chí cầu đạo nên cùng nhau bỏ đi nơi khác.

    Sau khi đã hồi phục sức khoẻ, sa môn Cồ Đàm chọn một gốc cây lớn nơi khu rừng xanh tươi cạnh dòng sông Ni Liên. Ngài tọa thiền với lời thệ nguyện: “Chỉ rời khỏi chỗ này khi nào chứng được quả giải thoát”.

    Giữ chánh niệm, Ngài tỉnh giác hành thiền. Ma vương tìm mọi cách quấy phá nhưng không lay chuyển được Ngài.

    Vào đêm trăng tròn tháng chạp (có sách ghi là mùng 8 tháng chạp), Ngài chứng ngộ chánh giác. Canh một, Ngài thấu suốt các kiếp sống quá khứ và nẽo tái sinh của mình, chứng tuệ giác đầu tiên là Túc mạng minh. Sang canh hai, Ngài thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình và chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, chứng Thiên nhãn minh. Đến canh ba, Ngài tác ý nghịch chiều duyên khởi, biết rằng đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh, tâm Ngài thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, chứng tuệ giác cuối cùng là Lậu tận minh. Đúng vào lúc sao Mai vừa mọc, Ngài tác ý thuận và nghịch chiều duyên khởi, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc bấy giờ, quả đất rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.

    Sau đêm thành đạo, Đức Phật còn tiếp tục tham thiền cho đến hết 49 ngày. Ma vương tiếp tục phá phách nhưng không được, cuối cùng đành khẩn cầu Ngài đi thẳng vào niết bàn. Đức Phật trả lời là Ngài chỉ nhập diệt sau khi đã có một giáo hội bền vững.

    4. Đức Phật truyền đạo:

    Chấp nhận lời thỉnh cầu truyền bá giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Phật nghĩ ngay đến A La La Ca Lam, nhưng bằng tuệ nhãn, Ngài biết vị này vừa qua đời tuần trước. Nghĩ đến Uất Đầu Lam Phất, Ngài dùng tuệ nhãn biết vị này vừa từ trần đêm qua. Đức Phật lại nghĩ đến 5 anh em Kiều Trần Như, biết họ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại, Ngài quyết định đến đó. Tại đây, Ngài thuyết pháp Tứ Diệu Đế (còn được gọi là kinh Chuyển pháp luân, truyền bá con đường Trung đạo) độ lần lượt cho cả 5 anh em. Như vậy là ngôi Tam Bảo đã được thành hình.

    Tiếp đó, Đức Phật độ cho Da Xá và chưa tròn 2 tháng, Ngài đã có 60 đệ tử đạt quả vị A La Hán, lập thành Giáo hội Tăng già, có trách nhiệm hoằng dương chánh pháp.

    Cảm hoá 3 anh em Ca Diếp, 3 nhà tu sĩ khổ hạnh thờ lửa, giáo đoàn của Đức Phật có trên 1000 vị. Sau khi độ cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (2 vị trước đó theo Bà La Môn giáo) chứng đắc quả vị A La Hán, Đức Phật triệu tập tất cả đệ tử để tấn phong Đức Xá Lợi Phất làm Đệ nhất đệ tử và Đức Mục Kiền Liên làm Đệ nhị đệ tử.

    Trong 49 năm thuyết pháp và giáo hoá, Đức Phật đã độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Ngài cùng các đệ tử đi hoằng hoá trong 9 tháng nắng, còn 3 tháng mưa thường tập trung ở các tịnh xá chuyên tu và hướng dẫn đệ tử.

    5. Đức Phật nhập niết bàn:

    Vào năm 80 tuổi, Đức Phật quyết định nhập niết bàn. Ngài cùng chúng đệ tử đi đến rừng Sala của dòng họ Malla ở Kusinara. Rừng Sala đang trỗ hoa trái đầy cành.A Nan treo võng cho Đức Thế Tôn nằm giữa 2 cây Sala. Sau khi dạy đệ tử những lời sau cùng, Thế Tôn nhập định rồi viên tịch. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng 2.

    Những lời dạy sau cùng:

    Này A Nan, giáo pháp ta đã giảng dạy, sau khi ta diệt độ, pháp và luật ấy sẽ là đạo sư.

    Này A Nan, sau khi ta diệt độ, có thể bỏ đi những giới nhỏ nhặt, chi tiết.

    Này các vị Tì kheo, nếu có vị nào còn nghi ngờ hay thắc mắc gì về giáo lý của ta, về các phương pháp tu mà ta đã giảng dạy thời hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc. Thế Tôn hỏi 3 lần nhưng tất cả đều im lặng.

    Này các vị Tì kheo, sau khi Như Lai diệt độ, quý vị hãy lấy giới luật làm thầy, các pháp hữu vi là vô thường, hãy cẩn thận chớ có buông lung.

