Tu học GĐPT

Ngành Thiếu · Bậc 9/16 trên lộ trình

Bậc Chánh Thiện

Tinh thần chủ đạoAn Nhẫn – Vô Úy

  • 2 năm
  • 62 bài
10 phần · 62 bài

Năm I · Phật pháp – Kiến thức13 bài

  1. 1Thập nhị nhân duyên
    Hình minh họa: Mười hai nhân duyên
    A. DẪN NHẬP:

    Mười hai nhân duyên là cách trình bày đặc biệt của giáo lý “Duyên khởi”. Giáo lý này được đức Phật nói đến rất nhiều trong các Kinh tạng, khi Ngài chứng ngộ được nguyên lý “Thập nhị nhân duyên”, thấy được các nhân duyên hình thành nên vũ trụ vạn hữu sau 49 ngày tham thiền nhập định vào ngày mùng 8 tháng 12 Âm lịch (theo kinh Phật Bản hạnh là ngày trăng tròn tháng 12). Tuy nhiên không phải ngay từ buổi đầu, Đức Phật thuyết 12 nhân duyên mà Ngài chỉ đơn giản nói một duyên, hai duyên hoặc ba duyên …. Thuyết 9 nhân duyên được Phật nói đến trong kinh Mahanidana Digh Nikaya 19 tạng Pali; thuyết 10 duyên được Phật nói đến trong kinh Thành Dụ; còn thuyết 12 nhân duyên thì được Phật nói đến trong kinh Đại Duyên. Ngoài thuyết 12 nhân duyên của Mahanidana – Sùtra chúng ta còn thấy thuyết 24 nhân duyên của Buddhaghosa ở trong Visuddhumagga.

    B. NỘI DUNG:
    I. HÀNH TƯỚNG CỦA THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN:

    Mười hai nhân duyên Tức là Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử làm nhân làm duyên cho nhau.

    1. Vô Minh: (Avijya)

    Tức là tăm tối, mù mờ, không nhận thức sáng suốt. Phật dạy: “Thế nào gọi là Vô minh? Tức là không nhận thức được sự có mặt của khổ, không nhận thức được nguyên nhân gây ra đau khổ, không nhận thức được hạnh phúc khi chấm dứt nguyên nhân đau khổ và không nhận thức được con đường của sự chấm dứt nguyên nhân đau khổ, gọi là vô minh”.

    2. Hành: (Sànkhàra)

    Tức là hành động (Action), động lực trong tâm khi bị khuấy động bởi vô minh (Cái giận, cái ghét, cái buồn, cái bực bội, thù hận, v. v..Tất cả những hiện tượng ấy đều do vô minh khuấy động). Trong kinh Phật dạy: “Hành có ba loại: Thân hành, khẩu hành và ý hành”. Như vậy chúng ta thấy đức Phật không chỉ công nhận mọi hành vi của thân, khẩu, mà ngay cả trong ý niệm, suy tư, tình cảm đều được gọi là Sànkhàra.

    3. Thức: (Vijnàna)

    Thức là ý thức, là sự hiểu biết, là khả năng biểu hiện và nhận thức, được thúc đẩy bởi một sự phát triển nội tại theo quy trình của Nghiệp thức do một nhân tố có tính quyết định đó là Chủng tử Thức A Đà Na.

    4. Danh sắc: (Nàma, Rùpa)

    Danh ở đây không phải là tên gọi mà chỉ cho tâm lý (Psycho). Tâm lý theo Phật giáo nguyên thuỷ thì đó gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc tức là vật lý (Physics) những hiện vật chất, thời gian, không gian. Phật dạy: “Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý gọi là Nàma và tứ đại là Rùpa”

    5. Lục Nhập: (Sabhàytana)

    Cũng còn gọi là lục xứ. Thế nào gọi là lục xứ, tức là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xứ tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sự gặp gỡ của lục căn và lục trần gọi là lục nhập.

    6. Xúc: (Phassa)

    Tức là xúc chạm, tiếp xúc. Xúc là một tâm sở biến hành, nó được tạo ra bởi lục nhập. Nhưng phạm vi của xúc là sự va chạm giữa căn và trần, sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng.

    7. Thọ: (Vedàna)

    Tức là nhận lãnh, cảm thọ gồm: khổ thọ, lạc thọ, phi khổ phi lạc thọ. Cảm thọ được phát sinh do sự xúc chạm. Từ sự xúc chạm mà phát sinh cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác trung tính. Phật dạy: “Thọ có sáu loại: Thọ phát sinh từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Đây gọi là thọ”.

    8. Ái: (Tanha)

    Tức tham ái, vương vấn, thèm muốn, khao khát. Sự thèm muốn, khao khát cái gì? – Đó là sự khao khát về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Chính sự khao khát vấn vương là nguồn gốc của khổ đau. Phật dạy: “Chính Tanha (ái) hướng dẫn đến đời sống khác, đi tìm hỷ và tham, tìm kiếm hỷ lạc tại chỗ này, chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này các thầy khất sĩ đây gọi là nguồn gốc của khổ đau”.

    9. Thủ: (Upàdàna)

    Tức là mắc kẹt, vì tham ái, vương vấn nên mới mắc kẹt. Sự mắc kẹt có nhiều phương diện. Phật dạy: “Có 4 loại thủ chấp: Dục thủ (sự mắc kẹt vào tham muốn), Kiến thủ (mắc kẹt vào nhận thức), Giới cấm thủ (mắc kẹt vào những giới điều), Ngã luận thủ (mắc kẹt vào ý niệm về ngã). Bốn loại này đều gọi là chấp thủ”.

    10. Hữu: (Bhara)

    Có nghĩa là có– sự hiện hữu, sự có mặt. Vì mắc kẹt cho nên mới có hiện hữu. Vì mắc kẹt vào Dục, Giới cấm, Ngã và Kiến nên mới có sanh, tử luân hồi tam giới lục đạo. Hữu tức là sự hiện hữu của tam giới, (Dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Thầy Buddhaghosa nói: “Hữu có chín loại: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, Tưởng hữu, Phi tưởng hữu, Nhất uẩn hữu, Tứ uẩn hữu và Ngũ uẩn hữu”.

    11. Sinh: (Jàti)

    Tức là sự biểu hiện– Phật dạy: “Cái thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác, là sinh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, sự xuất hiện của các uẩn, sự hình thành của các xứ. Đây gọi là sinh”. Đối với con người thì sự biểu hiện của danh sắc hay ngũ uẩn gọi là Jàti.

    12. Lão tử: (Jàra – Marana)

    Tức là già chết, sự hoại diệt. Phật dạy:“Cái gì thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác là già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, các căn suy hoại. Đây gọi là già. Cái thuộc chúng sinh bộ loại này hay bộ loại khác là chết, là sự tách rời là sự tiêu mất, là tử vong; các uẩn tan rã, vứt bỏ. Đây gọi là chết”.

    II. Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN:

    Thập nhị nhân duyên là 12 nguyên lý giải thích sự hình thành của các loài sinh động vật trong vũ trụ. Đây là sự triển khai và cụ thể hóa “Lý Duyên sanh”, là một giáo lý đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, là cốt lỏi của nhân sinh quan Phật giáo. Lý Duyên sanh được tóm tắt trong một nguyên tắc hết sức giản dị nhưng bao quát được nguyên lý hình thành nên vũ trụ vạn hữu:

    • Do cái này sanh, cái kia sanh.
    • Do cái này diệt, cái kia diệt..

    Điều này cho chúng ta thấy được rằng giáo lý Thập nhị nhân duyên là một giáo lý căn bản trình bày tướng trạng của sanh tử luân hồi với sự liên hệ mật thiết cùng định luật Nhân quả, đồng thời nó cũng nói lên mối tương quan sinh thành của các sự vật trong vũ trụ. Đó cũng là quy luật của sự sống chết, sự sinh diệt, một quy luật chi phối đời sống của mọi sinh vật hiện hữu trong vũ trụ.

    1. Nhân:

    Tức là nguyên nhân, điều kiện căn bản, cũng có khi gọi là hạt giống, là yếu tố quyết định, là điều kiện sinh khởi có mặt của một hiện hữu. Trong truyền thống Phật giáo Bắc phương cũng như Namphương đếu có nói tới 6 nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân và Dị thục Nhân.

    2. Duyên:

    Tức là điều kiện hổ trợ, những yếu tố tác động giúp nhân sinh khởi. Abhidharma có nói tới 4 duyên: Nhân duyên, Tăng thượng duyên, Đẳng Vô gián duyên và Sở duyên duyên.

    Tóm lại nhân duyên trong 12 nhân duyên hàm ý nghĩa “nhân duyên khởi”: sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi.

    III. NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH CỦA 12 NHÂN DUYÊN:
    1. Đồ hình biểu thị sự vận hành của 12 nhân duyên:
    Hình minh họa: Mười hai nhân duyên
    2. Ý niệm tam thế lưỡng trùng:

    Từ đồ hình biểu thị trên cho ta thấy Mười hai nhân duyên đã được xây dựng và thành lập ra lý thuyết tam thế lưỡng trùng. Tam thế tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Lưỡng trùng là hai lớp nhân quả. Theo thuyết này thì Vô Minh, Hành được xếp vào quá khứ. Thức, danh sắc, Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc về hiện tại. Sinh và lão tử được xếp vào tương lai. Trong 12 chi thì vô minh và hành thuộc về kiếp trước, còn sinh và lão tử thuộc về kiếp sau. Thức … Hữu thuộc về đời hiện tại. Sự phân chia này có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy hiểm vì người học có thể hiểu lầm rằng nếu sinh và lão tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có sinh và lão tử. Cũng vậy, vô minh và hành được xếp trong quá khứ, nhưng chúng ta cũng biết trong hiện tại có vô minh và hành. Trong tất cả các chi phần của 12 nhân duyên, ta đều nhận ra sự có mặt của vô minh và hành.

    Trên một ngàn năm qua, thuyết tam thế lưỡng trùng được coi như mẫu mực. Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc được xem như là quả, mà nhân là Vô Minh và Hành. Trong kiếp trước đã có nhân Vô minh và Hành cho nên hiện tại phải có quả là có Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc. Đó là cặp nhân quả đầu. Rồi lại vì có Thọ, Ái, Thủ, Hữu mà chúng ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả Sinh và Lão tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các duyên, nối kết quá khứ, hiện tại, vị lai cho nên gọi là tam thế lưỡng trùng.

    3. Hai pháp quán “Lưu chuyển” và “Hoàn diệt”:

    Từ định lý Duyên khởi đã chứng đắc “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này không thì cái kia không và cái này diệt thì cái kia diệt”. Đức Phật đã thuyết minh về 12 nhân duyên như sau:

    • “Do vô minh có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi khỗ, ưu não hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi”.
    • “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt;....; do sinh diệt nên lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy toàn bộ khỗ uẩn đọan diệt. Này các Tỷ kheo như vậy gọi là đọan diệt”.

    Mười hai nhân duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng lưu chuyển (sinh khởi: do vô minh, hành sinh...) và chiếu hướng hoàn diệt (còn gọi là đoạn diệt: do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt...).

    + Quán Lưu chuyển: Quán sát trạng thái sinh khởi trong 3 đời: Vô minh, Hành ở quá khứ; Sanh, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, quả trong hiện tại; Ba quả hiện tại lại làm nhân là Ái, Thủ, Hữu dẫn đến quả vị lai là Sanh, Lão, Tử.

    + Quán hoàn diệt: Khi 12 nhân duyên được tập khởi, nghĩa là năm uẩn tập khởi và đây là chiều hướng của khổ đau, luân hồi. Khi 12 mắc xích này bị phá vỡ thì cấu trúc của năm uẩn cũng tan rã và đây là con đường của an lạc, giải thoát.

    C. SUY NGHIỆM:

    Mười hai nhân duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe là con người. Vì con người bị vướng mắc nặng vào Vô Minh, Ái và Chấp thủ nên Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục đích giải thoát, giác ngộ. Đây không phải là một giáo lý dùng để đối trị chấp ngã hay nhằm giải thích thế giới; mà đây là một sự thật và là một pháp tu tập vì giải thoát thiết thực cho con người. Cuộc sống là sự hiện hữu của các mối tương quan đa phương giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên. Khi một cá nhân sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và ngược lại. Mỗi người phải có trách nhiệm với cộng đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ cá nhân mình.

    Mười hai nhân duyên là một giáo lý vô cùng tinh tế và khó hiểu, bởi con người vốn đã quen với nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một nhận thức đúng về giáo lý này đòi hỏi phải có sự quán sát và tư duy thường xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý 12 nhân duyên theo pháp quán “Hoàn diệt”, chắc chắn sẽ từng bước mang đến cho chúng ta một cuộc sống độ lượng, vị tha, giải thoát và an lạc trong hiện tại. Bởi như lời Phật dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Ta (Phật)”. Thấy Phật là thấy được thực tại tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính, bị giới hạn bởi vô minh, tham ái và chấp thủ này.

    D. TU TẬP:

    Tóm lại thuyết mười hai nhân duyên mà Đức Thế Tôn dạy nó không phải là một lý thuyết mà là một pháp môn hướng dẫn tu tập; là con đường chuyển hóa khổ đau và đem lại hạnh phúc an lạc.

    Vậy để tu tập 12 nhân duyên thì chúng ta phải không gây nhân hiện tại là Ái, Thủ, Hữu. Vì đó chính là Vô minh của quá khứ. Một khi Ái, Thủ, Hữu hiện tại không còn thì dĩ nhiên chúng ta không còn tái sanh trong đời sau nữa. Do đó mà Tam tạng giáo điển thường xuyên nhắc ta đoạn tận tham ái và chấp thủ chính là để đoạn diệt gốc khỗ đó.

    Trong tinh thần một Đoàn sinh bậc Chánh thiện của Gia Đình Phật Tử các em cần phải quyết tâm:

    • Luôn luôn ghi nhớ và thực hành châm ngôn Bi Trí Dũng và 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.
    • Phát nguyện trai kỳ (ăn chay hàng tháng tối thiểu là tứ trai) nhằm giúp chúng ta trưởng dưỡng thân tâm.
    • Thọ trì ngũ giới một cách triệt để giúp chúng ta đoạn trừ tham ái.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Giới – Định – Tuệ
    Hình minh họa: Giới – Định – Tuệ
    A. DẪN NHẬP:

    Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh, bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng lúc nào đức Phật cũng dành nhiều thời gian để chỉ bày cho chúng đệ tử kỹ càng về ba môn học gọi là Giới-Định-Tuệ, xem như là con đường độc đạo, một đáp án thỏa đáng và rốt ráo duy nhất cho bài toán để giải quyết tận gốc rễ vấn đề khổ đau của con người. Để rồi qua hơn 25 thế kỷ, ba môn học Giới-Định-Tuệ vẫn rực sáng như 3 viên dạ minh châu trong toàn bộ kho tàng giáo lý của Như lai cũng như kho tàng triết học – khoa học của nhân loại.

    B. NỘI DUNG CỦA GIỚI – ĐỊNH – TUỆ:
    1. Giới học:

    Nói cho đủ là Giới luật, tức là giới pháp, quy luật để ngăn ngừa những điều tà quấy của đệ tử Phật (theo Từ điển Phật học Huệ quang tập II- Tr.1719). Như vậy giới luật có nghĩa “phòng phi chỉ ác, biệt biệt giải thoát” (ngăn ngừa mọi tội lỗi, đọan diệt tất cả các tội ác và tùy theo năng lực giữ giới, nếu giữ được một giới thì được giải thoát một phần tội ác và giữa được nhiều giới thì giải thoát được nhiều phần), thực hành giới luật là phương pháp điều trị thân và khẩu ở bên ngoài cho được thanh tịnh để nhờ đó tâm ý bên trong cũng được thanh tịnh. Giới như phương thuốc chữa bệnh, còn bệnh thì còn thuốc, hết bệnh thì thuốc không cần. Vì vậy mà giới không phải bất di bất dịch, khi nào còn tạo tội lỗi thì giới là điều cần thiết, khi thân tâm thanh tịnh thì giới cũng tự tiêu tan. Vì vậy bước đầu tu học, mỗi mỗi việc làm đều phải cố gắng giữ gìn thân, khẩu đừng cho mắc phải những điều tội lỗi để tâm thần thanh thản an vui.

    Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, cho nên trước khi đức Thế Tôn nhập Niết bàn, Ngài đã căn dặn: “Các thầy Tỳ kheo, sau khi Như Lai diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức Thầy cao cả của các thầy. Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy”.(Kinh Di giáo – HT.Trí Quang dịch)

    2. Định học:

    Tiếng Phạn là Samãdhi tức tâm chuyên chú vào một đối tượng, đạt đến tinh thần không tán loạn hoặc chỉ cho trạng thái vắng lặng của tâm thức (theo Tự điển Phật học Huệ quang –Tập II, Tr. 1522). “Tâm viên ý mã” là một thành ngữ nói lên đặc tính của tâm thường hay lăng xăng, vọng động, không bao giờ ngừng nghỉ. Để tâm lắng xuống, không vọng động theo ngoại cảnh, ấy là trạng thái tâm lý của Định. Thế gian nầy sở dĩ có sinh tử luân hồi triền miên chỉ vì tâm chúng sanh còn vọng động, nhiểm ô tội lỗi, vô minh che lấp. Vì vậy phải tu định để chấm dứt những tà niệm dấy khởi, để trong mỗi niệm khi đi, đứng, nằm, ngồi ta luôn luôn giữ được chánh niệm tỉnh giác. Trong Thiền định, Thiền là diễn tiến còn Định là cứu cánh và thực hành Thiền để đạt Định bởi Định là nhân tố căn bản của giải thoát, Niết bàn, một trạng thái tâm lý thoát ra ngoài ý thức suy luận, vượt lên trên mọi hiện tượng hiện hữu của thế giới trần tục. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phân biệt rõ trong Thiền định, Thiền là sự vận dung tư duy để thể nghiệm chân lý, còn Định là xã bỏ tư duy để thể nhập chân lý, chứng quả Niết bàn.

    3. Tuệ học:

    Tiếng Phạn Adhiprajnã tức là Trí tuệ quán xét chân lý để đoạn trừ vọng hoặc. Còn Tuệ (tiếng Phạn là Prajnã) là Trí phán đoán sự vật. Ngoài ra cần lưu ý Tuệ và Trí thường được gọi chung nhưng thực ra có nghĩa khác nhau: Thông đạt sự tướng hữu vi gọi là Trí; thông đạt đến lý không, vô vi gọi là Tuệ (Theo Tự điển Phật học Huệ Quang – Tập II,Tr.1963).

    Tóm lại Tuệ theo Phật giáo dùng để chỉ một khả năng nhận thức có đủ 3 tác dụng:

    • Liễu tri (Parinnata): biết rõ sự vật.
    • Thắng tri (Abhinnatha): biết thấu đáo bản chất thật sự của sự vật: “V ô thường, khổ, vô ngã và biết thấu đáo hành nghiệp của mỗi chúng sanh”.
    • Đoạn tận (Pahanatha): chấm dứt được khổ đau nhờ đoạn tận mọi nguyên nhân tập khởi của chúng.

    Qua 3 tác dụng trên đã cho ta thấy rõ một điều thật hiển nhiên đó là: Nhận thức thông thường của con người chỉ có tác dụng làm giàu ta bằng kiến thức, và mỗi khi nó không tự liễu tri và thắng tri chính mình thì nó tự tha hóa và làm băng hoại bản thân bằng cách chạy theo những ảo giác của cuộc đời để thâu lượm kiến thức. Trái lại tuệ giác chỉ có thể đạt được bằng con đường tu tập giới và định mới có thể diệt trừ được bóng tôi vô minh để đạt được quả vị giải thoát.

    C. SUY NGHIỆM:
    1. Vị trí Giới Định Tuệ trong hệ thống pháp môn tu học:

    Tam tạng tang giáo điển Kinh – Luật – Luận là toàn bộ kiến trúc của ngôi nhà Phật giáo nhằm mục đích thăng hoa cuộc sống con người về mặt tinh thần, trong đó đã nêu rõ 2 phạm trù một cách rõ nét: phạm trù của bề rộng kiến thức là phần kinh văn của Kinh Luật Luận và phạm trù của chiều sâu về tư duy nội dung là phần hành trì, mà giáo lý Tam vô lậu học Giới-Định-Tuệ được xem như là nòng cốt.

    2. Tương quan Giới Định Huệ:
    • Giới – Định – Tuệ là một pháp môn có mối quan hệ mật thiết với nhau vì cả 3 đều khẳng định rằng: Con đường thấu hiểu những chân lý là con đường phải trải qua những hành động thực tế, phải qua chứng ngộ và đạt kết quả cao hay thấp là do năng lực phấn đấu, tu tập của bản thân từng người.
    • Giới – Định – Tuệ là 3 giai đoạn phát triển của nhận thức, của quá trình khai sáng trí tuệ, có mối liên quan nhân quả với nhau, chúng ta không nên hiểu một cách cứng nhắc máy móc, qua bước này mới tới bước kia. Mà cần phải thấy rõ là không phải các bước phát triễn tuần hoàn mà nhiều lúc diễn ra đồng thời liên tiếp nhau.
    • Tiến trình Giới – Định – Tuệ là tiến trình bao hàm những bước phát triển tiệm ngộ và đốn ngộ (tiệm tiến và đột biến), cho nên chỉ có hiểu rõ tinh thần nầy mới có được quan điểm đúng đắn với các danh xưng về các ngôi vị Phật quả theo đúng thực chất trong trình độ tu chứng.
    3. Những tác dụng của Giới Định Tuệ trong đời sống:

    Người Phật tử khi tinh tấn thực hành Giới Định Tuệ một cách nghiêm túc thì gặt hái được những tác dụng vào đời sống thực tế đối với bản thân, gia đình và xã hội:

    • Đào tạo một tinh thần kỷ luật.
    • Sanh định: gột rửa được những tâm lý nhiễm ô như tam dục, hận thù..
    • Sống an lạc và tự chủ.
    • Giữ gìn sự hòa hợp và đoàn kết.
    • Duy trì mạch sống của Phật pháp.
    • Chí nguyện vững bền.
    • Đưa đến tuệ giác cứu cánh.
    D. TU TẬP GIỚI ĐỊNH TUỆ TRONG ĐỜI SỐNG:

    Con đường Trung đạo thông qua pháp môn Giới – Định – Tuệ đưa chúng ta đến giải thoát, an lạc đã rộng mỡ, chúng ta hãy nhanh chóng khởi hành với một tâm hồn khát khao đón nhận, cùng một ý chí kiên định. Đừng bao giờ còn phát sinh ý nghĩa không có con đường nào để chúng ta vượt qua bể khổ của cuộc đời, mà vì chúng ta đã không chịu đi trên con đường đã được đức Thế Tôn dọn sẵn hơn 25 thế kỷ qua. Bởi Giới Định Tuệ là căn bản của giác ngộ và giải thoát, là nguyên tắc cơ bản trong vô lượng pháp môn, do đó để áp dụng trong thực tế, chúng ta cần phải:

    • Nghiêm trì giới luật: Không giải đãi, trong mỗi cử chỉ, lời nói, việc làm phải dè dặt, xét đoán luôn luôn vì mục đích làm lợi cho những người chúng quanh nhằm thể hiện lối sống từ bi, hỷ xã.
    • Tu tập Thiền định: Chọn và xử dụng những phương pháp phổ biến để tu tập như Sổ tức – Niệm phật – Quán tưởng nhằm giúp cho việc xã bỏ các vọng tưởng, không để tâm vọng động theo ngoại cảnh, ngũ dục, triền cái.
    • Gần gủi các bậc Thiện tri thức: tham vấn học hỏi giáo pháp, tinh tấn hành trì để phát huy những sở đắc trong việc hành trì.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Lý nghiệp báo
    Hình minh họa: Lý nghiệp báo

    A. dẫn nhập:

    Đức Phật đã dạy: “Con người là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự của Nghiệp. Nghiệp là thai tịnh mà từ đó con người được sinh ra, Nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa” (Kinh Trung bộ). Như vậy sự hiện hữu của con người cũng chính là sự hiện hữu của Nghiệp, mà tác nhân của Nghiệp chính là kết quả của những gì đang hiện hữu trong cuộc sống của mỗi cá nhân hay cộng đồng xã hội, và đó chính là vấn đề Nghiệp báo mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây.

    B. nội dung:

    Hành tướng của lý nghiệp báo:

    1. Định nghĩa về Nghiệp và các tính chất của Nghiệp:
    a. Định danh:

    Nghiệp tiếng Phạn gọi là Karma, tiếng Tàu dịch là Tạo tác, tức là những hành động của Thân khẩu và ý tạo thành sức mạnh gây ra hậu quả cho tự thân và hoàn cảnh.

    b. Phân loại Nghiệp:

    Nói đến năng lực tạo tác và nguyên nhân tạo nghiệp thì chúng sanh nói chung, con người nói riêng có 3 nghiệp: Thân nghiệp – Khẩu nghiệp và Ý nghiệp. Tuy nhiên tùy theo tính chất và hiệu năng khác nhau mà Nghiệp được phân làm nhiều loại với các tên gọi khác nhau:

    b1. Phân loại theo tên gọi:

    + Thiện nghiệp: Tư duy và hành động về các điều thiện.

    + Ác nghiệp: Tư duy và hành động về các điều ác.

    b2. Phân loại theo tiến trình:

    + Định nghiệp: Nghiệp được lưu chuyển trong thời gian ổn định và từ nhân đến quả thống nhất với nhau (Ví dụ: Trứng gà thì nở ra con gà, Ăn thì no)

    + Bất định nghiệp: Nghiệp không dẫn tới kết quả, hoặc kết quả sẽ thành tựu trong thời gian bất định, hoặc giữa kết quả và nguyên nhân hoàn toàn không thống nhất với nhau.

    b3. Phân loại theo thời gian:

    + Nghiệp củ: Nghiệp tích lũy từ nhiều đời, từ vô thỉ đưa đến quả hiện tại.

    + Nghiệp mới: Nghiệp do những hành động tạo tác của Thân khẩu ý trong hiện tại.

    b4. Phân loại theo tính chất:

    + Dị thời nhi thục: Thời gian chín muồi của nghiệp quả khác với thời gian tạo nghiệp (nghiệp nhân).

    + Dị lọai nhi thục: Kết quả bị biến chất so với thời gian mới tạo nghiệp (Ví dụ: trái xoài từ xanh đến chín vàng).

    + Biến dị nhi thục: Kết quả bị biến thái và biến tướng so với thời gian mới tạo nghiệp (Ví dụ: Trái cây còn non so với trái cây đã chín vàng).

    b5. Phân loại theo năng lực:

    + Tập quán nghiệp: Nghiệp huân tập bởi một thói quen trong đời sống hằng ngày.

    + Tích lũy nghiệp: Nghiệp chất chứa từ đời này qua đời khác.

    + Cực trọng nghiệp: Nghiệp gây ấn tượng xấu ác cực mạnh lấn lướt các nghiệp khác.

    + Cận tử nghiệp: Sức mạnh tâm lý tác động và chi phối con người trước lúc lâm chung.

    b6. Các tên gọi khác của Nghiệp:

    + Bạch nghiệp: nghiệp thiện

    + Hắc nghiệp: nghiệp ác

    + Phi hắc, bạch nghiệp: nghiệp vô ký (không thiện, không ác).

    + Biệt nghiệp: nghiệp riêng của mỗi người

    + Cọng nghiệp: nghiệp chung của nhiều người

    + Thánh nghiệp: nghiệp đưa đến Thánh đạo

    + Duy tác nghiệp: nghiệp không đưa đến kết quả

    + Chướng nghiệp: cản trở sự kết thành của quả.

    + Đoạn nghiệp: tiêu diệt các năng lực sanh ra nghiệp.

    + Hữu lậu nghiệp: nghiệp làm cho con người phải trôi lăn trong sanh tử luân hồi.

    + Bất động nghiệp: là nghiệp của hàng chư Thiên ở cỏi Sắc giới và Vô sắc giới, tu theo sức định mà thọ quả báo.

    + Bất tư nghì nghiệp: không vướng bận vào nghiệp nào mà lại có thể hóa thân vào vô số nghiệp để hóa độ chúng sanh. Đây là nghiệp của những vị thấy rõ được chân tâm.

    2. Định nghĩa về quả báo vào tính chất của quả báo

    a. Định danh:

    Quả báo là kết quả báo ứng tương xứng với các nghiệp nhân đã tạo ra.

    b. Các món quả báo:

    + Chánh báo: kết quả báo ứng về tự thân do nghiệp chi phối riêng cho từng người (Ví dụ: tánh tình, hình dáng...)

    + Y báo: kết quả báo ứng qua hoàn cảnh của từng người hay một cộng đồng xã hội (gia đình, họ hàng, dân tộc...)

    c. Thời gian trong quả báo:

    + Hiện báo: Những hành động tạo nghiệp được xảy ra ngay trong cùng một kiếp.

    + Sanh báo: Những hành động tạo nghiệp có kết quả liền ngay sau một kiếp khác.

    + Hậu báo: Những hành động tạo nghiệp qua nhiều kiếp mới có kết quả.

    d. Quả báo với ảnh hưởng tự tâm:

    + Quả báo tự tâm: Do hành động chủ ý của bản thân vì thù ghét, vì lợi lộc.

    + Quả báo đối đải: Do hành động vô tình hay nghiệp nhân của kiếp trước.

    II. NHỮNG HỌAT ĐỘNG DẪN ĐẾN NGHIỆP:
    1. Hoạt động có chủ ý của loài hữu tình:

    Nghiệp chỉ cấu thành khi những hoạt động được thúc đẩy bởi ý thức có chủ ý, có mục tiêu, có suy xét rồi đưa đến phán quyết phải làm như thế này, phải làm như thế kia và bước cuối cùng là hành động và những điều này chỉ xảy ra trong hữu tình giới. Còn những hoạt động của vô tình giới thì không thể cấu thành nghiệp vì những hoạt động đó là những hoạt động không có ý thức, mà được tiến hành bởi tự nhiên (Ví dụ: nước chảy thì đá mòn)

    2. Hoạt động gieo nhân của con người:

    Ở đây điều trước tiên là cần phải hiểu và nhận định rõ nét về hai vế của “Nghiệp báo” đó là “Nghiệp nhân” tức là tư duy hành động tạo tác và “Nghiệp quả” tức là tiến trình tạo ra kết quả của chính hành động tạo tác đó. Vì thế nghiệp quả (tức là nghiệp báo) là những kết quả thể hiện ngay nơi những loài hữu tình cư trú để sinh hoạt hầu thọ nhận những nghiệp nhân tương xứng đã tạo ra: ngạ quỹ, súc sanh hay các loài cao hơn ở các tầng trời Sắc giới và Vô sắc giới. Do đó cho chúng thấy “Nghiệp nhân” mới là chính yếu vì những hoạt động của nó sẽ cấu thành “Nghiệp quả” cho kiếp sau. Do đó mà hoạt động này chỉ chú trọng ở con người, bởi lẽ đây là một cõi có đủ 2 yếu tố và tính chất để vừa sinh hoạt trả quả và hoạt động gieo nhân:

    + Ý nghiệp (Tư): nghiệp khởi động với một chủ ý muốn đạt được mục đích nào đó mà đã suy tư tính toán: Đây là giai đoạn chưa biểu lộ ra ngoài.

    + Biểu nghiệp: Sau khi suy tư tính toán dứt khoát, nghiệp tác dụng qua 2 phương tiện thân và khẩu để hoạt động. Đây là giai đoạn biểu lộ qua 2 mặt thân và khẩu và tất cả đều thấy rõ.

    + Vô biểu nghiệp: sau khi hành động thân và khẩu chấm dứt. Nghiệp ẩn chìm và mọi người kể cả bản thân cũng không còn nhận biết hành động của nghiệp.

    3. Quả báo hay di thục:

    Quả báo không phải chỉ là một liên hệ nhân quả theo nguyên tắc luận lý kiểu toán học hay lối luận lý đạo đức của thế gian. Mà trái lại Nghiệp luôn luôn có riêng một kết quả báo đáp tương xứng với chính nó. Vì theo nguyên tắc, đời sống hiện nay của mỗi người là quả báo của nghiệp nhân của đời trước; còn cái nghiệp nhân khác mà ta đang gieo rắc thì chúng sẽ có riêng cả một hoạt động chuyển biến phát triển thành quả cho đời sống kiếp sau. Do đó mỗi nghiệp nhân sẽ có chánh báo và y báo riêng tương xứng, và vì giới hữu tình nên không thể có 2 đời sống tức là 2 quả báo cùng một lúc, thế nên các nghiệp nhân chúng ta tạo nên sẽ chờ đợi quả báo của đời sống hiện tại chấm dứt thì nó sẽ biến chuyển thành quả đời sau từ đó mà có tái sinh, luân hồi. Vì lẽ đó quả báo của nghiệp mới được gọi theo danh từ chuyên môn là “Dị thục” (Vijàka) với 3 tính chất của nghiệp là: Dị thời nhi thục – Dị loại nhi thục – Biến dị nhi thục.

    4. Các nhân tố thành lập nghiệp:

    Khi tâm suy tính là tâm dựa vào các dữ kiện như thân khẩu và hoàn cảnh chung quanh mà suy tính, và tâm muốn đạt đến mục tiêu cụ thể dĩ nhiên phải sử dụng đến thân khẩu để hoạt động đối xử với hoàn cảnh chung quanh. Do đó thân khẩu và hoàn cảnh chung quanh chính là điều kiện phải có, cho nghiệp có phương tiện và có chỗ để hoạt động đó gọi là “Vô tình thế gian” (loka) hay “Khí thế gian” (bhàjanaloka).

    Phương tiện thân khẩu sở dĩ hoạt động do tâm suy tính thôi thúc, mà sự thôi thúc này thì lại chính là lực hoạt động của phiền não, tham sân si. Nhưng xét cho cùng thì phiền não này không hề là Ngã hay có ngã, mà chỉ do tâm vô minh không thấy rõ chân lý Vô Ngã, lại vọng tưởng cho rằng có Ngã. Thế nên phân biệt thành ta với người mà thành ra đồng loại chung sống hoạt động với nhau gọi là “hữu tình thế gian” và từ cuộc sống với những hoạt động va chạm mà thành những nghiệp thiện và ác.

    Do đó vô minh cũng như phiền não là những nhân tố chính yếu để khởi động Nghiệp

    5. Nghiệp là nhân của luân hồi mà cũng là nên tảng của Đạo:

    Nhân duyên tác thành nghiệp của chúng sinh là do tâm suy tính mà động lực thúc đây lại là bối cảnh của 2 phạm trù “vô tình thế gian” và “hữu tình thế gian”. Do đó dù con người có xoay sở để tạo ra bao nhiêu loại nghiệp, theo bao nhiêu cách thì cũng chỉ là một nguyên tắc nhân quả mà thôi. Vì nghiệp chính là nhân, mà đã có nhân tức có quả, mà có quả tức là tái sinh luân hồi tức còn khỗ, sinh tử. Tóm lại nghiệp là nguồn gốc của luân hồi. Song đó chỉ là do nơi tính chất phiền não của tự thân các nhân duyên chứ không phải là lỗi nơi nguyên tắc của nhân duyên (Ví dụ: khi ăn phải chất độc thì bị đau: đó là lỗi nơi chất độc chứ không phải lỗi do ăn). Song với Đại thừa Phật giáo quan niệm nguyên tắc nhân duyên của Nghiệp là căn bản chung vừa cho luân hồi mà vừa cho cả con đường tu Đạo (Ví dụ: nấu ăn vừa phải và vừa đủ chất dinh dưỡng thì người ăn sẽ có được một bữa ăn ngon và thân thể khỏe mạnh hoặc trái lại. Vậy khỏe mạnh hay ốm đau đều cùng một nguyên tắc ăn mà ra), cũng thế chúng sanh đau khổ luân hồi hay được giải thoát thành Phật đều cùng một nguyên tắc nhân duyên của Nghiệp mà ra. Nếu tâm suy tính và phát khởi những đại nguyện với một Bồ đề tâm để cứu độ quần sanh, thì với cái nhân duyên ấy sẽ trở thành nhân của Đạo (tức là cơ sở hay nền móng của Đạo). Ý nghĩa này hoàn toàn rành mạch rõ ràng trong tiến trình vận hành của 12 nhân duyên đưa đến sanh tử luân hồi của hữu tình giới.