    Lễ hoả táng và dựng tháp tôn thờ xá lợi Phật:

    Giàn hoả thiêu không thể bắt lửa cho tới khi tôn giả Maha Ca Diếp kịp về đảnh lễ. Xá lợi Phật được chia làm 8 phần để dựng tháp tôn thờ tại các nước mà Đức Phật đã từng đi qua.

    II. TƯ:

    1. Sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa là một sự thị hiện của một vị Bồ Tát, vì đời mà vào đời để cứu đời.

    • 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử Tất Đạt Đa cho em biết: Tuy đấy là thân người nhưng lại vô cùng cao quý, đặc biệt hơn con người bình thường. Đó là báo thân của Đức Thế Tôn do công đức tu tập của nhiều kiếp về trước.
    • Những hiện tượng lạ sau khi Tất Đạt Đa đản sanh nằm ngoài tầm hiểu biết và giải thích của thế gian. Vì đó là những sự kiện báo hiệu về sự ra đời của bậc sẽ đạt quả vị Chánh đẳng Chánh giác.
    • Bằng trí tuệ thế gian, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật chứ không do hư cấu, tưởng tượng mà có.

    2. Đời sống của Thái tử tại cung đình là một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc thế gian, nhưng Ngài không bị đắm trước và cũng không bị ngã mạn.

    3. Việc Thái tử từ bỏ hạnh phúc thế gian để đi tìm hạnh phúc chân thật, tìm chân giải thoát là một gương sáng cho chúng sanh soi rọi. Điều này cho chúng ta nhiều suy nghĩ khi cứ loay hoay trong cuộc sống, đuổi bắt những bóng hạnh phúc như tiền tài, danh vọng, cái đẹp vật chất…

    Tình yêu thương không phải chỉ nói mà phải thể hiện bằng hành động, bằng quyết tâm tìm con đường cứu muôn loài thoát khổ đau, không còn vướng trong sinh tử, luân hồi.

    4. Dù Đức Phật đã chứng được lục thông nhưng không bao giờ Ngài sử dụng một cách vô cớ. Ngài sống bình thường như bao nhiêu người khác, bình thường mà gương mẫu, gần gũi với mọi người, dung dị, chan hoà.

    5. Tuỳ căn cơ chúng sanh mà Ngài hoá độ. Không chỉ nhận đệ tử xuất gia, thoát ly thế tục mà Đức Phật còn nhận đệ tử tại gia, quan tâm đến đời sống gia đình, xã hội qua các cư sĩ và hạnh phúc thế gian của họ. Ngài đã dạy về 6 mối tương quan xã hội, về 7 điều kiện để một xã hội hưng thịnh, về 10 điều để thành người lãnh đạo tốt. Toàn bộ giáo lý của Ngài đều tập trung vào việc ly tham, ly sân, ly si, giải thoát và tri kiến giải thoát. Con đường đi vào giải thoát là con đường trung đạo của 2 mặt nhận thức và hành động, mà biểu hiện rõ nét nhất là Bát chánh đạo.

    6. Bằng quá trình hoằng pháp của mình, Đức Phật đã khẳng định tính thực nghiệm, bình đẳng, trí tuệ, từ bi… của đạo Phật. Ngài là bậc chánh đẳng chánh giác, là một nhà giáo dục lý tưởng, là bậc thầy đầy đủ giới đức, định đức và tuệ đức, ra đời vì hạnh phúc của chúng sanh, tìm ra con đường giải thoát và chỉ dạy cho chúng sanh con đường đi đến giải thoát.

    III. TU:

    Qua bài học, em không những học được ở Đức Phật của chúng ta, mà còn học được ở cậu bé Tất Đạt Đa mới lên chín tuổi.