    C. suy nghiệm:

    Nguyên tắc của nghiệp là nền tảng của tất cả mọi pháp dù là thế gian hay xuất thế gian, điều đó cho chúng ta thấy rằng mỗi người chúng ta đều phải tự chịu trách nhiệm những gì mà mình tạo tác từ thân khẩu ý. Bởi chính những tạo tác này sẽ là nghiệp nhân để có quả báo trong hiện tại hoặc tương lai, cho nên cá tánh, hình dáng, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, của một gia đình, của một dân tộc đều do nghiệp nhân của chính mình và những người cùng sống trong một cộng đồng xã hội đã tạo ra trong quá khứ mà có quả tương xứng.

    Vậy để thay đổi nghiệp báo chỉ có một cách là tu tâm dưỡng tánh, ăn năn hối cải những việc bất thiện đã làm và tránh lập lại trong tương lai, để chí tâm làm những việc thiện.

    Hiểu rõ: “Lý nghiệp báo” chẳng những tạo ra những hữu lậu thiện mà còn tiến lên vô lậu thiện, đó chính mới là con đường Tu Phật và Học Phật.

    D. tu tập:

    Để có được một đời sống an lạc trong hiện tại và tương lai, chúng ta cần phải:

    • Thực hành hạnh Bố thí để tích lủy nghiệp thiện.
    • Sống cuộc sống Hỹ xã vị tha để gieo nhân lành cho tương lai.
    • Chọn nghề nghiệp sinh sống phải đúng theo tinh thần “chánh nghiệp”.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Niết bàn
    Hình minh họa: Niết bàn
    I. DẪN NHẬP:

    Đức Thế Tôn thị hiện ở đời chỉ với mục đích duy nhất là giúp chúng sanh thoát khổ, mà con đường thoát khổ của Ngài đã chỉ rõ trong 84.000 pháp môn qua giáo lý mà Ngài đã để lại sau 49 năm thuyết pháp độ sanh cũng chỉ với một đích cuối cùng là giải thoát sanh tử để tiến tới quả vị Niết bàn.

    II. NỘI DUNG:
    1. Định danh:
    a. Đinh nghĩa từ Niết bàn:
    • Tiếng Phạn là Nirvãna, tiếng Pali là Nibbãna.
    • Tên gọi khác là Nê-hoàn, Nê-viết, Niết-bàn-na, Niết-lê-bàn-na, nê-phạ-nam, nặc-phạ-nam, Trạch diệt, Li hệ, Giải thoát.
    • Hình thức dịch nghĩa khác: Diệt, Tịch diệt, Diệt độ, Tịch, Vô danh.
    • Là sự diệt tân lửa phiền não, đạt đến cảnh giới giác ngộ.

    Tóm lại Niết Bàn “là kết quả của sự đoạn diệt Mười hai nhân duyên, hay đọan diệt khổ hay có thể gián tiếp định nghĩa như là “Khổ diệt”, “Ai diệt”, “Thủ diệt”, “Vô minh diệt” hay bằng các tên gọi tương đương khác như “Vô vi”, “Vượt qua bộc lưu”, “Qua bờ bên kia”, “Loại hết sanh y” … mà chúng ta đã có ngót ba mươi từ tương đương với Niết Bàn ở Nikàya hay A Hàm” (trích Phật học Khái luận của Thích Chơn Thiện trang 58+59).

    b. Những danh từ liên hệ đến Niết bàn:
    • Niết bàn ấn (còn gọi là Niết bàn tịch tĩnh ấn): Dấu ấn Niết bàn trong giáo pháp của đức Thế Tôn, một trong Tam pháp ấn.
    • Niết bàn bát vị: Tám pháp vị của Niết bàn (theo kinh Phương đẳng Bát nê hoàn 2): thường trụ, Tịch diệt, bất lão, bất tử, thanh tịnh, hư không, bất động, khoái lạc.
    • Niết bàn bộ: Những bộ kinh nói về Niết bàn trong 5 đại bộ kinh điển Đại thừa.
    2. Hình tướng chứng nghiệm Niết bàn:

    Về ngoại đạo tuy cũng có Niết bàn nhưng hoàn toàn khác với Phật giáo. Về nghĩa của Niết bàn, Đại thừa và Tiểu thừa giải thích khác nhau như sau:

    a. Theo quan điểm của Trung luận:

    Thật tướng cũng là “tính không”, là nhân duyên sinh ra các pháp, cho nên không sai biệt với sinh tử thế gian.

    Theo “Nam bản Niết bàn kinh 3”, Niết bàn có 8 đặc tính: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cầu, an lạc.

    b. Theo Duy thức tông Niết bàn gồm có:

    + Bản lai tự tính thanh tịnh niết bàn: Chỉ cho chân như, nghĩa là tướng bản lai của tất cả vạn vật là lý thể của chân như tịch diệt.

    + Hữu dư y niết bàn: Khi còn mang thân ngũ uẩn nhưng đã chứng được đạo quả vì không còn tạo nghiệp.

    + Vô dư y niết bàn: Chứng nghiệm được đạo quả Niết bàn khi không còn mang thân ngũ uẩn, như một Bồ Tát khi tịch, không còn vật chất, tức giải thoát hoàn toàn.

    + Vô trụ xứ niết bàn: Nương nơi trí tuệ mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không trệ vào các cõi mê của sinh tử. Vì tâm đại bi cứu tế chúng sinh, nên hoạt động trong 3 cõi mê mà không trệ nơi cảnh giới của Niết bàn. Đây là nét đặc thù của Phật giáo Đại thừa.

    c. Theo Địa luận tông và Nhiếp luận tông, thì Niết bàn gồm có:

    + Tịch tịch niết bàn

    + Phương tiện niết bàn

    d. Theo Tông Thiên thai, Niết bàn có 3 loại:

    + Tính tịnh niết bàn

    + Viên tịnh niết bàn

    + Phương tiện tịnh niết bàn (còn gọi là Ứng hóa niết bàn: Phật vì cứu độ chúng sinh mà thị hiện thân giả huyễn, khi hết duyên thì nhập Niết bàn)

    e. Theo Tông Tịnh độ thì cõi Phật A Di Đà:

    + Niết bàn vô vi.

    f. Chỉ cho sự nhập diệt của đức Phật: gọi là

    + Đại-bát Niết-bàn hay Bát Niết bàn.

    3. Vị trí của Niết bàn:

    Kinh Tạp A hàm đức Phật dạy: “Nguồn gốc thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường đưa đến sự chấm dứt thế gian, đều nằm trong con người”. Như vậy thế gian đồng nghĩa với khổ đau., tiêu diệt thế gian là chấm dứt khổ đau, tức Niết bàn. Niết bàn không phải cái gì được tạo ra hay cái gì cần tạo ra, mà tự nó thành tựu nhờ tu tập Tứ Diệu Đế, đạt đến Đạo đế, Diệt đế.

    4. Ý nghĩa Niết bàn trong tam tạng kinh:

    + Kinh A Hàm và Agama: là đoạn trừ ái thủ, vô minh hay đoạn trừ 10 kiết sử, là công phu chuyển đổi nội tâm, vọng tâm mà không đề cập đến các pháp hiện tượng giới. Khi tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh.

    + Kinh Bát nhã: Niết bàn là vượt qua hết mọi khổ ách, là không chấp thủ nhân ngã và pháp ngã, dùng trí tuệ quán chiếu để thấy rõ năm uẩn là vô ngã để cắt lìa chấp thủ, vượt ra hết mọi khổ ách để chứng nhập đương thể của các pháp (đương thể là cái không sanh, không diệt (vô sanh), mà vô sanh thì vô đắc và khi hoàn toàn vô đắc là niết bàn).

    + Kinh Kim Cương: Niết bàn là Vô đắc, tức là nội dung của sự thể nhập vào thực tại vô ngã của các pháp.

    + Kinh Lăng Già: “Vô hữu niết bàn Phật, vô hữu Phật niết bàn” (không có đức Phật chứng niết bàn, và cũng không có niết bàn của Phật chứng). Nổ lực phủ nhận sứ chứng niết bàn và phủ nhận niết bàn của Phật chứng, là nổ lực diễn đạt về niết bàn như thật và đồng thời tránh ngộ nhận do suy tư đầy ngã tướng của người học có thể nẩy sinh.

    + Kinh Pháp Hoa: Trình bày “Phật tri kiến” một cách gián tiếp rất là biểu tượng, do đó suốt 28 phẩm kinh, không thấy nói “Phật tri kiến” là gì, nhưng bằng trí tuệ có đón nhận Phật tri kiến qua các hình ảnh đầu kinh “Thế tôn nhập và xuất vô lượng nghĩa xứ định mới thuyết Pháp hoa”. Hình ảnh nói lên rằng chân lý Pháp Hoa có mặt trong sự an trú tâm trong vô ngã pháp. Như thế Niết bàn chính là thực tại vô ngã hay niết bàn chính là thực tại này với sự vắng mặt của chấp thủ. Đây cũng là ý nghĩa “thập như thị” của Pháp hoa.

    + Kinh Hoa Nghiêm: Pháp giới trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm được nhìn qua “Đại lâu các trang nghiêm tăng” (Đại lâu các này là trú xứ của những ai đã hiểu nghĩa Không, Vô tướng và Vô nguyện, của những ai đã hiểu rằng hết thảy các pháp đều vô phân biệt, rằng pháp giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sanh giới vốn là bất khả đắc, rằng hết thảy các pháp vốn vô sanh). Như thế pháp giới Hoa Nghiêm chính là pháp giới của A Hàm và Agama được xóa tan ái thủ. Ở đây, Niết bàn như là chính pháp giới được đoạn tận ái và thủ.

    + Duy thức: Tổ Thế Thân gọi Niết bàn là quả “chuyển y” và trình bày nội dung của chứng đắc niết bàn qua bài kệ:

    “Vô đắc bất tư nghì

    Thị xuất thế gian trí

    Xả nhi thể trọng cố

    Tiện chứng đắc chuyển y”

    Có nghĩa là đắc niết bàn là đắc vô đắc, khi ta lìa xa mọi chấp thủ và đối tượng (nhân ngã và pháp ngã). Diễn tả tích cực hơn là: “sinh tử tức niết bàn, phiền não tức bồ đề”.

    Như vậy “sinh tử tức niết bàn” có ý nghĩa của “Tam vô tánh” khi chấp thủ hoàn toàn đoạn diệt, thì tâm thức được chuyển thành bốn trí.

    III. SUY NGHIỆM:

    Qua những lý giải cũng như những ý nghĩa trong Tam tạng kinh điển trên đây đã cho chúng ta nhận định được rằng Niết bàn là thật có, không ở ngoài pháp giới, chỉ cần pháp giới đoạn tận ái thủ là có Niết bàn. Cũng như tất cả các tông phái Phật giáo đều nhìn nhận Niết bàn sẽ hiển lộ nếu dẹp hết chấp thủ và vọng tưởng. Vậy Niết bàn là tất cả các pháp, và chính điều này đã cho chúng ta thấy rõ Đặc tính của Niết Bàn:

    • Vĩnh cửu và hạnh phúc vì đã hoàn toàn thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi: giải quyết dứt khoát khổ đau ngay trong kiếp hiện tại khi lòng tham ái bị tiêu diệt tức là thọ và tưởng uẩn đã đoạn tận.
    • Có thật và duy nhất:

    + Sự chứng ngộ của chư Phật và Bồ Tát.

    + Niết bàn là vô sanh: bất hoại, bất diệt.

    + Niết bàn là duy nhất: không phải nhân mà cũng không phải quả.

    IV. TU TẬP:
    Muốn đạt được cảnh giới Niết Bàn, trước hết chúng ta cần phải:
    • Phát Bồ đề tâm.
    • Tinh tấn thực hành những lời Phật dạy.
    • Cầu thỉnh Y chỉ sư và thường xuyên tiếp cận Thiện Tri Thức để giúp chúng ta giải nghi những gì không quán triệt được trên con đường tu học.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Tam giới
    Hình minh họa: Tam Giới
    A. DẪN NHẬP:

    Nhân sinh quan – Vũ trụ Phật giáo là một môn học mà ngày nay các học giả cũng nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, bởi những gì mà khoa học kỹ thuật tiến tiến ngày nay tìm ra và thực nghiệm, đã được nói đến trong tam tạng kinh điển của Phật giáo cách đây trên 25 thế kỷ. Ở phạm vi bài này, chỉ giới thiệu một phần nhỏ trong bộ môn Vũ trụ quan Phật giáo đó là: “Tam giới”.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH DANH:

    Tam giới là 3 cảnh giới trong vũ trụ hiện hữu đó là: Dục giới – Sắc giới và Vô sắc giới. Tam giới có 2 cách phân lọai:

    1. Theo đặc tính:
    Thế giới được chia làm 2 loài:
    a. Hữu tình (còn gọi là Nhân sinh quan):

    Tức là thế giới sinh sống của các loài cử động được (loài có sự sống như động và thực vật).

    b. Khí thế giới:

    Tức là thế giới vật lý, các loài vô tri, vô cơ kết tụ lại và cũng là trú sở của loài hữu tình.

    2. Theo bản chất:

    Thì thế giới chia làm 3 cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

    II. HÀNH TƯỚNG CỦA TAM GIỚI:

    Đức Phật quán sát thế giới theo hai dạng khác nhau

    • Hiện thực thế giới: Là thế giới sinh tử, mê vọng, khổ não, sinh vật ở thế giới này được cấu tạo bởi nguyên lý “Nhân duyên sinh” mà có, nên là thế giới vô thường, có sinh ắt có diệt, biến hóa nên còn gọi là “Thế giới vô thường”.
    • Lý tưởng thế giới: Là thế giới Niết bàn, thường lạc, không theo nguyên lý nhân duyên nên là thế giới thường trụ, không sinh diệt biến hóa, nên còn gọi là thế giới vô vi. Về thành phần để thành lập thế giới có vật và tâm, sự quan hệ mật thiết giữa vật và tâm hay là không do vật và cũng không do tâm, nó được cấu tạo bởi Ngũ uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

    Và cũng vì sự kết hợp của Ngũ uẩn có sai khác ở mỗi loài, mỗi vật ở mỗi cõi khác nhau:

    1. Dục giới:

    Là thế giới của Ái Dục: với 2 thứ ham muốn Dâm dục và Thực dục. Thế giới nầy là nơi mà các sinh vật được cấu thành bởi Ngũ uẩn nên đối với 2 thứ dục rất ưa thích, trong đó bao gồm: Địa ngục, ngạ quả, súc sanh, A tu la, Nhân, Thiên và với 4 loài: Thai sanh, Noãn sanh, Thủy sanh và Hóa sanh.

    2. Sắc giới:

    Là cõi có hình chất chướng ngại mà lại hay chuyển biến hủy hoại, cõi này trên cõi dục, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh không tham dâm và tham thực, chỉ có thân thể tốt đẹp thù thắng nhưng vẫn chưa giải thoát được các triền phược của vật chất vi tế. Cõi này y cứ vào tinh thần tu dưỡng cao hay thấp, cõi này cũng chia làm bốn bậc (nên gọi là Tứ thiền): Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền

    3. Vô sắc giới:

    Cõi này thân thể không có vật chất vì đã hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất, đương thể thuần là tinh thần độc lập, chúng sanh ở cõi này thường trụ trong các thiền định thâm diệu, không có cảnh giới, xứ sở. Y theo sự thù thắng của thiền định, cõi này cũng chia ra làm 4 bậc: Không-vô-biên-xứ, Thức-vô-biên-xứ, Vô-sở-hữu-xứ, Phi-tưởng Phi-Phi-tưởng-xứ.

    C. SUY NGHIỆM:

    Vũ trụ quan Phật giáo được lý luận dựa vào 3 điểm vật lý, Tâm lý và Luân lý làm cơ sở điều hòa thành tựu:

    + Vật lý: là sự phân loại 4 loài.

    + Luân lý: là sự phân loại sáu đường do tâm trạng hành vi thiện ác mà khai triển.

    + Tâm lý: đưa vào trạng thái tinh thần, so sánh trình độ tu tập thiền định mà phân cao thấp đó là 3 cõi.

    Phật giáo chủ trương giáo thuyết “vạn pháp do tâm tạo”, vì vậy thế giới được cấu tạo là do tinh thần con người làm trọng tâm. Do đó 3 cõi đều là cảnh giới tinh thần, không tồn tại là không thật, chỉ là giả hợp mà thôi.

    Ngoài Tam giới, Phật giáo còn có thuyết giảng 2 cõi nữa là cõi Phật và cõi Tịnh.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Tinh thần vô úy và an nhẫn trong Phật giáo

    Lục độ

    Hình minh họa: Lục độ

    A. DẪN NHẬP

    Lục độ là pháp môn tu đặc thù, pháp môn cao nhất trong sự hành trì của đạo Phật, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm vào cái không tính của chân như, cái trạng thái mà kinh Kim Cang đã dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Khi tu theo pháp môn này hành giả không còn khái niệm phân biệt “Nhân, ngã, bĩ, thử” mà hòa đồng vào cái lý mầu nhiệm, giải thoát của đạo Phật, cái thể tính chân không của vạn hữu.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Độ tiếng Phạn là Ba-La-Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua, từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết bàn.

    Lục độ là 6 hạnh có thể đưa hành giả và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu hạnh là: Bố thí Ba La Mật, trì giới Ba La Mật, nhẫn nhục Ba La Mật, tinh tấn Ba La Mật, thiền định Ba La Mật và trí tuệ Ba La Mật.

    II. HÀNH TƯỚNG:
    1. Bố thí Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Bố là cùng khắp; Thí là cho, trao tặng. Bố thí là đem của tư hữu của mình đem cho cùng khắp tất cả mọi người không phân biệt giới hạn người hay vật, thân hay sơ. Hễ thấy ai còn thiếu thốn vật gì, nếu sẵn có, đều bình đẵng giúp tất cả không luyến tiếc.

    b. Thành phần của Bố thí Ba La Mật:
    Gồm có 3 phương thức sau đây:
    • Tài thí: tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí cũng có 2 phương thức:

    + Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình như thân mạng, có nghĩa là khi cần thiết vẫn xã thân mình để cứu giúp người khác không kể sự nguy hiểm đến thân mạng nếu có. Đây là phương pháp bố thí cao nhất mà chỉ có những người giàu lòng từ bi, mới làm được (trong các câu chuyện tiền thân của Đức Thế tôn)

    + Ngoại tài: là những vật thường dùng trong đời sống của mình như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc..