    • Vào cái tuổi mà mọi cậu bé đều chỉ nghĩ đến học hành và vui chơi những trò đá bóng, bắn bi …, thì Thái tử Tất Đạt Đa đã biết trầm tư về những vấn đề liên quan đến cuộc sống khổ cực của con người và loài vật, cũng như phát khởi lòng từ rộng lớn trước những vật lộn của chúng sanh.
    • Vào thời điểm sáng chói nhất, hạnh phúc nhất của một thanh niên vương giả, đầy uy quyền, Thái tử đã từ chối tất cả để dấn thân vào con đường vô cùng gian khổ, để nhắm đến mục đích tối hậu là cứu mình, cứu đời ra khỏi cuộc tử sinh. Do đó, em nguyện:
    • Tập hướng suy nghĩ của mình vào những vấn đề “Thoát tục” hơn là ăn uống, ngủ nghỉ, chơi đùa…
    • Tập trầm tư (không phải tưởng tượng hay hồi tưởng, những kỉ niệm, những cảnh sống tiện nghi đầy đủ…) để nhìn thấy được tính chất vô thường, vô ngã trong mỗi sự vật và trong chính bản thân ta cũng như hiểu đúng thực nghĩa của chữ khổ trong đạo Phật.
    • Tập trầm tư về những vấn đề hạnh phúc, danh vọng, quyền uy…để thấy rõ bản chất thật sự của những vấn đề này, để hiểu được ý nghĩa sự ra đi tìm đạo của Thái tử Tất Đạt Đa cũng như để vạch cho mình một cuộc sống tri túc và tiến đến “sống đạo”.
    • Biết tập trung tư tưởng thì bất cứ nơi nào cũng có thể thực hành thiền định. Đã có chân lý, đã có ngón tay chỉ đường, sao lại không gắng sức tu tập.
    • Luôn mở rộng lòng từ, luôn hoà ái, khiêm cung, học tập theo những đức tính của Thái tử Tất Đạt Đa.
    • Học theo gương sáng của Đức Phật, tự thân bỏ cái sai, tránh cái lỗi, giữ cái đúng. Không sử dụng quyền lực khi tiếp xúc với người khác, kết hợp tình thương và trí tuệ. Hiểu biết để hành động chứ không để thuyết giảng, nói cho hay. Đối với mọi người luôn yêu thương, nhẫn nhục, hy sinh.
    • Vâng lời Phật dạy: coi giới luật là thầy, kính Phật, trọng Tăng, luôn tinh tấn để giải thoát.
    • Thường xuyên sám hối nghiệp chướng để thuận duyên hành đạo.
    IV. CÂU HỎI:
    • Ý nghĩa ngày đản sanh và ý nghĩa xuất gia?
    • Vì sao khi quan sát nhân duyên, Bồ Tát Hộ Minh lại chọn cho mình lần tái sinh sau cùng là ở nước Ấn Độ?
    • Em có thể kể những tướng tốt của Thái tử Tất Đạt Đa? (Một số quý tướng: lòng bàn chân thẳng, gót chân thon, ngón tay và chân đều thon dài, tay chân mềm mại, răng đều đặn, giọng nói êm như giọng chim Ca Lăng Tần Già, mắt xanh có sợi lông trắng mịn giữa hai chân mày, có nhục kế trên đầu, vị giác nhạy bén, quai hàm sư tử).
    • Hãy kể về cuộc sống của Thái tử Tất Đạt Đa?
    • Về phương diện lịch sử, ngôi Tam Bảo có từ lúc nào? Hãy giải thích?
    • Từ con đường hoằng hoá của Đức Phật, em rút ra bài học gì cho bản thân?
    • Vì sao ta gọi Đức Phật là nhà giáo dục lý tưởng?
    • Câu nói: “Ngoài tuệ giác không có Phật giáo” muốn khẳng định điều gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Tứ ân
    I. VĂN:

    Trong kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy bổn phận người Phật tử tại gia: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ.” (Trên đền đáp 4 ân nặng, dưới cứu giúp 3 đường khổ).

    Bốn ân nặng đó là: ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia – xã hội – chúng sanh, ân tam bảo.

    1. ÂN CHA MẸ:

    Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân cho ta biết: Vì thương con, che chở, bảo bọc cho con mà cha mẹ không sợ hiểm nguy, lao nhọc, tội chướng và chẳng bao giờ cần đáp lại. Không khác mặt trời, mặt trăng, rải chiếu ánh nắng, ánh sáng, thuận dưỡng cho muôn vật mà chẳng cần đền đáp bao giờ. Công cha, nghĩa mẹ – công lao nghĩa nặng, tình sâu, sánh bằng núi cao, biển cả. Do vậy, kinh Đại tập viết: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ cha kính mẹ là cách báo đền ân Phật vậy”.

    Mang thân này có nghĩa là đã chìm đắm bao đời. Do đó, ta có biết bao nhiêu là cha mẹ. Kinh dạy: “Đa sanh phụ mẫu”. Phật tử phải biết mà truy tiến, báo ân.

    2. ÂN SƯ TRƯỞNG:

    Bất cứ ai ở trên đời, có được chút kiến thức là nhờ ơn thầy dạy bảo, bạn bè giúp đỡ. Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp cao cả, thầy cô thường đem hết sở học và tài năng dìu dắt lớp trẻ, tận tụy hy sinh, thương yêu học sinh như con, nhân ái, độ lượng. Bạn bè thân cận, cảm thông, chia sẽ cùng ta bao buồn vui, chân thành giúp ta không tính toán. Đến với GĐPT, chúng ta được các anh chị trưởng hướng dẫn ta cách sống hướng thiện, hướng thượng, chỉ cho ta biết vận dụng lời Phật dạy vào cuộc sống đời thường, biết vui sống trong hiện tại, biết yêu thương… Vì thế, ta phải trân trọng, báo đền.

    3. ÂN QUỐC GIA, XÃ HỘI, CHÚNG SANH:

    Ta được bình an tu học là nhờ sự giữ gìn biên cương, bờ cõi. Cuộc đời được ấm no hạnh phúc là do đường lối lãnh đạo kinh tế và sinh hoạt truyền thống lâu đời của cha ông. Ngoài ra, cơm ăn – áo mặc – nhà ở – tiện nghi dân sinh ta cộng hưởng là do công sức của cộng đồng nhân loại đóng góp, phát minh, xây dựng. Không chỉ biết ơn, ta còn phải ra sức làm việc để đáp đền.