    • Pháp thí: là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy của chư Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác, hoặc y theo giới luật của Phật để hành trì trong đời sống hằng ngày nhằm làm khuôn mẫu cho mọi người bắt chước bỏ ác làm thiện. Pháp thí là một phương thức bố thí có một giá trị lớn lao, nó có tác dụng huân tập về mặt tinh thần mang đến nhân lành không những cho kiếp này mà cả những kiếp sau, không kể nghèo khó hay giàu sang, lao động hay trí thức.
    • Vô uý thí: Trong cuộc sống, sự sợ hải trước bao nhiêu điều đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra là một tâm lý khổ đau nhất, chiếm hết quá phân nữa thời gian của kiếp người. Do đó khi thực hiện Vô úy thí là mang lại cho họ sự bình tĩnh tuyệt đối trước mọi sự kiện bằng chính hành động của bản thân, nhằm tạo cho họ một tâm an tịnh hầu xử dụng lý trí suy xét của từng sự kiện, phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ của đức Phật. Để qua các giáo lý thích hợp đó tâm họ không còn xao động và bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Tóm lại tu hạnh vô úy thí khi hành giả đi đến đâu cũng đem đến một sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật.
    c. Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:

    Nói đến hạnh Bố thí Ba la mật cần phải nhận rõ 2 điểm sau đây: Bố thí chấp tướng và Bố thí không chấp tướng:

    + Bố thí chấp tướng: là bố thí với một dụng tâm không trong sạch (cầu danh, cầu tài lợi, vì ganh đua, vì muốn làm nhục và khinh rẽ người, vì sự lừa lọc, bất công, thiên vị). Đây chính là bố thí thuộc về hữu lậu kết quả rất mong manh như mây nỗi giữa hư không gặp gió thổi thì tan biến.

    + Bố thí không chấp tướng: là bố thí Ba la mật: với một dụng ý trong sạch, đúng với ý nghĩa của nó, bố thí với tâm từ bi bình đẳng, bố thí với tâm không thấy kẽ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.

    Ngoài ra bố thí thì phát sanh các công năng sau đây:

    + Diệt lòng tham lam ích kỷ

    + Đem lại ấm no

    + Phát triễn chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.

    + Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.

    2. Trì giới Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Trì giới Ba la mật là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.

    b. Thành phần của giới luật:

    Có thể chia ra làm 3

    • Giới tại gia: là những giới dành cho những người cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
    • Giới xuất gia: là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:

    + Sa di và Sa di ni giữ 10 giới

    + Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.

    + Tỳ kheo giữ 250 giới.

    + Tỳ kheo ni giữ 348 giới.

    • Giới Đạo và Tục thông hành: là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới:

    + Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác): là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.

    + Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.

    + Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh): làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi., hỷ, xả.

    c. Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
    Cũng như hạnh Bố thí cũng có 2 loại:

    + Trì giới chấp tướng: là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.

    + Trì giới không chấp tướng: là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật: không chấp có sự tướng.

    Ngoài ra tu hạnh trì giới có các công năng:

    + Ba nghiệp thanh tịnh: không sanh các tà niệm

    + Các thiện công đức phát sanh.

    + Nêu cao giá trị: không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.

    + Người và vật kính yêu: không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.

    3. Nhẫn nhục Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.

    b. Thành phần của nhẫn nhục:
    Có 3 thành phần:

    + Thân nhẫn: đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.

    + Khẩu nhẫn: Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chửi, phàn nàn, nguyền rủa.

    + Ý nhẫn: Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.

    Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như:

    • Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
    • Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập.
    • Nội pháp nhẫn: Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
    • Ngọai pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phần uất.
    Và 2 loại nhẫn nhục:

    + Nhẫn nhục có chấp tướng: là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.

    + Nhẫn nhục không chấp tướng: là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.

    c. Công năng của Nhẫn nhục:

    + Không làm những việc vô ý thức

    + Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.

    + Không trụy lạc theo năm dục.

    4. Tinh tấn Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tinh tấn là không ô nhiểm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.

    b. Thành phần của Tứ chánh cần:
    Gồm có 4 điều:

    + Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.

    + Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.

    Tinh tấn có 2 lọai:

    + Tinh tấn có chấp tướng: là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng..

    + Tinh tấn không chấp tướng: là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.

    c. Công năng của hạnh Tinh tấn:

    + Dũng mãnh hăng hái: diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.

    + Không thối xuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.

    + Tiến gần đến đạo giải thoát.

    5. Thiền định Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)

    b. Các loại thiền định:

    + Quán hởi thở: Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dỏi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.

    + Quán hạnh từ bi: Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.

    + Quán sự không thanh tịnh: Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.

    + Quán về pháp nhân duyên: Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.

    + Quán theo niệm Phật: Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.

    Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.

    c. Công năng của pháp môn Thiền định:

    + Loại trừ bớt lòng tham dục: nhờ quán thanh tịnh.

    + Trừ nóng giận: nhờ quán từ bi

    + Phá si mê: nhờ quán nhân duyên

    + Ngăn các phiền não: nhờ quán niệm Phật

    + Diệt loạn tâm: nhờ quán hơi thở.

    + Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật

    6. Trí huệ Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.

    Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì: Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.

    b. Các loại trí huệ:

    Về cơ cấu thì trí huệ có 2 lọai

    • Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
    • Hậu đắc trí: là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:

    + Đại viên cảnh trí: Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.

    + Bình đẵng tánh trí: Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã

    + Diệu quan sát trí: Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.

    + Thành sở tác trí: Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiết, thân).

    Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhật với các tên gọi:

    + Văn huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.

    + Tư huệ: là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.

    +Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.

    c. Công năng của trí huệ

    + Diệt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.

    + Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.

    + Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.

    C. SUYNGHIỆM:

    Trừ mê diệt khổ là nguyên vọng duy nhất của người con Phật. Muốn đạt được nguyện vọng ấy cần phải cương quyết thực hành sáu hạnh độ, chỉ vì chỉ có 6 hạnh độ mới có đủ công năng đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.

    Với chúng ta những con người thuộc hàng sơ cơ, nên khó có thể hành trì ngay tức thời 6 hạnh độ, tuy thế phải ghi nhớ lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, do đó mình cũng có khả năng giải thoát và giác ngộ, nếu tự mình chí tâm thì có thể tu hành để phát triễn khả năng giải thoát và giác ngộ sẵn có của mình để từ đó dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.

    D. TU TẬP:

    Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách:

    1. Phát Bồ đề tâm:
    Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn:

    + Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.

    + Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.

    + Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.

    + Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.

    2. Xem thường tài sản và tính mạng:

    Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.

    3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ:

    Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm: chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Tinh thần vô úy và an nhẫn trong Phật giáo

    Vô úy

    • Vô úy là không sợ hãi. Người con Phật không sợ hãi vì hiểu lẽ vô thường, nhân quả, sống ngay thẳng nên lòng không bất an.
    • Vô úy không phải là liều lĩnh, mà là can đảm đứng về phía lẽ phải, dám nhận lỗi, dám bảo vệ người yếu.
    • Vô úy thí là đem sự che chở, an ủi giúp người khác bớt sợ hãi; là một trong ba cách bố thí (tài thí, pháp thí, vô úy thí), đã học trong bài Lục độ ở trên.

    An nhẫn

    • An nhẫn là bình tâm chịu đựng nghịch cảnh, lời chê bai, sự khó khăn mà không oán giận, không trả thù; là hạnh nhẫn nhục trong Lục độ.
    • Nhẫn không phải là yếu đuối hay cam chịu điều sai, mà là giữ tâm sáng suốt để chọn cách hành xử đúng.

    Liên hệ với châm ngôn Bi – Trí – Dũng

    • Dũng của người Huynh trưởng, đoàn sinh là dũng của vô úy và an nhẫn: thắng được chính mình trước khi thắng người khác.

    Gợi ý hoạt động

    • Thảo luận theo Đội, Chúng các tình huống: bị bạn trêu chọc, thấy bạn bị bắt nạt, bị hiểu lầm; tìm cách cư xử vừa an nhẫn vừa vô úy.
  7. 7Đại ý Kinh – Chú – Kệ
    Hình minh họa: Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )
    A. GIỚI THIỆU:

    Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.

    B. NỘI DUNG:

    I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:

    • Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
    • Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
    • Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
    II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:

    Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.

    Vậy đại ý hai thời công phu là:
    1. Thời kinh sáng:

    Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:

    • Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
    • Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
    • Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
    • Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
    • Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
    • Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
    • Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
    • Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
    • Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
    • Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
    • Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
    • Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.

    Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.

    Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.

    2. Thời kinh chiều:

    Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.

    • Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
    • Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
    • Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
    • Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
    • Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
    • Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.

    Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.

    Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.

    3. Hai thời sóc vọng:

    Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.

    C. THỰC HÀNH:

    Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.

    Câu hỏi:
    • Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
    • Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
    • Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
    • Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  8. 8Khái lược lịch sử Phật giáo thời Đinh, Lê, Lý, Trần
    Hình minh họa: Khái lược Phật giáo Việt Nam thời đại : Đinh – Lê – Lý – Trần
    I. KHÁI LƯỢC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ DÂN TỘC:

    Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn độc lập của dân tộc Việt Nam,kéo dài 431 năm, từ năm Đinh Tiên Hòang xưng đế đến năm Trần Thuận Tông nhường ngôi cho Trần Thiếu Đế(Thái Tử An) rồi bị Quý Ly cướp ngôi,(1400) chia ra như sau:

    • Nhà Đinh từ 968 đến 980 cai trị 12 năm.
    • Nhà Lê từ 980 đến 1009 cai trị 29 năm.
    • Nhà Lý từ 1010 đến 1225 cai trị 215 năm.
    • Nhà Trần từ 1225 đến 1400 cai trị 175 năm.
    II. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO:

    Trong bốn triều đại đó, Phật giáo gắn liền với lịch sử dân tộc, do các vị cao Tăng tài đức đương thời luôn luôn tham gia quốc chánh.

    Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn thăng hoa của lịch sử Phật giáo. Hệ tư tưởng Phật giáo, nhân tài theo Đạo Phật, đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc, có nhiều giai đọan quyết định cả vận mạng dân tộc lúc bấy giờ.

    (Tham khảo tập sử liệu “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới triều đại nhà Hậu Lê (Lê Lợi) ta thấy rất rõ nét những sự việc của Phật Giáo xen lẫn với các sự việc của đất nước. Điều đó nói lên hệ tư tưởng Phật Giáo chỉ đạo cho đời sống của dân tộc trong giai đoạn này. Đó là đem Đạo, giáo hóa đời và ngược lại đem đời nhập hóa vào Đạo).

    Trong phần này chia làm 4 giai đoạn phù hợp với 4 triều đại lịch sử dân tộc cho dễ hiểu.

    1. Phật giáo thời đại nhà Đinh:

    Trong triều đại nhà Đinh Phật Giáo được quan tâm là do sức đóng góp của các danh Tăng. Vua Đinh định phẩm trật cho hàng Tăng Sĩ, đó cũng là thời kỳ đầu tiên hàng giáo phẩm Phật Giáo Việt Nam có danh vị: vào năm Tân Mùi (971) vua Đinh Tiên Hoàng chế định chức sắc hàng quan lại triều dình, kể cả hàng Tăng sĩ lỗi lạc của Phật giáo, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Pháp Sư Trương Ma Ni làm Tăng Lục, giới văn nhân trong nước hầu hết ở trong hàng Tăng Sĩ.

    2. Phật giáo triều đại nhà Lê:

    Vua Lê Đại Hành lên ngôi, cho dù việc chính trị trong nước có thay đổi, nhưng Phật Giáo cứ phát triển mạnh hơn. Vua Đại Hành tiếp tục phong Ngài Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, và bất cứ việc gì trong nước Vua đều hỏi ý kiến Tăng Thống.

    Năm 963 Vua Đại Hành sai sứ đi thông hiếu với nhà Tống, đã thỉnh 2 bộ kinh về truyền bá trong nước, đó là Cửu Kinh và Đại Tạng Kinh.

    Trong giai đoạn này, Tăng Sĩ Phật Giáo còn một vị nổi danh nữa là Pháp Sư Đỗ Thuận. Pháp sư được làm sứ giả đón tiếp sứ thần nước ngoài (Chuyện Lý Giác) và hổ trợ cho Vua Lê Đại Hành trong việc “vận trù định sách” với trách nhiệm chính trong vai trò đối ngoại của triều đình.

    3. Phật Giáo triều đại nhà Lý:

    Vua Lý Thái Tổ là con nuôi Sư Lý Khánh Văn, là học trò Sư Vạn Hạnh, do đó bản thân nhà vua là một Phật tử thuần thành. Người xây dựng triều Lý đã đem học thuật và tư tưởng Phật Giáo vận dụng vào việc cai trị đất nước, vì vậy Phật Giáo vào thời nầy trở thành Quốc giáo.

    Vua Lý Thái Tổ đặt nền móng phát triển đạo Phật, xây chùa tạc tượng, đúc chuông, truyền bá chánh pháp cho con cháu đời đời noi theo.

    Suốt 215 năm Lý trị vì đất nước, Phật Giáo cũng sản sinh nhiều Tăng tài nổi danh nhờ các cống hiến to lớn như của các nhà sư như: Thiền Sư Vạn Hạnh, Thoại Linh, Viên Chiếu… Các dòng Thiền được hình thành và phát triển như: Dòng Thiền thứ nhất của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (560). Dòng Thiền thứ hai của Ngài Vô Ngôn Thông (820), phái Thảo Đường (1060)…

    Năm 1224, vua Lý Huệ Tôn xuất gia ở chùa Chân Giáo lấy hiệu là Huệ Quang Đại sư.

    Suốt triều Đại nhà Lý hơn 2 thế kỷ, Phật giáo hòa nhập trọn vẹn trong đời sống của toàn dân.

    4. Phật giáo triều đại nhà Trần:

    Đó là thời kỳ vẻ vang và phát triển rất mạnh. Đâu cũng có chùa, có Phật để tín đồ chiêm bái. Tăng đoàn mạnh đến nỗi triều đình phải tổ chức các khoa thi để loại bớt. Phật Giáo chấn hưng khoảng 100 năm đầu, rồi dừng lại, bởi sự phát triển quá đà nên mê tín dị đoan và thoái bộ.

    Trong thời đại này, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được xiển dương. Vua Trần Thái Tôn đã mở đầu bằng “Thiền môn chỉ mãn” và “Khóa Hư” để rồi vua Trần Nhân Tông xuất gia khai sáng phái Trúc Lâm. Phật Giáo đời Trần sản sinh nhiều danh Tăng và cư sĩ tên tuổi như: Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tảng), Pháp Loa, Huyền Quang..

    Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được xưng tụng là Trúc Lâm Tam Tổ.

    III. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐƯƠNG THỜI:
    1. Tư tưởng dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi:

    Qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần, dòng Thiền thứ nhất Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển. Hệ tư tưởng chính của phái nầy là:

    a. Bản chất của Giác Ngộ là Bồ Đề, Kinh căn bản của Thiền Tông đương thời:

    • Quán nội giới của thân là không.
    • Quán ngoại giới của thân là không.
    • Không bị chấp trước vào Nhất Thiết Trí.
    • Không chấp trước vào phương tiện tu hành.
    • Không bị chấp trước vào các địa vị tu chứng của các vị Hiền Thánh.
    • Không chấp trước vào sự thanh tịnh đạt được do hành đạo lâu ngày.
    • An trú Bát Nhã Ba La Mật.
    • Không bị chấp trước vào công việc giảng luận giáo hóa.
    • Quán các chúng sanh phát khởi Từ bi và lòng lân mẫn.
    b. Tư tưởng Phật giáo:

    Qua Kinh Tổng Trì, Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một trong những Thiền sư lừng danh từ Tâm An sớm nhất trong lịch sử thiền. Kinh mật giáo “Đại Phật” nói: Đối với mọi lời giáo huấn của Phật, không gì là không nắm được tinh yếu, nếu có thể giữ gìn được tâm ấn ấy để mở rộng tất cả pháp môn, đó gọi là người thông đạt được cả Tam Thừa. Tâm ấn ở đây là tinh yếu mật ý của Mật tông.

    Theo mật giáo, trong vũ trụ có làng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên, thì có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi phải tuần tự từng bước. Sự giác ngộ có thể thành đạt ngay giờ phút hiện tại. Sử dụng các thế lực thần linh, sử dụng thần chú ấn quyết các hình ảnh Mandàla có thể hỗ trợ đắc lực cho sự thiền quán hành đạo.

    Chính vì khuynh hướng nầy của Mật Giáo mà Phật Giáo đã bao trùm tín ngưỡng dân gian Việt Nam đương thời.

    2. Tư tưởng dòng Thiền Vô Ngôn Thông:

    Kéo dài ba triều đại Đinh, Lê, Lý, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa, được thấy trong lối trình bày lịch sử Thiền, trong các tổ chức tu viện, trong việc sử dụng thoại đầu.

    Các Thiền sư trong Thiền phái này thay gì tu tập theo kinh Bát Nhã, họ đã thu nạp rất nhiều kinh điển khác như: Viên Giác, Pháp Hoa…… Các Thiền sư chủ trương đốn ngộ và vô đắc. Ảnh hưởng của Mật Giáo còn thấy trong hệ tư tưởng của dòng Thiền nầy.

    3. Tư tưởng Thiền phái Thảo Đường:

    Thiền sư Thảo Đường là đệ tử đắc pháp của Thiền sư Tuyết Đậu thuộc thiền phái Vân Môn, do đó tư tưởng của Thảo Đường được xuất xứ từ Vân Môn, mà tác phẩm trọng yếu là tập “Bích Nham” và “Tuyết Đậu Ngữ Lục”. Chủ trương của Thảo Đường là Thiền học trí thức và thi ca, không chú trọng về tà thuật huyền bí.