    4. ÂN TAM BẢO:

    Là Phật tử, ngoài 3 ơn trên, chúng ta còn phải báo đền ân Tam bảo vì đó là 3 ngôi quí báu nhất, giúp ta định hướng đúng đắn cho đời sống, sống đời tỉnh thức, thoát khỏi luân hồi. Vì lòng từ bi, thương xót chúng sanh lặn ngụp trong đam mê, tham luyến, trôi lăn trong sinh tử, luân hồi, Phật đã hoá thân, vào ra nơi bất tịnh, nhọc lòng giáo hoá, truyền dạy vô lượng pháp môn, phương tiện dạy dỗ chúng ta tu trì, an lạc, giác ngộ. Giáo pháp của Phật, giáo đoàn của Phật thực hiện mục đích cao cả của Phật. Như vậy, Tam bảo là một trong tứ trọng ân mà Phật tử chúng ta phải thành tâm báo đền.

    II. TƯ:

    1/ Tri ân, báo ân cha mẹ không chỉ thể hiện ở việc vâng lời, thành đạt, phụng dưỡng mà còn phải trọn đời không làm gì xấu ác, không làm nhục tông môn, năng làm các việc lành, hồi hướng công đức về cho cha mẹ.

    2/ Tri ân, báo ân thầy bạn, anh chị, ta không chỉ hết lòng học tập, rèn luyện, chăm ngoan trong hôm nay mà mai sau, khi trưởng thành, ta phải nhớ thăm viếng, hỏi han, sống và làm việc thật tốt để luôn là niềm hảnh diện, tự hào cho thầy bạn, anh chị.

    3/ Tri ân quốc gia, xã hội, chúng sanh, ta phải biết trung thành với Tổ quốc, dân tộc, ra sức xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc, nhiệt tình với sự nghiệp nâng cao dân trí, phát triển dân sinh, hướng đến cuộc sống hoà bình, an lạc cho muôn người, muôn loài.

    4/ Tri ân, báo ân Tam bảo, người Phật tử phải siêng ăn chay, niệm Phật, biết sống đúng chánh pháp, năng làm việc Phật sự, hộ trì Tam bảo, bảo vệ chánh pháp.

    III. TU:

    1/ Thân cận bạn hiền, làm tròn bổn phận người con, người công dân, người Phật tử, người đoàn viên GĐPT.

    2/ Tin kính Tam bảo, dốc lòng tu tập.

    3/ Thà xả thân chứ không làm điều ác.

    Được vậy là cách báo ân thù thắng nhất.

    IV. CÂU HỎI:

    1/ Về vấn đề tri ân và báo ân, Phật đã dạy chúng ta như thế nào?

    2/ Tứ ân bao gồm các ân nào?

    3/ Vì sao với người Phật tử, chúng ta phải nhớ và đền đáp ân Tam bảo?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Đại cương kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân
    Khóa học riêng
    Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân

    Nội dung bộ Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân dài, được học theo một khóa riêng có lộ trình từng tuần.

  6. 6Ngài Bồ Đề Đạt Ma
  7. 7Ngài Khương Tăng Hội
  8. 8Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi
  9. 9Tứ nhiếp pháp
    Hình minh họa: Tứ Nhiếp Pháp

    Văn:

    Hoàng pháp lợi sanh là hạnh nguyện của chư Phật, chư vị Bồ tát. Đức Phật ra đời với một ý nguyện lợi sanh. Cho nên trong, tất cả phương tiện giáo hoá khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.

    Người Phật tử theo dấu chân Phật và Bồ tát, học Phật không chỉ riêng giác ngộ cho mình mà còn làm cho người khác cùng hiểu biết và hành trì pháp Phật cũng như mình, nghĩa là phải lợi sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không chỉ là lời nói suông mà người Phật tử phải thể hiện trọn vẹn trong quá trình học đạo, tu đạo và sống đạo của mình.

    Tứ nhiếp pháp còn gọi là 4 nhiếp sự, là nền tảng đạo đức của thế gian. Thế gian xoay quanh 4 nhiếp sự như bánh xe quay quanh trục. Đây là cương thường đạo lý của người Phật tử tại gia.

    Tứ nhiếp pháp được Phật kiến lập trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Bốn pháp.

    Muốn thực hiện tinh thần lợi sanh, đức Phật kiến lập pháp môn TỨ NHIẾP PHÁP để dạy chúng ta hành đạo như sau:

    1. Định nghĩa:

    Tứ là bốn.

    Nhiếp là nhiếp hóa, nghĩa là thâu lại gần mình.

    Pháp là pháp môn, là phương pháp thu phục người khác.

    Tứ nhiếp pháp là bôn phương pháp giúp mình xa lìa những thói hư tật xấu, hoàn thiện nhân cách, tăng trưởng phẩm hạnh, từ đó tiến đến chính phục kẻ khác. Đây là bốn phương pháp để người Phật tử thâu phục người khác về với mình, để cùng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có đưa người khác đến với ta, thì ta mới có cơ duyên hóa độ.

    Bốn phương pháp ấy là: “Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự”.

    2. Nội dung Tứ nhiếp pháp:
    a. Bố thí:

    Nói nôm na bình dân thường nói là “Cho”, nói có tình nghĩa hơn là “Giúp đỡ”, nói văn vẽ là “Tặng”, nói trang trọng đối với người trên là “Dâng”, chứa đầy màu sắc đạo vị là “Cúng dường”.

    Cho dù được gói ghém dưới nhãn hiệu nào, chữ THÍ là lấy của mình cho kẻ khác. Lấy của mình đem cho, tức ngầm chứa một sự hy sinh, dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều.

    Bố có nghĩa là cùng khắp, rộng rãi.

    Bố thí là cho một cách rộng rãi.

    Một khía cạnh khác của Bố thí, khi đã hy sinh của mình đem cho người khác là đã biểu lộ lòng thương, lòng vị tha, thay thế cho lòng vị kỷ. Đây là động cơ đầu tiên cho lòng thương rộng lớn đó là lòng Từ bi.

    Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn bằng tất cả nữa.

    Bố thí có ba phương diện:

    * Tài thí: gồm có Nội tài và Ngoại tài.

    • Ngoại tài: nghĩa là đem của cải, tiền bạc, vật dụng nằm ngoài thân để giúp đỡ đời sông thiết thực cho chúng sanh.
    • Nội tài: là bố thí chính thân mạng của mình, sức lực, lời nói, tư tưởng, ý kiến v.v… một thứ tài sản dù nghèo đến mấy cũng có và tài sản ấy mới thật là của mình. Đừng viện cớ: tôi nghèo quá, không có gì để bố thí. Cho dù nghèo tận cùng con số không, vẫn còn có thân mạng của mình, đó là vật sở hữu vô giá. Có thân mạng là có sức lực, có trí tuệ bố thí cho người khác như gặp người gánh nặng ta gánh giúp, đẩy hộ một chiếc xe lên đốc cao … Đó cũng là cách bố thí. Phật dạy rằng: “Đời ai không có thân, có thân là có thể bố thí được”

    * Pháp thí: nghĩa là đem giáo pháp chân chính mà giảng dạy cho chúng sanh thoát khỏi những đau buồn, đắng cay của cuộc đời, tạo niềm hân hoan vui sống cho họ hoặc tụng kinh niệm Phật để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.

    Đem Phật pháp cảm hoá mọi người đó mới là phương tiện chính của người tại gia phục vụ xã hội.

    Đức Phật dạy, trong mọi cách cúng dường, cúng dường Pháp là tối thắng, vì Pháp đem lại an vui lợi lạc cho đời này và vô lượng phước báu cho đời sau, là nhân giải thoát trong tương lai.

    * Vô úy thí: tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “Sự không khiếp sợ” trong những lúc nguy biến, ấy là vô uý thí.

    Làm thân người ai cũng có nỗi lo sợ, sợ đói, sợ nghèo, sợ bệnh tật, sợ thiên tai, ách nước. Vô úy thí là dùng tất cả phương tiện bố thí để giúp chúng sanh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Gặp những tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương cách giải cứu. Sự khổ sống trong sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.

    Vị Bồ tát có năng lực đem lại sự bình an cho chúng sanh là Ngài Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm thực hành như vậy mà thế giới Ta Bà gọi Ngài là “đấng bố thí sự vô uý”.

    Ngoài Tài thí, Pháp thí, chỉ riêng Phật giáo mới đặc biệt chú trọng đến pháp Vô úy thí.

    Thực hành tài thí để tương trợ đời sống vật chất cho chúng sanh. Thực hành Pháp thí để giáo hoá chúng sanh và thực hành hạnh Vô uý thí để loại bỏ những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.

    Bố thí mà chỉ mong cầu báo đáp thì chỉ có phước báu, chứ không thực sự giúp ta ta vĩnh ly khổ ách, đạt cứu cánh Niết Bàn.

    Bố thí Ba La Mật là hình thức bố thí cao cả nhất của Phật giáo. Đó là cách bố thí không thấy có kẻ bố thí, người được bố thí và của được bố thí, nên gọi là Tam luân không tịch. Câu chuyện Thái tử Tu Đại Noa nói lên ý nghĩa cao cả của việc bố thí này.

    b.Ái ngữ:

    Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hoá.