    4. Tư tưởng phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

    Thiền phái Trúc Lâm bao gồm hệ tư tưởng của ba thiền phái có trước, phát triển rất mạnh tư tưởng được lược sau:

    Sự quan trọng của tâm học, chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên nền tảng học vững chắc mới thàng tựu được. Tâm học gồm như: Tâm lý học tức là Duy Thức học. “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức tiếp xúc nhau sự gì xảy ra? Khi ấy cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có một chủ thể thường tại để mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt, còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ có sinh diệt”

    Như vậy là đừng tìm quả vị giác ngộ như một đối tượng của nhận thức: Quả vị giác ngộ phải được thực hiện ngay trong tự thể của tâm. Mọi tìm cầu bên ngoài đều vô hiệu.

    IV. KẾT LUẬN:

    Lịch sử Phật Giáo Việt Nam thông qua bốn triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đã ăn sâu vào cội rễ dân tộc, xuyên qua các ảnh hưởng của Phật Giáo đối với tất cả các vấn đề của dân tộc như:

    • Tạo vị trí vững chắc trong lòng dân tộc
    • Chi phối chính trị xuyên suốt 4 triệu đại.
    • Ảnh hưởng sâu rộng trong văn minh và văn hóa dân tộc.
    • Chi phối kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật.
    • Phát triển Tăng đoàn vững mạnh, hệ thống tu viện thanh tịnh.
    • Dịch thuật, biên soạn rất nhiều kinh sách Phật Giáo.
    • Về tư tưởng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa.
    • Phát triển Tịnh Độ Tông.
    • Chịu ảnh hưởng của Mật Giáo, thoái hoá dẫn đến mê tín dị đoan.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  9. 9Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Lê – Nguyễn
    Hình minh họa: Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời đại Lê – Nguyễn
    I. ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRIỀU LÊ – NGUYỄN:
    Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn nầy có thể chia làm 3 giai đọan:
    1. Giai đoạn nhà Lê trị vì từ 1427 – 1527:

    Giai đoạn nầy kéo dài 99 năm qua 10 đời từ Triều đại vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đến vua Lê Chiếu Thống.

    2. Giai đoạn Nam Bắc phân tranh từ 1528 -1802 (hoặc thời kỳ Vua Lê và chúa Trịnh phía Bắc – Chúa Nguyễn Hoàng ở phương Nam):

    Giai đọan này kéo dài 274 năm được chia ra như sau:

    * Từ 1528 – 1533: Khởi đầu Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, họ Trịnh giúp vua Lê Trung Hưng rồi lấn quyền vua Lê về chính trị.

    * Từ 1533 – 1788: Nguyễn Hoàng ly khai họ Trịnh vào Nam tạo thế phân tranh kéo dài 255 năm.

    * Từ 1788 – 1802: Nhà Nguyễn Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo dài 14 năm sau cái chết của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

    3. Giai đoạn nhà Nguyễn Gia Long (1802-1945):

    Kể từ khi đánh thắng nhà Tây Sơn, vua Gia long thành lập triều đại kéo dài 143 năm và chấm dứt vào thời kỳ vua Bảo Đại.

    II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU LÊ – NGUYỄN

    Dựa vào lịch sử nước nhà ta cũng chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra làm 3 giai đoạn:

    1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê:

    Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần. Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15). Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách đồng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt.

    Mười ba năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê. Thế nhưng triều đại Hậu Lê là triều đại độc lập chính trị đầu tiên của Việt Nam đã bỏ rơi nền văn hóa dân tộc độc lập, đã bỏ rơi truyền thống dung hợp, khai phóng nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh và phú cường để chạy theo một cách chính thức và toàn diện nền văn hóa ngoại lai đã từng được quân xâm lăng Trung hoa đô hộ áp đặt nhưng không thành công. Mặc dầu năm 1424 vua Lê Thái Tổ có mở kỳ thi khảo hạch tăng đạo, người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành, ai hỏng thì phải hoàn tục (quả thật là một lối xét định kiến thức và đạo đức của tu sĩ Phật giáo một cách từ chương như là một biện pháp nhằm đàn áp và tiêu diệt Phật giáo một cách quy mô và toàn diện hơn). Ngoài ra có những lúc triều đình cũng tổ chức những buổi rước Phật (năm 1934), xuống chiếu ra lệnh cho bá quan văn võ ăn chay (1448, 1449) để đến chùa cầu mưa, nhưng những hình thức đó chẳng qua được xem như là một thứ đạo phù thủy dùng để cúng tế cầu đảo. Một tinh thần văn hóa ngoại lai mang đậm bản chất độc tài, độc tôn, độc đoán, hẹp hòi cố chấp và bảo thủ đã thể hiện rõ nét trên con người của vua Lê Thái Tổ khi sai bắt giết hai đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn (khiến Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử) và Phạm văn Xảo, rồi sau đó cùng một số nho thần ích kỷ với bản chất nô lệ từ tâm hồn đến tư tưởng đã vu hãm vô cùng hèn mạt để giết Nguyễn Trãi và giết sạch 3 họ nhà ông. Quả thật một chế độ khắc nghiệt và tàn bạo thể hiện đúng bản chất độc tài chuyên chế của Tống Nho phi nhân, nô lệ văn hóa ngoại lai, khác với truyền thống của dân tộc Đại Việt đã từng tha chết cho tên giặc cướp Nùng Trí Cao và vua Chiêm Thành Chế Củ đời vua Lý Thái Tông, rồi đời vua Trần Thánh Tông cũng đã từng tha chết khoan dung cho cả quan quân công tác với quân Mông Cổ, kể cả đoàn quân bại trận trong 2 thời kỳ chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288.

    2. Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh:
    a. Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài):

    Sau thời gian bị suy thoái dưới thời Hậu Lê và nhà Mạc, đến thời chúa Trịnh Phật giáo bắt đầu phục hưng. Từ năm 1533 Phật giáo hồi sinh bởi công lao của các Thiền sư:

    + Thiền phái Tào Động: Vào khoảng 1575 – 1599 thiền sư Thủy Nguyệt, người Thanh Triều, Thái Bình là đời 36 phái Tào Động tại Trung Hoa và là Sơ tổ phái Tào Động Việt Nam ở đàng Ngoài.

    + Thiền sư Chuyết Chuyết tên là Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 tại quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa. Từ Trung Hoa vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 vào năm 43 tuổi, Ngài mất Rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi. Sau khi tịch được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Ngài thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương (người Đại Việt).

    + Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết. Thiền sư là viện chủ chùa Phật Tích (năm 1643), đến năm 1644 khi sư phụ mất ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Thiền sư thị tịch vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Trước khi tịch Ngài có để lại một bài kệ được dùng để đặt pháp danh cho các thế hệ kế thừa của Thiền phái Lâm Tế ở đàng ngoài.

    + Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với Thiền sư Chân Trú (là đệ tử của Thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng. Sau khi Chân Trú mất, ông tu hạnh đầu đà du phương cầu học, sau đó đến tham học với Thiền sư Minh Lương (đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên. Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Thiền sư cùng chúng đệ tử là những người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, phục hồi nền văn học nước nhà: trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh (1715), soạn Kế Đăng Lục (1734), Thiền Tông Bản Hạnh, trùng khắc Thánh Đăng Lục (1750), Khóa Hư lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763), Tam Tổ Thực Lục (1765)… Năm 1722 lúc 76 tuổi Thiền sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu là Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726 trong tư thế kiết già, Ngài tịch vào tháng 10 âm lịch thọ 80 tuổi.

    + Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, năm 18 tuổi đậu cử nhân được tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn, sau đó làm Tri phủ Triệu Phong Quảng Trị. Năm 25 tuổi tham học đạo Phật với Thiền sư Viên Cảnh người Trung Hoa. Năm 1655 (năm 28 tuổi) ông Từ Quan, xuất gia với Thiền sư Viên cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính để thiền sư giảng pháp. Sau đó ngài bị vu cáo cùng một quan Thị Nội giám là Gia Quận công là âm mưu trốn ra đàng ngoài, bị chúa Nguyễn Phúc Tần tra khảo, sau đó đưa vào Quảng Nam. Từ sự đối đãi ấy tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) Thiền sư cùng 50 đệ tử dùng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài, thuyền ghé vào Trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na hầu, quan trấn thủ về tâu với triều đình, chúa Trịnh Tạc sai Đường Quận công đem thuyền vào Nghệ An rước Thiền sư và chúng đệ tử ra Đông Đô. Sau đó chúa Trịnh cho xây dựng chùa ở trấn Sơn Nam để thầy trò giảng pháp tu học vào năm 1683. Năm Ất Mùi (1715) sáng ngày 13.05 sau khi tắm, thiền sư khoác y, đội mủ, đeo tràng Hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi.

    b. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong):

    Khác với đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng thấy đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ, cho nên khi mới vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã liên tiếp cho xây dựng các chùa. Đồng thời chính là lúc chuyển tiếp giữa triều Minh và Thanh nên các danh tăng Trung Hoa tới đàng trong hoằng hóa khá nhiều nhưng đều thuộc thiền phái Lâm Tế:

    • Thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị.
    • Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ (Báo Quốc), Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, ở Thuận Hóa.
    • Thiền sư Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
    • Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
    • Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông ở Phú Yên
    • Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và các chùa Quốc An và Hà Trung ở Thuận Hóa.
    • Riêng hai vị Thiền sư Thạch Liêm khai sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa và Quốc sư Hưng Liên (đệ tử Thạch Liêm) khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng Nam thuộc phái Tào Động
    3. Lịch sử Phật giáo Việt Nam triều Nguyễn:
    a. Thời kỳ Tây Sơn:

    Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước, Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ ở các làng xóm để tập trung vật liệu xây ở mỗi Phủ, Huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang và cho mời những Tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo, còn những người không xứng đáng phải hoàn tục. Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lạm phát chùa chiền và thoái hóa của Tăng sĩ trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố phường, làng mạc, bàng bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở, nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo trong cả một chương trình phát triển đại quy mô. Nhưng vì vua Quang Trung mất sớm nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.Thời kỳ nầy có một tác phẩm nổi bậc đó là “Hứa Sử truyện” của Ngài Toàn Nhật, đệ tử Ngài Diệu Nghiêm.

    b. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long:

    Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn. Triều đình Nguyễn Gia Long thực hiện đúng bản chất của một chế độ Tống Nho thời Hậu Lê. Qua hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn: Quật mộ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem giam sọ của hai người vào ngục tối, con của vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và các tướng lãnh khác cùng vợ con kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, voi dày xé xác. Con cháu anh hùng Quang Trung bị truy nã, chém giết, các di tích liên hệ đến phong trào Tây Sơn bị tiêu hủy với ý đồ man rợ qua câu nói: “trẫm vì chín đời mà trả thù”. Rồi để cũng cố nền thống trị độc tài bằng cách tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế, tạo nên thế gia đình trị, Nguyễn Ánh tiếp tục giết hại những công thần đã cùng vào sinh ra tử như: Đỗ Thành Nhơn, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, san bằng mồ mã Lê Văn Duyệt, Lê Chất… Do chính sách của Nguyễn Ánh, sợ ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị, nên Phật giáo không được ưu đãi. Tuy có một số chùa được sắc tứ và trùng tu nhưng là những ngôi chùa mà trong thời gian bôn tẩu Nguyễn Ánh đã từng cư trú, hoặc chuẩn bị để đánh bại Quang Trung, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích gây phúc đức cho dòng họ. Tuy vậy vẫn có một số danh Tăng nổi tiếng như:

    • Thiền sư Mật Hoằng người Bình Định, đệ tử của Thiền sư Linh Nhạc thuộc dòng phái Nguyên Thiều, năm 1815 được vua Gia Long triệu về kinh cấp chứng chỉ Tăng Cang và trú trì chùa Quốc An.
    • Thiền sư Phổ Tịnh người Quảng Nam hiệu là Đạo Minh, đệ tử của Ngài Chiếu Nhiên thuộc phái Liễu Quán. Năm 1808 được Hoàng Thái Hậu Hiến Khương thỉnh trụ trì chùa Thiên Thọ (Báo Quốc). Ngài tịch năm 1816.
    • Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chính, đệ tử của Thiền sư Đạo Nguyên. Ngài xuất gia năm 1807, thọ Cụ túc giới năm 1810 là người sáng tác sách ‘Pháp Hoa đề cương’ năm 1819 và Tâm kinh Trực giải năm 1843 còn lưu lại đến ngày nay.
    • Thiền sư Thanh Nguyên hiệu Minh Nam là người viết bài tựa cho ‘Pháp Hoa đề cương’.
    • Thiền sư An Thiền trú trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh là tác giả cuốn Tam Giáo Thông Khảo viết vào năm 1845.
    • Thiền sư Nhất Định pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị sinh năm 1783 tịch năm 1847. Đương thời Thiền sư được vua Gia Long và vua Minh Mạng tôn trọng.
    • Thiền sư Diệu Giác pháp danh Hải Thuận, người làng Bích Khê, Quảng Trị họ Đỗ, sinh năm 1805, mất năm 1896. Là đệ tử của Thiền sư Nhất Định, trú trì chùa Diệu Đế là người có công trùng tu các tổ đình Huệ Lâm, Báo Quốc, Kim Tiên.
    • Thiền sư Phúc Điền trú trì chùa Liên Tông làng Bạch Mai, Hà Đông là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo, Ngài biên soạn sách ‘Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục’.
    • Và còn rất nhiều danh Tăng nổi tiến khác.
    III. NHẬN ĐỊNH:

    Lịch sử Phật giáo suốt hai triều LÊ – NGUYỄN kéo dài 517 năm, nhưng do tình hình chính trị trong nước bất ổn nên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật giáo nước nhà.

    Thời Hậu Lê nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, nền văn hóa dân tộc độc lập của Đại Việt bị thay thế bằng nền văn hóa giáo điều và từ chương của Tống Nho. Nho học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thoái lại càng suy thoái hơn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vỡ sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý – Trần. Bởi vậy triều Hậu Lê xem như là một triều đại mà Phật giáo suy đồi nhất trong các triều đại kể từ khi đất nước Đại Việt dành lại chủ quyền dân tộc từ tay đế quốc Trung Hoa đến thế kỷ 15 – 16. Trong thời kỳ này đa số Tăng sĩ thiếu học, tu tập theo hình thức, không chú trọng nội dung tư tưởng, ngoài ra còn làm nhiều việc mê tín như: điểm nhãn, cầu mưa, phù chú..

    Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhìn chung hai họ Trịnh Nguyễn đều hâm mộ đạo Phật, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo công đức cho dòng họ, chứ không biết áp dụng Phật giáo vào việc trị dân, dựng nước, đồng thời cùng chung mục đích là dành dân, chứng tỏ là mình cai tri nhân từ, để lấy chính nghĩa hầu tranh quyền lẫn nhau.

    Tóm lại qua lịch sử cho chúng thấy được:
    • Sự rạn nức niềm tin nơi triết học Tống Nho, khiến nhiều nhà trí thức quay qua nghiên cứu Phật giáo.
    • Từ năm 1558 – 1802 có 3 phái thiền hoằng hóa ở Đàng trong: Trúc Lâm – Lâm Tế và Tào Động (do một số cao Tăng từ Trung Hoa sang truyền các dòng Thiền vào nước ta).
    • Tăng tài tuy nhiều nhưng không có hệ thống nhất quán mà chỉ phát triển theo khu vực.
    • Phật giáo Đàng Trong phục hưng và phát triển mạnh dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng vì tình trạng chiến tranh và ảnh hưởng của chính trị nên tài liệu về Phật giáo bị tiêu hủy và thất lạc: từ các phổ hệ truyền thừa của các thiền phái đến các lịch sử truyền thừa của các chùa cũng như ngữ lục, tiểu sử của các thiền sư thời đó.
    • Về văn học sử dù bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn một số tác phẩm văn học mang ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo tiêu biểu như:
    • Thi phẩm “Tư Dung văn” của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634).
    • Tác phẩm “Sãi Vãi” và 10 bài thơ họa lại “Hà Tiên thập cảnh” (của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích) của Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1717-1767).
    • Thi phẩm chữ Nôm “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh” của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích.
    • Thi phẩm “Phong Trúc tập” của ẩn sỉ thiền giả Ngô Thế Lân (người đã dâng các bảng điều trần lên chúa Nguyễn).

    Tuy nhiên theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc tinh thần Đạo Phật được xem như đã hòa quyện cùng với tinh thần dân tộc của người dân Việt, vì lẽ đó Phật giáo vẫn tiềm tàng trong mọi giới chờ một ngày thuận duyên sẽ đơm hoa kết trái.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  10. 10Ngài Nguyên Thiều – Ngài Liễu Quán

    Tổ Siêu Bạch – Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 )

    Hình minh họa: Tổ Siêu Bạch – Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 )

    I. LƯỢC SỬ

    1. Thân thế và đạo nghiệp:

    Thiền sư gốc người ở huyện Trinh Hương, phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông, con nhà họ Tạ, sanh vào giờ Tuất ngày 18 tháng 05 năm Mậu Tý (08.07.1648). Viên tịch vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân (20.11.1728).

    Năm 19 tuổi (1666) thiền sư cát ái từ thân, xuất gia học đạo với Hòa thượng Bổn Quả – Khoáng Viên ở chùa Bảo Tự, được ban Pháp danh là Nguyên Thiều pháp tự Hoán Bích, pháp hiệu Thọ Tông thuộc phái Lâm Tế đời thứ 33.

    Thiền sư theo thuyền buôn sang Đại Việt năm 1677 (Đinh Tỵ) trong đời chúa Nguyễn Phúc Tần. Ban đầu Ngài cư trú tai phủ Quy Ninh (Bình Định bây giờ), lập chùa Thập Tháp Di Đà để hoằng dương chánh pháp, chùa được xây dựng trên đồi Long Bích phía bắc thành Trà Bàn (Đồ bàn) thuộc địa phận làng Thuận Chánh huyện Tuy Viễn (Sau chùa có 10 ngôi cổ tháp người Chàm trước đây nên gọi là Chùa Thập Tháp). Chùa lập năm Đinh Tỵ (1677) và khánh thành năm Quí Hợi (1683). Năm 1683 Ngài ra Thuận Hóa làng Hà Trung dựng chùa Phổ Thành (hay chùa Hà Trung) (1) thuộc huyện Phú Lộc, rồi dựng chùa Vĩnh Ân (sau đổi là chùa Quốc Ân, chùa được khánh thành năm Giáp Tý – 1684 đời chúa Hiền) ở Phú Xuân và xây tháp Phổ Đồng năm 1684, chùa tọa lạc tại ấp Phúc Quả. Chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho liễn đối có ghi đạo hiệu của chúa “Thiên Tùng Đạo nhân” (sách Đại Nam thống chí ghi rằng: Tháp Phổ Đồng được xây trước chùa Quốc Ân, sau đó bị chiến tranh tàn phá).