    Dùng lời nói dịu dàng, hoà ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến, rồi từ đó thân cận với mình. Nói lời hoà nhã nhằm an ủi, giúp người vượt qua sự khổ sở. Dù với bất cứ hoàn cảnh nào như đứng trước một nhân vật hung hăng, lời lẽ mình vẫn nhu hòa để cảm hóa họ trở về con đường thiện lành.

    Muốn có ái ngữ phải luôn luôn trầm tĩnh, nụ cười nở trên môi. Không nên xem thường ái ngữ, vì ái ngữ dễ nhiếp phục lòng người vô cùng. Ái ngữ là khí cụ sắc bén mà không mất tiền mua và đủ công năng khích động kẻ khác tiến lên đến chỗ tốt đẹp.

    c. Lợi hành:

    Là kết duyên với mọi người. Mỗi người sống đều có mục đích. Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích tốt đẹp mà họ mong muốn, là làm việc vì mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác.

    Lợi hành là cách thu phục lòng người nhanh nhất, hữu hiệu nhất.

    Hình ảnh vị Bồ tát Trì Địa là một tấm gương sáng về Lợi hành, suốt cuộc đời chuyên lo tu sửa đường sá, lấp các ao rạch ngăn trở lối đi, bắc cầu qua các kênh mương, gánh giúp cho người già cả, giúp đỡ kẻ tật nguyền neo đơn, từ những việc lặt vặt đến những việc lớn lao đều không từ chối nên được Phật ấn chứng.

    d. Đồng sự:

    Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục đích cảm hoá họ.

    Cùng hòa mình vào trong cảnh ngộ của người khác để dẫn dắt họ về với chánh pháp. Đây là một pháp vừa có hiệu quả lớn mà cũng vừa rất tế nhị. Cùng một cảnh ngộ thì để cảm thông với nhau hơn. Cụ thể, những người cùng nghề nghiệp rất dễ thương yêu nhau. Một tấm gương đồng sự của Bồ tát Duy Ma Cật: Đến nơi cờ bạc thì Ngài dùng nơi đó để độ người. Thấy ai Ngài cũng kính nhường. Ngài nhiếp phục kẻ lớn người nhỏ. Dạo chơi nơi ngả tư đường, Ngài giúp cho chúng sanh dự vào việc chánh trị. Vào nơi giảng luận, Ngài dùng pháp Đại thừa mà dẫn dắt kẻ khác. Vào nơi học đường, Ngài khuyên dụ và khai hóa học viên. Vào chốn ăn chơi, Ngài chỉ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào quán rượu, Ngài vẽ phác chí hướng cho những đệ tử của lưu linh. (Phẩm Phương tiện).

    Đồng sự với mọi người, với mục đích là giáo hoá. Do đó, không một chỗ nào dù là chỗ xấu xa như nơi cờ bạc, chốn buôn hương bán phấn, Duy Ma Cật lại không bước chân vào.

    Gần chúng ta hơn, Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng từ bi thương xót chúng sanh và muốn chúng sanh an lạc tự tại, Ngài hiện 32 ứng thân tùy sở cầu của chúng sanh mà thi hiện cứu độ.

    Đồng Sự với ý nghĩa cao sâu hơn, Đồng sự tức là Đồng ngã: nâng người lên ngang với mình về phương diện đạo đức. Đây là phần về Phật pháp: giúp người hiểu Phật pháp giữ giới ngang với mình, thấy người phạm giới giáo dục cho họ không phạm giới và giữ giới đã thọ như mình, giúp người khác (bạn tại gia) có kinh điển để học. Đối với người xuất gia: Kiến hoà đồng giải và Giới hoà đồng tu, đó là Đồng sự.

    Yếu tố Lợi hành, Đồng sự giúp người Phật tử chóng thích nghi với mọi môi trường ở cuộc đời và luôn tạo cho mình niềm an lạc tự tại để sống.

    Tư:

    • Tứ nhiếp pháp giúp em tạo dựng cuộc sống an lạc, tự tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
    • Tứ nhiếp pháp là một phương tiện thiện xảo để nhiếp phục, cảm hóa những người chung quanh.
    • Tứ nhiếp pháp còn giới hạn thân khẩu ý tạo tác các vọng nghiệp, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp chúng ta sớm gần với chân lý giải thóat giác ngộ.
    • Thấy người thực hành Tứ nhiếp pháp mà sanh tâm hoan hỷ thì công đức vô lượng.
    • Câu chuyện “Gã cùng tử” trong kinh Pháp Hoa làm nổi bật vai trò Thế Tôn cũng như tâm nguyện của chúng ta trên con đường phục vụ chánh pháp.

    Tu:

    • Em thực hành hạnh Bố thí để xả bỏ dần tánh tham lam keo lẩn.
    • Em dùng lời nói nhu hòa để cảm hóa những người chung quanh.
    • Luôn làm mọi việc ích lợi cho tất cả chúng sanh.
    • Tự đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân mới thấu hiểu những trăn trở của họ, từ đó sẽ thông cảm, vị tha, độ lượng, nhân từ.