    Đến đời chúa Nguyễn Phúc Trăn chúa có nhờ Ngài Nguyên Thiều qua Trung Hoa thỉnh pháp khí, pháp tượng và mời các cao Tăng như sau:

    • Thiền sư Giác Phong (khai sơn chùa Hàm Long tức chùa Báo Quốc ở Phú Xuân).
    • Thiền sư Từ Lâm (khai sơn chùa Từ Lâm ở Phú Xuân)
    • Thiền sư Minh Hoằng – Tử Dung (khai sơn chùa Ấn Tông nay là chùa Từ Đàm ở Phú Xuân).
    • Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo (khai sơn chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam).
    • Thiền sư Hưng Liên – Quả Hoằng (trụ trì chùa Tam Thai trên núi Ngũ Hành Sơn Quảng nam) và một số thiền sư khác thuộc phái Tào động.

    Sau khi hoàn thành sứ mạng tốt đẹp, Tổ sư Nguyên Thiều được chúa Nguyễn hỗ trợ mở một Đại Giới đàn để truyền giới cho các thiền sư thuộc phái Lâm Tế ở Trung Hoa mới sang Đàng Trong và các thiền sư thuộc phái Trúc Lâm trước đây, cùng một số tăng sĩ ở Đàng Trong theo thọ pháp với phái Lâm Tế.

    Sau khi ở chùa Quốc Ân một thời gian khá lâu, đến năm 1692 vì có một cuộc nỗi loạn do một số người Hoa lãnh đạo, khiến cho chúa Nguyễn Phước Châu xuống sắc đưa Tổ sư Nguyên Thiều lại về trụ trì chùa Hà Trung. Đến năm 1694, Nguyễn Phước Thông và Nguyễn Phước Huệ lại âm mưu chống chúa Nguyễn Phước Châu, âm mưu bị lộ cả 2 đều bị giết, sau đó năm 1695 một người Hoa ở Qui Nhơn, tên là A Ban hợp cùng một người tên Linh nổi loạn ở Quảng Ngãi – Qui Nhơn. Vì vậy tổ sư Nguyên Thiều và một số đệ tử của Ngài vào miền Nam lánh nạn ẩn tích và hoằng hóa ở vùng đất Đồng Nai (người Việt và người Hoa đến làm ăn sinh sống khá đông). Ngài lập chùa Kim Cang ở ấp Bình Thảo dinh Trấn Biên (xã Tân Phước, thị xả Vĩnh An, tỉnh Đồng Nai ngày nay). Ngài viên tịch ở đây ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân (20.11.1728) thọ 81 tuổi. Trước khi tịch Ngài cho tập trung Tăng đồ, dặn dò mọi chuyện và truyền lại bài kệ sau:

    “Tịch tịch cảnh vô ảnh

    Minh minh châu bất dung

    Đường đường vật phi vật

    Liêu liêu không vật không”

    dịch: Lặng lẽ gương không chiếu bóng

    Sáng trưng ngọc chẳng thâu hình

    Rõ ràng vật không phải vật

    Mênh mông không chẳng là không.

    Ý ngài muốn khai thị chúng tăng: thể pháp thân thanh tịnh trong sáng như tấm gương, tuy hiện tiền sự vật có sai khác nhưng đều là một thể pháp thân biến hiện, thể pháp thân vắng lặng mà không phải là không, tức là lý chơn không diệu hữu vậy.

    Sau khi Ngài thị tịch Tháp của Ngài được đồ chúng lập tại chùa Kim Cang (phát hiện vào ngày 26.12.1988 – đã đăng trên báo Giác Ngộ số 316 và 317 năm 1989) và được đồ chúng trong môn phái Thiền Lâm Tế trùng tu nhiều lần và lần cuối cùng vào thập niên 1900 – 1910 do 3 vị đứng đầu trong một trường Hương được tổ chức ở chùa Kim Cang cùng chư Tăng trong tông phái Lâm Tế ở các tỉnh miền Nam đứng ra trùng tu gồm:

    • Pháp sư là Hòa Thượng chùa Sắc Tứ Từ Ân ở Gia Định.
    • Thiền Chủ là Hòa thượng chùa Hội Khánh ở Thủ Dầu Một (Bình Dương).
    • Chủ Hương là Yết ma chùa Phổ Quang Biên Hòa
    Và 3 Hòa thượng chứng minh công trình trùng tu là:
    • Hòa thượng chùa Hưng Long Thủ Dầu Một (Bình Dương)
    • Hòa thượng chùa Đức Sơn Thủ Dầu Một (Bình Dương)
    • Hòa thượng chùa Long Thạnh Gia định.

    Sau khi Tổ sư viên tịch ở chùa Kim Cang (Đồng Nai), đồ chúng ở phủ thành Phú Xuân và Thuận Hóa lập “tháp vọng” để thờ ở chùa Hà Trung và xin với chúa Nguyễn Phước Trú (1725-1738) ban cho bài Minh. Nhân lễ Phật Đản năm Kỷ Dậu (1729) chúa Nguyễn Phước Trú ban thụy hiệu cho Tổ sư là “THIỀN SƯ HẠNH ĐOAN” và ban cho bài Ký Minh trên tháp “Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp Ký Minh”. Bài minh khắc vào bia để ca tụng đạo hạnh của Ngài như sau:

    Dịch:

    Ưu ưu Bát Nhã Cao vút trí tuệ

    Đường đường Phạm thất Phạm hạnh vun trồng

    Thủy nguyệt ưu du Giới dao một lưỡi

    Giới trì chiến lật Trăng nước thung dung

    Trạm tịch cô kiên Ngài đứng một thân

    Trác lập khả tất Trăng lặng kiên cường

    Quán thân bốn không Hoằng pháp lợi người

    Hoằng pháp lợi vật Quán thân vốn không

    Biến phú từ văn Mây từ che khắp

    Phổ chiếu tuệ nhật Trời tuệ chiếu cùng

    Chiêm chi chiêm chi Ngắm đi ngắm đi

    Thái sơn ngật ngật Thái sơn oai hùng)

    Sau khi chúa Nguyễn Phước Trú ban cho Tháp của Tổ sư ở Chùa Sắc Tứ Hà Trung bài “Ký Minh”, đồ chúng ở Phú Xuân lập Tháp “Hóa Môn” để thờ. Tháp Ngài dựng bên một ngọn đồi nhỏ thuộc xóm Thuận Hòa, làng Dương Xuân Thượng, cách đàn Nam Giao (Huế) khoảng 1km về phía Đông Nam, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7 km theo đường bộ (nay ở gần chùa Trúc Lâm thuộc làng Thủy Xuân, thành phố Huế).

    2. Ảnh hưởng kế thừa:

    Thiền sư Nguyên Thiều là vị tổ truyền phái Lâm Tế đầu tiên ở miền Trung nước ta và cũng là người đầu tiên đem đạo Phật truyền bá vào Thuận Hóa (Thừa Thiên bây giờ). Nối tiếp Ngài là những pháp tử và pháp tôn nổi danh, cùng đại chấn tông phong phái Thiền Lâm Tế ở Đàng Trong và còn truyền thừa đến tận ngày nay như:

    a. Thiền sư Minh Giác Kỳ Phương hay Thành Đạo (1682-1744)

    Là người kế thế Tổ sư trụ trì chùa Thập tháp – Di Đà ở Qui Nhơn sau đó ra trụ trì chùa Thiên Mụ và chùa Quốc Ân, ngài có đệ tử là Phật Tỉnh – Từ Nghiêm ở chùa Hưng Long.

    b. Thiền sư Minh Vật – Nhứt Tri (? – 1786)

    Là người kế thế Tổ sư trụ trì chùa Kim Cang (Đồng Nai), ngài có đệ tử nổi danh như:

    • Thiệt Thành – Liễu Đạt hay Hòa Thượng Liên Hoa ở chùa Từ Ân và Khải Tường Gia định, có thời được cử làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ (1817-1823).
    • Thiền sư Thiệt Thoại -Tánh Tường khai sơn chùa Huê Nghiêm Thủ Đức.

    c. Thiền sư Thành Đẳng – Minh Lượng – Nguyệt Ân (1686-1769)

    Hoằng hóa ở chùa Đại Giác (Đồng Nai), khai sơn chùa Vạn Đức Hội An và chùa Bảo Phong Khánh Hòa, ngài có các đệ tử nổi danh như:

    • Thiệt Địa – Pháp Ấn khai sơn chùa Kim Sơn, Kim Ấn ở Khánh Hòa.
    • Phật Ý – Linh Nhạc khai sơn chùa Từ Ân và Khải Tường ở Gia định
    • Phật Tuyết – Tường Quang kế thế trụ trì chùa Vạn Đức
    • Phật Tường – Đức Liên khai sơn chùa Quang Hòa (Bình Định)
    d. Thiền sư Minh Hằng – Định Nhiên:

    Kế thế Tổ sư trụ trì chùa Quốc Ân có đệ từ là Thiền sư Thiệt Tánh – Trí Hải.

    e. Thiền sư Minh Phụng:

    Khai sơn chùa trên núi Hòn Sấm (khánh Hòa), gần chùa Bào Phong.

    f. Thiền sư Thành Ngộ – Nghiêm Am

    Hoằng hóa ở chùa Linh Thứu (hiện nay không rõ chùa này ở đâu và truyền thừa ra sao)

    g. Thiền sư Thành Chí – Pháp Thông – Minh Dung (1691-1749)

    Hoằng hóa ở chùa Hoàng Long.

    h. Thiền sư Thành Nhạc – Ẩn Sơn

    Khai sơn chùa Châu Thới và chùa Long Thiền (Đồng Nai) có đệ tử là Phật Chiếu – Linh Quang khai sơn chùa Phước Tường ở Thủ Đức.

    i. Thiền sư Minh Hải – Pháp bảo (1670-1754)

    Còn gọi là Pháp Hóa hiệu Đắc Trí khai sơn chùa Chúc Thánh Quảng Nam và chùa Thiên Ấn tại Quảng Ngãi.

    Chính nhờ ảnh hưởng đạo hạnh của Ngài, các vị tăng ở trên và những vị thừa kế Ngài, sau khi Ngài tịch đã tiếp tục hoằng hóa tích cực xiển dương đạo pháp, dân chúng được ảnh hưởng tốt đẹp của đạo Phật.

    II. NHẬN ĐỊNH:

    Vẫn biết trong thời Trịnh Nguyễn, ngoài Thiền Sư Nguyên Thiều, cũng còn nhiều thiền sư khác nữa đến miền Trung nước ta nhưng Thiền Sư là một trong những vị đến sớm nhất và lại là người có nhiều công lớn với Phật giáo Việt Nam trong thời nầy. Ngài còn là một trong hai vị Tổ của phái Lâm Tế ở Việt Nam. Ngày nay mỗi lần hàng Phật tử chúng ta tưởng niệm đến Ngài là tưởng niệm một ân tăng trong thời kỳ Phật giáo Việt Nam đang suy đồi.

    Qua những tư liệu về lịch sử của Ngài, đến giờ này vẫn chưa có một tư liệu thống nhất về lịch sử, mong rằng một ngày rất gần đây chư vị tôn túc của Phật giáo nước nhà sẽ kết tập và hiệu chỉnh tư liệu để có được một tư liệu đầy đủ và chân xác đối với một danh Tăng từng có công đầu trong việc phục hưng Phật giáo nước nhà.

    Chú thích:

    (1): Theo Việt Nam Phật Giáo Sử luận của TT Mật Thể và Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Lang thì năm Ngài sang Việt Nam (Bình Định là năm 1665) và tháp của Ngài được tôn tạo tại chùa Quốc Ân Huế. Nhưng theo Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức do nhà xuất bản Tp. HCM ấn hành năm 1993 thì năm Ngài đến Việt Nam (Bình Định) là năm 1677 và tháp có nhục thân của Ngài được tôn trí tại chùa Kim Cang (Đồng Nai).

    SÁCH THAM KHẢO:
    • “Việt Nam Phật Giáo sử lược” của Thượng Tọa Thích Mật Thể.
    • “Việt Nam Phật Giáo sử luận” tập II của Nguyễn Lang do nhà xuất bản Văn học Hà Nội tái bản lần thứ 3 năm 1994.
    • “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong” của Nguyễn Hiến Đức do nhà xuất bản TP.HCM ấn hành năm 1993

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tổ Liễu Quán

    Hình minh họa: Tổ Liễu Quán

    Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.

    Tuy nhiên, chế độ cầm quyền dù có khác nhau mà lòng dân vẫn là một. Dân Đàng Trong hay dân Đàng Ngoài vẫn coi nước Việt Nam là một, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng vẫn giống nhau. Dân Đàng Ngoài tin Phật giáo, dân Đàng Trong cũng tin Phật giáo, mặc dù Phật giáo lúc này đã suy vi rất nhiều so với Phật giáo thời Lý Trần. Song do có lòng tin đó, mà Đàng Trong hay Đàng Ngoài vẫn có các vị Thiền sư kể cả các vị Thiền sư Trung Quốc qua tiếp tục truyền bá đạo Thiền thuộc phái Lâm Tế và Tào Động.

    Gặp lúc ở Tàu nhà Mãn Thanh lên thay nhà Minh, những Tăng sĩ Tàu không thần phục nhà Thanh mới bỏ sang Việt Nam. Người vào đất Bắc như Chuyết Công Hòa thượng, Minh Lương Hòa thượng, người vào đất Nam như Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong Lão tổ, Thọ Tôn Nguyên Thiều, Minh Hoằng Tử Dung, Thạch Liêm Đại Sán v.v… sang ở vùng Thuận Hóa và Bình Định. Trong khoảng thời gian này, ở Đàng Trong có một vị Thiền sư Việt Nam, đạo đức cao siêu, tâm quang sáng rực, được tôn làm Tổ, đó là Hòa thượng Liễu Quán mà cuộc đời của Ngài thật là một tấm gương tốt chói lọi của một trong những vị Sư thông thái nhất xứ này.

    Tổ Liễu Quán mở pháp môn ở núi Thiên Thai thuộc Thuận Hóa. Ngài đặt bài kệ: “Thật Tế Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng v.v…” để làm pháp hệ truyền thừa mãi đến này vẫn còn tiếp nối. Hầu hết các chùa ở vùng Trung và Nam Việt đều thuộc phái Thiền Lâm Tế này, trong khi việc truyền bá của các vị Thiền sư Trung Quốc không mấy rộng rãi và liên tục cho bằng. Tổ Liễu Quán thật đã có một vị trí sáng chói trong lịch sử Phật giáo cuối đời Hậu Lê. Vậy ở đây ta hãy tìm hiểu rõ hơn về ngài.

    Ở khoảng ba cây số về phía Namđàn Namgiao có một ngôi tháp đến nay còn được giữ gìn hoàn hảo đẹp đẽ ở trên một thửa đất có tường thành bao quanh, có tam cấp và hồ sen. Đó là ngôi tháp của Tổ Liễu Quán. Có thể nói đây là ngôi tháp hùng vĩ, cổ kính, uy nghiêm nhất từ xưa còn lại ở miền Trung và Nam Việt. Khuôn viên thấp gồm có kiến trúc Pháp tường thành, nền hồ vôi, rộng vào khoảng 70 mét vuông, nếu kể toàn diện tích đất chung quanh thì có thể gần một héc-ta, trong đó có phần trồng thông và xoài. Tháp có hai lớp tường thành bằng đá bao quanh. Lớp trong hình bát giác cao độ 0m60 ở gần tháp. Lớp ngoài hình tứ giác cao độ 1m80, dày 1m. trước tháp có tam cấp danh dự ngang 4 mét gồm 10 bậc. Ở ngoài nhìn trên cổng tường vào tháp có biển đề chữ: “Đàm hoa lạc khứ hữu du hương” (Hoa Đàm rụng hương thơm vẫn còn). Hai bên có hai câu đối: “Bửu đạt trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy; Pháp thân độc lộ y nhiên tạo lý khán thanh sơn” (Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh).

    Phía trong tường thành là ngôi tháp dựng ở chính giữa, hình bát giác hồ vôi, cao 7 tầng độ 6 mét, mặt trước có bia đá áp sát vào và mang các dòng chữ: bên trên: “Vô lượng quang”, dòng giữa bia: “Sắc tứ Chánh giác Viên ngộ Liễu Quán lão Hòa thượng chi tháp”. Hai bên có hai câu đối: “Bỗng át chân phong gia kế thuật; Tân lương mỹ hóa quốc bao sùng” (Chân phong của phép Thiền đánh hét được ngài kế thừa truyền thuật; Đức hòa tốt đẹp của bậc Thầy hướng đạo được cả nước khen ngợi tôn sùng). Áp sát mặt trong tường thành bên trái của tháp có tấm bia đá sa thạch cao 1m, rộng 0m60, văn bia gồm gần 1.500 chữ Hán, do người cháu trong đạo của Tổ Liễu Quán, bấy giờ đang làm Sư ở chùa Tang Liên bên Trung Quốc soạn và dựng năm thứ 9 niên hiệu Cảnh Hưng (1748, vua Lê Hiển Tôn), đúng 6 năm sau ngày Tổ Liễu Quán viên tịch. Chính nội dung tấm bia này là một tài liệu đầy đủ nhất còn lại cho ta biết rõ công hạnh tu chứng và hóa đạo của Tổ Liễu Quán.

    Dưới đây là bản dịch các điểm chính tấm bia ấy: “Đặc điểm căn bản của Phật giáo chúng ta là gì? – Theo Phật giáo, con người không phải từ cửa tử sanh ra, cũng phải chết đi là đi vào cửa tử. Thế nên người xưa sống trong rừng sâu hang động, chỉ ăn ngủ sơ sài, chẳng có gì quan trọng đáng lo nghĩ hơn là vấn đề sống và chết”.

    Tìm được một người chấp nhận hy sinh cho đạo pháp, nhất là lúc Phật giáo đang suy đồi như Hòa thượng Liễu Quán của chúng ta thật là điều hy hữu.

    Ngài Quán làng Bạc Mã, huyện Đồng xuân phủ Phú Yên, họ Lê, pháp danh Thiệt Diệu, hiệu Liễu Quán. Tu học từ thuở nhỏ, ngài tỏ ra thông minh khí tiết hơn các bạn đồng học. Mất mẹ năm lên sáu, theo ý nguyện của ngài, thân phụ ngài đã gởi ngài đến chùa Hội Tôn thụ giáo với Tế Viên Hòa thượng. Bảy năm sau Tế Viên Hòa thượng tịch, Ngài ra Huế vào chùa Hàm Long (tức chùa Bảo Quốc ngày nay) thụ học với Giác Phong lão tổ.

    Năm Tân Tỵ (1691), sau khi xuống tóc được một năm, ngài được gọi về làng cũ để giúp đỡ phụ thân trong lúc già yếu. Nhà nghèo ngài phải đi hái củi bán lấy tiền lo thuốc thang. Bốn năm sau phụ thân qua đời vào năm Ất hợi (1695) ngài lại trở ra Huế chính thức thụ giới Sa-di với Thạch Liêm Đại Sán Hòa thượng. Năm Đinh sửu (1697) ngài tiếp tục thụ giới Cụ túc với Từ Lâm lão Hòa thượng.

    Năm Kỷ Mão (1699) ngài đi khắp Tòng Lâm thăm viếng nhiều chùa để học hỏi đạo lý, và quyết định hiến thân cho đời sống đạo, chẳng quản đạm bạc gian lao. Từ đó ngài tinh chuyên tu tập.

    Năm Nhâm ngọ (1702) ngài đến Long Sơn đầu sư với Tử Dung Hòa thượng (người sáng lập Ấn Tôn Từ Đàm hiện nay), một vị Hòa thượng có tiếng thông thái khéo dạy người niệm Phật tham Thiền của thời này.

    Trước khi chấp nhận ngài làm học trò, Hòa thượng Tử Dung đã thử nhiều lần và bắt ngài giải thích câu sau đây: “Muôn pháp quy về một, một về đâu?”. Ngài đã tìm kiếm 8, 9 năm không ra câu giải đáp và đã thất vọng.

    Một hôm nhân đọc Truyền Đăng Lục, ngài gặp câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ” (Chỉ vật truyền tâm, chỗ mà người ngoại cuộc không hiểu được), bỗng nhiên ngài thấy đã tìm ra câu giải đáp mà thầy mình đã đặt ra, nhưng vì đường sá xa cách, không thể đến trình chỗ ngộ với thầy ngay được.

    Năm Mậu Tý (1708) ngài đến Long Sơn (Huế) để đệ trình kết quả với câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”. Hòa thượng Tử Dung lại dạy câu: “Đứng ở mé bờ cao vút buông tay, tự mình chịu lấy, chết rồi sống lại, bấy giờ không ai có thể dối người” (Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương, tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc). Ngài vỗ tay cười lớn tiếng. Hòa thượng nói: “Không phải vậy đâu”. Ngài liền đọc: “Xứng chùy nguyên thị thiết”. (Cái dùi nguyên là sắt). Hòa thượng đáp: “Cũng không phải vậy đâu”.

    Hôm sau Hòa thượng lại tiếp tục thử ngài bằng câu: “Công án ngày qua chưa giải đáp xong, hãy nói lại xem?”. Ngài liền đọc hai câu: Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi. Hòa thượng tán thán.

    Năm Nhâm thìn (1712) khi Hòa thượng Tử Dung vào Quảng Nam để làm lễ Toàn Viện (?) ngài Liễu Quán trình Hòa thượng bài kệ dục Phật (tắm Phật). Xem bài kệ, Hòa thượng đặt cho ngài câu hỏi sau đây: “Tổ Tổ truyền cho nhau, Phật Phật trao cho nhau, chưa rõ truyền trao cái gì ấy?”. Ngài Liễu Quán đáp: “Măng đá mọc chồi dài một trượng, phủ phất lông rùa nặng ba cân”. Hòa thượng Tử Dung tiếp hỏi: “Thuyền trượt trên núi cao, ngựa chạy dưới đáy biển” nghĩa là gì? Ngài đáp: “Trâu đất gãy sừng rống thâu đêm, đàn cầm không giây gảy suốt ngày”.

    Rồi ngài chép lại tất cả những câu đối đáp trình ngay lên Hòa thượng Tử Dung và được Hòa thượng hoàn toàn thừa nhận.

    Ngài là người có trí thông minh phi thường, chí nguyện siêu việt.

    Năm Nhâm dần (1722) ngài về trụ ở Tổ đình Thiền Tôn – Huế. Trong các năm Quý sửu. Giáp dần, Ất mão (1733, 1734, 1735) ngài mở bốn đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của các hàng cư sĩ, xuất gia và các quan viên hộ pháp. Năm Canh thân (1740) sau khi truyền giới đàn Long Hoa, ngài trở lại tổ đình.

    Đương thời Hiếu Minh vương Nguyễn Phúc Chu cảm phục đạo đức và danh tiếng của ngài, triệu ngài vào cung, nhưng ngài muốn giữ sự tự tại ở chốn lâm tuyền nên đã từ tạ lời thỉnh mà không đến.

    Mùa xuân năm Nhâm tuất (1742) ngài lại mở giới đàn tại chùa Viên Thông. Vào cuối thu, tháng 9 năm ấy (tháng 10 năm 1742) ngài lâm bệnh nhưng không có dấu hiệu gì trầm trọng. Tháng 10 năm ấy, ngài họp các đệ tử nói: “Tôi sẽ ra đi, sứ mạng của tôi ở đời này đã xong”. Các đệ tử khóc òa. Ngài khuyên bảo: “Tại sao các vị khóc? Chư Phật còn nhập Niết-bàn. Tôi cũng vậy, tôi đến đi rõ ràng, về có nơi chốn. Xin đừng buồn rầu, hãy cố gắng tinh tấn hơn lên”.

    Tháng 11 âm lịch năm ấy, mấy ngày trước khi mất, ngài ngồi dậy tự tay viết bốn câu:

    “Ngoài bảy mươi năm trong thế giới Không không sắc sắc thấy dung thông Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ Nào phải ân cần hỏi tổ tông”.

    Viết xong, ngài bảo các đệ tử: “Các vị xem này, tôi đến với cõi đời này giản dị biết bao nhiêu. Tôi sẽ ra đi trọn vẹn. Mai sau các vị hãy áp dụng thực hành Thánh hạnh. Xin hãy cố gắng chớ quên lời dạy bảo của tôi”.

    Ngày 22 tháng 11 năm Nhâm tuất (tháng 12 năm 1742) sau khi dùng trà, hành lễ buổi sáng, ngài hỏi đệ tử mấy giờ. Các đệ tử đáp bây giờ là giờ mùi (khoảng 1 đến 3 giờ chiều), ngài thở hơi cuối cùng.

    Chúa Minh vương Nguyễn Phúc Chu ban thụy hiệu là Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng để khắc bia.

    Di thể được chuyển mai táng ngày 19 tháng 2 năm Quý hợi (1743) ở ngôi tháp mới nằm phía Nam núi Thiên Thai, trên thửa đất làng An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (cũ).

    Ngài Liễu Quán sinh giờ Thìn (khoảng 7 đến 9 giờ sáng) ngày 13 tháng 11 năm Đinh vị (1667), viên tịch ngày 22 tháng 11 năm Nhâm tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ III (1742), 43 tuổi hạ, 76 tuổi đời, độ 49 đệ tử xuất gia danh tiếng và rất đông đệ tử tại gia.

    Người thế tục cho rằng thế gian có sanh tử khứ lai, nhưng đối với Ngài Liễu Quán thì không như vậy. Thương kính Ngài, vị Thiền sư khả kính của chúng ta không còn nữa, Ngài đã nhập Niết-bàn. Vậy không phải nói gì cho Ngài nữa, nhưng những công nghiệp phục vụ đạo pháp của Ngài được ghi lại đây là để làm tỏ rạng đạo giáo cho tương lai chúng ta.

    Ghi lại theo tài liệu của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  11. 11Khái lược 6 vị Tổ Thiền tông Trung Hoa
    Hình minh họa: Khái lược 6 vị tổ Trung Hoa
    1. SƠ TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA:

    Bồ-Đề Đạt-Ma dịch là Pháp, tức quy tắc hay chấp trì. Nghĩa là sơ tổ của phái Thiền-tông Trung-Quốc và là tổ thứ 28 của Phật giáo Ấn-Độ. Ngài kế thừa Phật Pháp từ tổ Ca-Diếp là đệ nhất tổ.

    Ngài người Nam Thiên-Trúc dòng Sát-Đế-Lợi, con trai thứ ba của vua Hương-Chí, với tên thật là Bồ-Đề-Đa-La. Sau khi gặp tổ thứ 27 là Bác-Nhã-Đa-La và được nối dòng Tông pháp nên được đổi tên từ Đa-La sang Đạt-Ma. Sau khi hòan tất nhiệm vụ thống nhất các giáo phái giữa hai vị Thiền sư Phật Đại-Tiên và Phật Đại-Thắng cũng như khuyên vua Dị-Kiến chuyên tu tịnh nghiệp và hộ trì Tam bảo, Ngài phú chúc cho đệ tử là Bát-Nhã-Mật-Đa ở lại Thiên Trúc và lên thuyền của vua ban để vượt biển sang Trung Hoa theo di chúc của Thầy, trải qua hàng ngàn dặm với nhiều nguy khó sau 3 năm cuối cùng đến đất Quảng-Châu vào thời vua Lương Võ Đế niên hiệu Phổ Thông thứ VII ngày 21.9.Canh Tý (520). Tại đây ngài được vua Võ-Đế đón về đất Kiến-Nghiệp, nhưng tiệt nhiên không nói một lời nào cả. Sau khi ở Quảng-Châu một thời gian, Ngài vượt sông sang đất Ngụy, nhưng đến đời Hậu-Ngụy (?) năm Chánh-Hiếu-Minh nguyên niên, Ngài dừng chân tại chùa Thiếu-Lâm, suốt ngày ngồi xoay mặt vào vách mà tọa thiền nên người đương thời gọi Ngài là ty quán (xoay mặt vào tường). Trong thời gian ở chùa Thiếu-Lâm có nhiều thiền giả đến học đạo thiền với Ngài, trong số đó có ngài Huệ-Khả (sau được truyền y bát). Ngài đã giảng về bốn hạnh Đại thừa nhập đạo có 2 cách:

    • Lý nhập: là noi giáo nghĩa mà ngộ được chơn tâm, nên tin tưởng sâu sắc cái sự thật là chúng sanh với chư Phật vốn đồng một thể tánh chơn như.
    • Hạnh nhập: có 4 nghĩa tóm lược là báo oan hạnh, tùy duyên hạnh, vô sở cầu hạnh và xứng pháp hạnh.

    Đến năm Kỷ Dậu (529) ngài thấy nhân duyên đã hết nên phú chúc y bát cho Huệ Khả và dặn dò các môn đồ cũng như nói trước những sự việc sẽ xảy ra 200 năm sau khi ngài thị tịch (y bát không cần truyền – đời Lục tổ). Trước khi tịch Ngài truyền pháp cho ngài Huệ-Khả qua bài kệ sau:

    Ta đến từ đất lành

    Truyền pháp cứu quần sanh,

    Một hoa nở năm cánh (*)

    Quả mãn tự nhiên thành.

    (Ngô bổn lai tư độ,

    Truyền pháp cứu quần sanh

    Nhứt hoa khai ngũ diệp

    Kết quả tự nhiên thành!)

    Ngài tịch vào năm 529 ngày mùng 9 tháng 10 Kỷ Dậu niên hiệu Đại-Thông năm thứ 2 đời nhà Lương. Hài cốt được an táng tại núi Bi-Nhĩ – Vua Lương Võ Đế có khắc bia ghi công hạnh Ngài. Đến đời Đường Đại-Tông vua sắc phong cho Ngài là “Viên-Giác Đại-Sư”.

    Ghi chú:

    (*) Từ đời ngài Đạt-Ma truyền dòng Thiền xuống tới đời ngài Huệ-Năng là 5 đời. Câu thứ ba trong bài kệ có ý nói dòng Thiền do Ngài sáng lập sẽ kế tục được 5 đời truyền pháp. Đó là: Ngài Huệ-Khả, ngài Tăng-Xáng, tổ Đạo-Tín, tổ Hoằng-Nhẫn và tổ Huệ-Năng.

    2. NHỊ TỔ HUỆ KHẢ (486-593)

    Ngài họ Cơ, sinh trưởng ở Võ Lão, thân phụ tên là Tịch, hai ông bà đã lớn tuổi mới sinh Ngài.

    Từ nhỏ ngài đã thông tuệ, thường đàm luận về các học thuyết của Lão và Trang Tử. Năm 30 tuổi, ngài được xem qua sách Phật, biết rằng đây là đạo lý thâm diệu nên thôi tham cứu sách thế gian chuyển qua nghiên cứu Phật pháp. Sau đi viễn du tìm thầy học đạo, khi đến Lạc Dương, núi Hương Sơn, chùa Long Môn thì gặp Thiền sư Bảo Tịnh, xin xuất gia tu hành. Sau đó ngài đến chùa Vĩnh Mục thọ giới tại Phù Du Giang Tử, chẳng bao lâu Ngài đã tinh thông cả kinh điển Luật-Luận.

    Năm 33 tuổi ngài trở về Hương Sơn tu thiền trên núi suốt 8 năm liền. Một hôm trong thiền định Ngài có linh cảm đi về phương Nam sẽ gặp Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ngài đến yết kiến thiền sư Bảo Tịnh hỏi ý kiến, Thiền sư cho biết là điềm lành, đi về phương Nam sẽ gặp chơn sư rồi đổi tên cho Ngài là Thần Quang. Ngài đến tham lễ Tổ Đạt Ma và khi đắc pháp được đổi tên là Huệ Khả.

    Sau khi đắc pháp ngài qua xứ Nghiệp Đô giáo hóa chúng sanh trong suốt 34 năm dưới nhiều hình thức. Khi thì giả dạng thế gian, khi vào tiệm rượu, hoặc hóa thân người giúp việc, làm thuê, làm mướn v.v... Sau đó Ngài đến chùa Khuông Cữu, huyện Quảng Thành, có Pháp sư Biện Hòa đang giảng kinh, ngài cũng giảng ngoài cửa Tam Quan, thiện nam tín nữ rút ra ngoài nghe pháp khiến thầy Biện Hòa giận, đi cớ quan. Ngài bị bắt và bị gia hình về tội “làm việc phi pháp” (ngài biết trước điều này sẽ xảy ra, nhưng vì nợ nên vui lòng thọ lãnh).

    Ngài Tăng Xán được tổ truyền y bát với bài kệ:

    Bổn lai duyên có đất

    Nhơn đất giống bông sanh

    Nếu không có giống sẵn

    Bông đâu có lẽ thành.

    Ngài biết trước sẽ có quốc nạn, nên đã dặn dò Tăng xán thân và y pháp cho khéo, đợi thời hoằng hóa mới được.

    Ngài hưởng thọ 107 tuổi, an táng tại Tù Châu. Sau khi Ngài viên tịch đến đời vua Đức Tông nhà Đường, ngài được truy phong là Đại Tổ Thiền Sư.

    3. TAM TỔ TĂNG XÁN

    Ngài người đất Từ Châu, nguyên là một Cư sĩ bị bệnh phong cùi vô phương cứu chữa. Ngài xuất tài sản lập ngôi thiếu thất cúng dường Tam Bảo. Ngài cầu nhị tổ Huệ Khả xin sám hối nghiệp chướng may ra có thể bớt bệnh. Tổ bảo:

    • Lành thay. Lành thay, ông cứ đem cái tội ra đây, ta một lòng sám hối cho.

    Ngài loay hoay một hồi rồi bạch: Bạch tổ, con tìm mãi mà không thấy.

    Tổ bảo: ta đã sám hối cho con rồi đó.

    Qua câu nói Ngài hoát nhiên đại ngộ. Đảnh lễ bày tỏ chỗ sở đắc của mình. Tổ hoan hỷ khen: “Đây là pháp khí của ta”. Tù đó bệnh phong cùi của ngài giảm dần rồi dứt hẳn. Hai năm sau Ngài lại truyền giao tâm ấn cùng y bát cho đệ tử là Đạo Tín. Kê phú chúc rằng:

    Hoa chủng tùy nhân địa

    Tòng địa chủng hoa sinh

    Nhược vô nhân hạ chủng

    Hoa địa tận vô sanh

    Dịch:

    Hoa nhân nơi đất gieo trồng

    Cũng do nơi đất nẩy mầm nở hoa

    Nếu không gieo hạt giống ra

    Hoa tàn đất rửa quyết là không sinh.

    Ngài nói xong bài kệ liền vào thị tịch. Nhằm vào năm vua Đường Đế nhà Tùy. Tháp Ngài xây ở đất Thu Châu. Về sau một mình nhà vua ngự giá ra xem được ngọc xá lợi 300 hạt, đem chia cho khắp nơi để tôn trí cúng dường. Đến đời vua Huyền Tôn nhà Đường sắc phong cho ngài hiệu là Giám Trí Đại Thiền Sư.

    4. TỨ TỔ ĐẠO TÍN:

    Ngài dòng dõi họ Tư Mã người đất Châu Kỳ. Ngài là người xuất chúng phi thường, thuở ấu thơ rất hâm mộ đạo Phật, các môn giải thóat ngài đều tỏ rõ như người trước kia đã học tập. Khi được thừa kế di phong của Tổ Tăng Xán thì ngài thu nhiếp thân tâm chưa từng ngủ nghỉ, hơn 60 năm trường không bén chiếu.