    Tứ nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể. Tứ nhiếp pháp không phải là một giáo lý xuất thế, mà là yếu tố xây dựng cuộc đời, đưa mọi người vào ánh sáng chánh pháp.

    Với hạnh nguyện lợi tha, Tứ nhiếp pháp là phương tiện khéo và đủ vậy.

    Câu hỏi:

    • Tứ nhiếp pháp là gì?
    • Giải thích nghĩa 2 chữ Bố thí trong các trường hợp?
    • Thế nào là Vô úy thí?
    • Đồng sự là gì? Vị Bồ tát nào đã thực hành Đồng sự một cách rốt ráo?
    • Em thực hành Tứ nhiếp pháp như thế nào trong cuộc sống?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  10. 10Kinh Ưu Bà Tắc – Ưu Bà Di
    Khóa học riêng
    Kinh Ưu Bà Tắc giới

    Nội dung bộ Kinh Ưu Bà Tắc giới dài, được học theo một khóa riêng có lộ trình từng tuần.

Kiến thức căn bản9 bài

  1. 1Mục đích và phương tiện
  2. 2Hệ thống tổ chức một Gia Đình Phật Tử
  3. 3Nghệ thuật nói chuyện trước đám đông
  4. 4Các giai đoạn chính trong lịch sử Việt Nam
  5. 5Tôn giáo bạn: Đạo Khổng, đạo Lão
  6. 6Lịch sử truyền bá Phật giáo tại Việt Nam từ thời du nhập đến Đinh, Lê
  7. 7Ngũ minh pháp (giới thiệu Tuệ Tĩnh Thiền sư trong phần Y phương minh)
    Hình minh họa: Ngũ Minh Pháp
    A. DẪN NHẬP:

    Cách đây 2549 năm để có đủ những phương thức hoằng pháp thích hợp với từng hoàn cảnh, địa dư, phong thổ, tập quán của mỗi quốc độ, Đức Phật đã chỉ dạy cho các đệ tử năm kiến thức cần phải có của một người hoằng pháp. Và nhất là trong thế giới phức tạp ngày nay, khi mà con người bị chi phối rất nhiều vì những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa, thì năm kiến thức đó lại cần phát huy mới có thể đáp ứng kịp thời để thích hợp với xã hội mới, vì không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xã hội, thì đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai trò lãnh đạo của mình nữa.

    B. NỘI DUNG:
    1. Hành tướng của Ngũ Minh Pháp:

    Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết, để đem đạo vào đời. Đó là những kiến thức về nội minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.

    a. Nội minh:

    Nội minh l kiến thức thông suốt và kinh nghiệm thực hành về nội điển Phật giáo.

    Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, thì trước tiên mình phải tự tìm hiểu giáo lý của đạo Phật. Chúng ta đã biết rằng không hiểu giáo lý, thì không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những tình trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng vì người hành đạo thiếu sự am tường giáo lý nội điển. Vì không biết rõ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mả, giết hại sinh vật để tế Thần, tế Thánh, cúng kiến ông bà.

    Muốn cho tình trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự mình thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lý cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nội giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ “nhứt manh dẫn quần manh” ấy.

    Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lý đã dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lý. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo.

    Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đình Phật tử chẳng hạn.

    Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội điển. Phải tìm hiểu giáo lý hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lý cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rõ ràng:

    a) Hệ thống Bát nhã: Giáo lý chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lý tánh chân không.

    b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lý Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác.

    c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lý pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.

    Về mỗi hệ thống giáo lý, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lý và các pháp môn phương tiện để có thể xem ra ứng tiếp với xã hội cho hợp thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậc nhất.

    b. Nhân minh:

    Am tường giáo lý chưa đủ. Muốn trình bày giáo lý ấy một cách rỏ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lý; phương pháp luận lý ấy gọi là nhân minh.

    Nhân minh là gì? Là một môn luận lý học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng “Nhân”, nghĩa là bằng cách suy cứu đến lý do.

    Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.

    Một lập luận đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: TÔN, NHÂN, DỤ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của mình. Nhân là lý do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ:

    Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.

    Nhân: Vì ông Nguyễn Văn A đã có lúc bị sanh ra.

    Dụ: Phàm cái gì đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v…(đông dụ). Trái lại, phàm cái gì không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v.

    Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Di dụ là những thí dụ khác loại (không sinh thì không chết).

    Ta thêm một ví dụ khác:

    Tôn: Trò B sẽ bị phạt

    Nhân: Vì trò B học bài không thuộc.

    Dụ: Phàm, ai không thuộc bài thì đều bị phạt cả, như trò C, trò D (đồng dụ).

    Phàm, ai thuộc bài thì đều không bị phạt như trò Mít, trò Ổi.

    Ta nhận thấy môn luận lý nhân minh có hơi giống với luận lý học hình thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lý học này, vì nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp.

    Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối không có tính cách của dị dụ. Còn dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển Phật Học Phổ Thông khóa IX).

    Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi vì các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia.

    c. Thanh minh:

    Môn học về ngữ văn tự, về âm thanh và về văn học.

    Sự truyền giáo cũng đã rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng rãi vậy.

    Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lý tu tập; người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu.

    Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng ri vậy.

    Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đòi hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ý đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn.

    d. Công xảo minh:
    Môn học về công nghệ và kỹ thuật:

    Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện lòng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo rộng rãi trong phạm vi xã hội nhân sinh.

    Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, thì không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, thì gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi vì chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đã là một sự đe dọa ghê ghớm.

    Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo lòng vị tha và bác ái muốn cho muôn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hoạ do dục vọng gây nên.

    e. Y phương minh:

    Môn học về các phương pháp chữa bệnh.

    Các Đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, Đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đã đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thực hành một công tác xã hội rất thích hợp với lòng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật tử thì đã có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.

    Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm nom, và mỗi một ngôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.

    C. KẾT LUẬN:

    Trong thời đại hiện tại, xã hội đòi hỏi một phương thức hoằng pháp rộng rãi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phàm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xã hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được hoài bảo cứu tế to rộng của Đức Bổn sư.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  8. 8Cờ Phật giáo
    Hình minh họa: Ý nghĩa lá cờ Phật giáo

    Chuẩn bị:

    • Cờ Phật giáo.
    • Nếu được, dùng giấy màu vừa giảng, vừa đính thành cờ Phật giáo.

    Giờ hoc:

    Em nghe:

    a. Nguồn gốc:

    Lá cờ 5 sắc và 1 sắc tổng hợp, trước hết, do một đại tá người Mỹ nghĩ ra, rồi Thượng tọa Hikkduuwe Sumanga và nước Tích Lan đề nghị làm cờ Phật giáo đầu tiên ở Tích Lan năm 1885.

    Đến ngày 25 tháng 5 năm 1950, 26 phái đoàn Phật giáo thế giới trong đó có Việt Nam đã họp tại Colombo Tích Lan, quyết định dùng lá cờ ấy làm cờ Phật giáo thế giới.

    b. Ý nghĩa:

    Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc và một sắc tổng hợp theo chiều ngang.

    * Năm sắc theo chiều dọc là:

    Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng và da cam – tượng trưng cho ánh sáng hào quang của đức Phật tỏa chiếu lúc thành đạo. Năm màu ấy là biểu lộ của ánh sáng của Đức Phật, sức mạnh vô biên của Phật giáo và còn tượng trưng cho 5 căn:

    • Giữ vững niềm tin: Tín.
    • Tinh tấn dù gặp nghịch cảnh: Tấn.
    • Tưởng nhổ đạo pháp đặng cứu độ chúng sanh: Niệm.
    • Hành động vững chắc không lay chuyển: Định.
    • Phát huy trí tuệ, nhận định sáng suốt: Huệ.

    * Màu tổng hợp.

    Tượng trưng sức mạnh kết hợp lại trong hào quang chư Phật, cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.

    2. Em trả lời:
    • Cờ Phật giáo do ai nghĩ ra đầu tiên?
    • Cờ Phật giáo được thế giới công nhận năm nào?
    • Kể 5 màu thứ tự theo chiều dọc.
    • 5 màu riêng tượng trưng ý nghĩa gì?
    • Em tôn trọng cờ Phật giáo như thế nào?
    3. Em cần nhớ:

    Cờ Phật giáo thế giới được 26 phái đoàn thế giới hợp tại Colombo Tích Lan, trong đó có Việt Nam, công nhận vào năm 1950.

    Cờ Phật giáo có 5 sắc theo chiều dọc. Thứ tự: xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, da cam và màu tổng hợp.

    5 màu riêng tượng trưng cho ánh sáng hào quang của chư Phật và sức mạnh của Phật giáo. Màu tổng hợp tượng trưng cho sức mạnh vô biên kết hợp trong hào chư Phật cũng như tinh thần đoàn kết của Phật giáo thế giới.

    Chúng ta luôn luôn tôn trọng cờ Phật giáo.

    4. Em thực hành:

    Em luôn tôn trọng cờ Phật giáo,vẽ chính xác cờ Phật giáo.

    Em treo cờ Phật giáo trong các ngày vía Phật và lễ lược Phật giáo.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  9. 9Phật giáo với tinh thần dân chủ

Kiến thức và khả năng chuyên môn7 bài

  1. 1Tổ chức làng xã Việt Nam
  2. 2Giáo dục y tế: tác hại của ma túy, bệnh Sida
  3. 3Cứu thương: khái niệm và mục đích
  4. 4Thể dục: mục đích và các động tác căn bản
  5. 5Nhạc lý căn bản
  6. 6Bảng hiệu lưu thông
  7. 7Mục đích và những điểm cơ bản về bảo vệ môi trường sinh thái