    Ngài gốc người Hà Nội, sau về ở núi Phả Châu đất Lý Châu mở trường giảng dạy đồ chúng. Vào năm Quý Mão niên hiệu Trinh Quan, vua Thái Tông triệu ngài vào kinh, Ngài khiêm tôn dâng sớ từ tạ hai, ba lần. Vua thấy thế nổi giận hạ lệnh sai sứ giả đưa chiếu chỉ triệu hồi, lần nầy nếu Ngài không phó kinh thì cắt lấy đầu đem về. Sứ giả đến nơi đưa chỉ dụ, Ngài liền kê cổ đến sát lưỡi gươm mà thần sắc vẫn nghiễm nhiên tự tại. Sứ giả thấy thế lấy làm lạ, liền làm trạng tâu về kinh. Vua nghe biết sự việc như thế liền khen ngợi và tỉnh ngộ. Vua ban tặng lụa là châu báu để cho Ngài tùy ý.

    Một hôm ngài cho gọi môn đồ là Hoằng Nhẫn và bảo rằng: Ta có y pháp xưa kia tổ trao truyền, nay ta giao phó cho ông, ông hãy giữ gìn lấy và nghe ta nói kệ sau đây:

    Hoa chủng hữu sinh tánh

    Nhân địa hoa sinh sinh

    Đại duyên dữ tính hợp

    Đương sinh, sinh bất sinh.

    Dịch:

    Gieo trồng hoa có tính sinh

    Hoa nhân địa vẫn phát sinh đời đời

    Đại duyên với tính hợp rồi

    Hoa kia sanh nở đời dời bất sanh.

    Ngài phó chúc kệ xong liền vào thị tịch. Tháp ngài xây ở ngay sau núi Phá Đầu. Sau này vô cớ tự nhiên tháp mở ra mà hình dáng của Ngài vẫn y như lúc còn sống. Các đệ tử thấy thế cũng không đóng cửa tháp lại, chỉ đảnh lễ rồi để nguyên cửa tháp như thế. Đến đời vua Đại Tông nhà Đường thì pháp hiệu của Ngài được vua đổi lại là Đại Y Thiền Sư.

    5. NGŨ TỔ HOẰNG NHẪN

    Ngài họ… Thuở đất Ký Châu, huyện Hoàng Mai. Thuở nhỏ ngài đã có cốt cách khác với bọn nhi đồ.

    Khi được gặp tổ Đạo Tín, tổ hỏi rằng: Ông họ gì? Ở đâu? Ngài đáp: Con họ phi thường. Tổ hỏi: Phi thường là họ gì?. Ngài bạch: là Phật tính. Tổ lại hỏi: Ông không có họ sao? Ngài nói: là tánh không vô cố.

    Tổ biết ngài là Pháp khí nên cho làm thị giả, rồi Tổ đi đến chỗ thân mẫu của Ngài, xin cho Ngài đi xuất gia.

    Khi cơ duyên đã đến, tổ đem chánh pháp nhãn tạng trao truyền cho đệ tử là Huệ Năng qua bài kệ:

    Hữu tình lai hạ chủng

    Nhân địa quả hòan sinh

    Vô tình ký vô chủng

    Vô tình diệc vô sinh.

    Dịch: Hữu tình gieo lại mầm non

    Nhân do nơi đất quả còn tiếp theo

    Vô tình giống đã không gieo

    Tánh kia không có quả nào phát sinh.

    Trao pháp xong, bốn năm sau Ngài mới thị tịch, đệ tử xây tháp tưởng niệm Ngài ở núi Hoàng, giáo pháp của Ngài truyền lại về sau lập thành hai tông. Ngài thần Tú truyền về Bắc tông thời đó rất thịnh hành. Ngài Huệ Năng truyền về Nam tông.

    Về sau vua Đại Tông nhà Đường suy tôn thụy hiệu Ngài là Đại Mãn Thiền Sư.

    6. LỤC TỔ HUỆ NĂNG

    Ngài Huệ-Năng là vị tổ thứ 6 nối dòng Thiền từ tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma thuộc Thiền phái Lâm-Tế của Phật giáo Trung-Quốc.

    Ngài họ Lư, lúc nhỏ mồ côi cha. Gia đình lâm cảnh nghèo thiếu nên phải ngày ngày vào rừng đốn củi lấy tiền về nuôi mẹ. Một hôm, khi đem củi vào chợ bán, giữa đường nghe có người tụng kinh Kim-Cang tới đoạn: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm …”. Ngài dừng lại để nghe và ngộ được thâm ý của bài kệ, bèn tìm tới yết kiến ngũ tổ Hoằng-Nhẫn, lúc đó đang tu tại núi Hoàng-Mai ở đất Quán-Châu. Tổ thấy người hơi lạ kỳ, bèn cho vào liêu (chái bếp sau của chùa) làm việc giả gạo và từ đó mang tên là Lư-Hành-Giả. Tại đây, Lư làm việc ròng rã 8 tháng. Một hôm, Tổ biết cơ duyên đã đến, bèn họp đồ chúng lại và mỗi người phải trình một bài kệ để được truyền tâm pháp. Lúc đó, ngài Thần-Tú làm xong bài kệ đem trình tổ như sau:

    Thân thị Bồ-đề thọ,

    Tâm như minh cảnh đài.

    Thời thời cần phất thức

    Vật sứ nhá trần ai.

    (Thân như cây Bồ-đề,

    Tâm như đài gương sáng

    Luôn phải năng lau chùi,

    Làm gì có bụi bám.)

    Ngài Huệ-Năng đọc được thâm ý của bài kệ và biết rằng chính người làm ra bài kệ nầy chưa đạt được tới chỗ thâm áo của đạo Thiền. Ban đêm, trong lúc mọi người đang ngủ, Huệ-Năng nhờ người viết bài kệ của mình lên vách, nội dung như sau:

    Bồ-đề bổn vô thọ

    Minh cảnh diệc phi đài

    Bổn lai vơ nhất vật

    Hà xứ nhá trần ai?

    Tạm dịch:

    Bồ-đề chẳng thật phải cây,

    Kiếng soi đâu hẳn vật dày đài gương

    Xưa nay vạn pháp chẳng thường

    Bụi trần há dễ bám nương được nào?

    Tổ biết được đó là bài do Huệ-Năng làm nên vào tận trong liêu hỏi:
    • Gạo đã trắng chưa?
    Huệ-Năng đáp:
    • Gạo trắng đã từ lâu.

    Tổ lấy gậy gỏ miệng cối 3 cái rồi lui về phòng, Huệ-Năng ngộ được tâm ý Tổ và chờ tới canh ba mới vô gõ cửa phòng của Tổ. Tổ truyền y pháp và bảo phải mau ẩn lánh về phương Nam trong một thời gian, nếu không sẽ có kẻ ám hại.

    Chia tay Tổ, Ngài về phương Nam vào tháng giêng năm Nghi-Phụng nguyên niên và gặp được ngài Ấn-Tông Pháp-sư ở chùa Pháp-Tánh. Sư nghe qua tông yếu Thiền của Ngài, bèn nhận cho làm đệ tử. Đúng vào ngày 15 tháng ấy, Pháp-sư bèn nhóm họp các vị Đại-Đức lại để làm lễ thế phát (cạo tóc) cho Huệ-Năng. Trong thời gian tu học tại chùa Pháp-Tánh, Huệ-Năng tỏ ra tinh tấn và được Bổn-Sư để ý cũng như Tăng chúng mến trọng, nên ngày mồng 8 tháng 2, xin thọ giới Tỳ-kheo với ngài Trí-Quang Luật-sư. Sau đó, Ngài lui về đất Tào-Khê.

    Ngày mồng 3 tháng 8 năm Quý Sửu, năm thứ hai niên hiệu Tiên Thiên (713 DL), sau bữa ngọ trai tại chùa Quốc Ân, Tổ gọi môn đồ và bảo:

    • Các ông cứ ngồi yên tại chỗ, để ta nói lời từ biệt cùng các ông.
    Thầy Pháp Hải thưa:
    • Xin Hòa Thượng lưu lại giáo pháp gì để giúp cho người mê đời sau được thấy Phật tánh.
    Tổ dạy:
    • Các ông hãy lắng lòng nghe cho kỹ. Đời sau người mê, nếu biết rõ tánh chúng sanh của mình thì người ấy thấy Phật tánh. Nếu không thấy được tánh chúng sanh của mình thì muôn kiếp tìm Phật cũng không thấy. Nay tôi khuyên các ông hãy thấy được ở tự tâm của chúng sanh mà thấy tự tâm Phật tánh (Phật tánh chính ở nơi tâm minh chứ không đâu khác). Muốn tìm thấy Phật chỉ cần biết chúng sanh. Chỉ vì chúng sanh không biết (mê) Phật, chứ không phải Phật không biết chúng sanh. Nếu ngộ tự tánh thì chúng sanh là Phật. Nếu mê tự tánh thì Phật là chúng sanh. Tự tánh bình đẳng chúng sanh là Phật, tự tánh chấp giữ tâm tà quấy hiểm độc thì Phật là chúng sanh. Nếu tâm các ông hiểm độc thì Phật các ông ở trong chúng sanh. Nếu một niệm ngay thẳng bình đẳng thì chúng sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật ở nơi tâm ta mới là Phật chơn thật. Nếu tự tâm mình không có Phật thì tìm tâm Phật chỗ nào có được? Phật ở tự tâm các ông là Phật thật (đừng nghi ngờ), ngoài tâm ra không có một vật nào được kiến lập. Muôn pháp đều do bổn tâm sinh ra (tâm là gốc sinh muôn pháp). Kinh nói; “Tâm sanh tất cả các pháp sanh, tâm diệt tất cả các pháp diệt”.

    Nay ta lưu lại bài kệ để từ biệt các ông. Bài kệ gọi là “Tự tánh chơn Phật”. Người sau nầy nếu rõ được ý kệ thì sẽ thấy bổn tâm, tự thành Phật đạo. Kệ rằng:

    Tự tánh chơn như Phật tỏ tường,

    Tà kiến tam độc chính ma vương,

    Tà mê lúc ấy ma ngự trị

    Chánh kiến là khi Phật tại đường

    Nội tâm tà kiến tham sân si

    Ma quỷ lại qua có khác gì

    Chánh kiến dẹp trừ tam độc ấy

    Ma hóa thành Phật có lạ chi

    Pháp, Báo, Hóa thân, ba thân nầy,

    Ba thân một thể tự xưa nay.

    Hướng vào chơn tánh ta tự thấy,

    Phật chủng Bồ đề tự sáng ngay.

    Vốn tánh thanh tịnh tự Hóa thân,

    Trong hóa thân thanh tịnh có phần,

    Tánh khiến Hóa thân hành chánh đạo,

    Về sau viên mãn thiệt vô ngần.

    Tánh nhiễm ô từ tịnh tánh sanh,

    Trừ nhiễm ô là tịnh tánh thân

    Trong tánh tự lìa các ngũ dục

    Sát na kiến tánh tức là chơn

    Đời nay may gặp Đốn giáo môn,

    Bỗng ngộ tự tánh thấy Thế tôn,

    Nếu muốn tu hành chóng thành Phật,

    Đừng kiếm nơi nào khác tự tâm.

    Nếu được trong tâm tự thấy chơn,

    Thì chơn ấy là nhân của Phật

    Chẳng nhìn tự tánh tìm Phật ngoại

    Khởi tâm cách ấy quá lầm sai.

    Pháp môn đốn giáo đã truyền lưu

    Cứu độ người đời phải tự tu.

    Mai sau học đạo người nên nhớ,

    Chẳng nắm pháp nầy quả mờ tu.

    Đọc xong bài kệ, Tổ nói tiếp:

    Các ông ở lại an vui, sau khi tôi diệt độ, đừng theo thế gian khóc lóc thảm thiết, nhận lễ vật phúng điếu, mặc tang phục... Những việc làm ấy không phải là chánh pháp, mà trái với ý tôi. Chỉ nên tự biết bổn tâm, thấy được bổn tánh, không động, không tịnh. Tôi ngại rằng tâm mê mà các ông không hiểu được ý, nên phải dặn dò thêm để các ông thấy được tự tánh, theo dó mà tu hành như khi tôi còn sống. Nếu trái lại thì dù tôi còn sống cũng không ích gì.

    Rồi Tổ nói kệ rằng:

    Lơ lơ thiện chẳng dính

    Láo láo ác chẳng làm

    Vắng lặng dứt thấy nghe

    Thênh thang tâm chẳng vướng

    (Ngột ngột bất tu thiện

    Đằng đằng bất tạo ác

    Tịch tịch đoạn kiến văn

    Đẳng đẳng tâm vô trước)

    Nói kệ xong, Tổ ngồi yên lặng, đến canh ba mới nói lời từ biệt với môn đồ: “Tôi đi nhé” rồi an nhàn thị tịch.

    Ngài tịch vào ngày 3 tháng 8 niên hiệu Khai-Nguyên nguyên niên đời Đường-Huyền-Tông (712) thọ được 76 tuổi.

    Tháng 11 năm ấy, quan chức và môn đồ ba Quận Quảng Châu, Thiều Châu và Tân Châu đều muốn rước thi hài của Tổ về Quận mình. Việc tranh dành cùng đi đến đốt hương khấn nguyện. Nếu khói hương bay về đâu, nơi đó được rước. Kết quả khói hương bay về Tào Khê. Ngày 13 tháng 11 rước thần khám và y bát được truyền về Tào Khê. Ngày 25 tháng 7 năm sau mới mở thần khám. Thầy Phương Biện dùng bột trầm hòa với sơn tô lên nhục thân của Tổ. Môn đồ nhớ lời huyền ký về chuyện “trộm đầu” nên dùng thiết bao quanh cổ của Tổ trước khi nhập tháp. Ngay khi ấy trong tháp tuôn ra một làn hào quang trắng bay thẳng lên không trung đến ba ngày mới tan biến.

    Quan địa phương Thiều Châu tấu sớ lên vua xin lập bia kỷ niệm. Nhà vua y tấu sắc chỉ lập bia ghi lại đạo hạnh của Tổ. Bia ghi:

    “Tổ thọ 76 tuổi, năm 24 tuổi được trao truyền y bát, 39 tuổi xuống tóc, thuyết pháp lợi sanh 37 năm. Đệ tử đắc pháp 43 vị. Người ngộ đạo siêu phàm đông lắm (không kể xiết). Pháp y từ Sơ Tổ Đạt Ma truyền xuống, áo cà sa và bình bát quý do vua Trung Tôn hiến cúng, pho tượng của Tổ do Phương Biện đắp cùng pháp khí đạo cụ của Tổ đều tôn trí (thờ) tại đạo tràng Bảo Lâm. Riêng cuốn kinh “Pháp Bảo Đàn” được lưu truyền rộng rãi để hiển dương tôn chỉ Thiền, thiệu long Tam bảo, lợi ích quần sanh”.

    Đến đời vua Nguyên-Hịa năm thứ 10, vua sắc phong cho Ngài đạo hiệu là “Đại-Giám Thiền-Sư”.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  12. 12Ý niệm về không gian và thời gian
    Hình minh họa: Ý niệm về không gian và thời gian

    (hay tính vô thường và vô ngã của Không gian và Thời gian)

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550)

    Qua định nghĩa không gian và thời gian

    1. Không gian: hay vũ trụ hoặc nói theo danh từ Phật giáo là “Pháp giới” thì rộng lớn vô cùng tận, hành tinh mà chúng ta đang sống chỉ là hạt cát trong sa mạt pháp giới mà thôi. Thật vậy, chỉ với trí óc hạn hẹp của con người ta cũng ý thức được sự rộng lớn bao la của vũ trụ, với hằng hà sa số thiên hà … còn theo kinh Phật thì cứ 1000 thế giới nhỏ hợp lại thì ta gọi là tiểu thiên thế giới, 1000 tiểu thiên thế giới là trung thiên thế giới, 1000 trung thiên thế giới họp thành gọi là đại thiên thế giới hay còn gọi là “Tam thiên đại thiên thế giới” mỗi tam thiên đại thiên thế giới như vậy một ngàn triệu thế giới như thế giới của chúng ta và vũ trụ thì gồm vô số đại thiên thế giới. Do đó, ta thấy rằng trí óc nhỏ bé của chúng ta khó có thể hình dung vũ trụ bao la như thế nào, mà chỉ có một ý niệm rất mơ hồ về không gian, vũ trụ hay nói theo ngôn ngữ Phật giáo “không thể nghĩ bàn”

    2. Còn thời gian là gì? nếu không gian là vô cùng thì thời gian là vô tận… Thật vậy, khi đọc sử, nghe nói: “Vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch” hay “109 sau tây lịch…” ta không thể hình dung được đó là vào lúc nào, vì với thói quen ta chỉ biết hôm qua, hôm nay, ngày mai, năm ngoái, sang năm …. mà thôi. Cùng lắm, những người già khi nghĩ đến dĩ vãng của mình thì cũng “Mấy chục năm trước …” là cùng, do đó nếu một lúc nào đó ta tự hỏi: khi quả đất mà chúng ta đang ở đây còn là một khối tinh cầu nóng bỏng thì liệu ai xác định được đó là năm nào, thế kỷ nào hay không? Nói cách khác thời gian bằng năm tháng chỉ là sản phẩm của tư duy con người, và trên mặt đất này thì nó chỉ có, khi sự sống của con người được hình thành với một nền văn minh tương đối, do đòi hỏi của nhu cầu giao tiếp … chứ không có một mốc thời gian cố định dùng làm gốc. Đức Phật dạy: thế giới nào cũng vậy điều bị chi phối bởi định luật: Thành, trụ, hoại, diệt và sự thành trụ của thế giới này là sự hoại diệt của một thế giới khác. Cứ như thế mà xoay vẫn không dứt, nói theo ngôn ngữ khoa học thì: Khi một khối tinh vân này nổ ra, vỡ thành những tinh cầu nhỏ, rồi những tinh cầu này nguội dần đi và sự sống ở đó bắt đầu … nghĩa là sự hoại diệt của khối tinh vân lớn, sinh ra các tinh cầu nhỏ vậy …

    Mặt khác ta lại được nghe rằng: “Con người là một tiểu vũ trụ” Tại sao? – Vì con người là một tập hợp vô số tế bào, mỗi tế bào là một tập hợp vô số phân tử và nguyên tử, và nguyên tử cũng chưa phải là đơn vị nhỏ nhất vì nó còn điện tử quay quanh, mà cơ cấu gần như thái dương hệ của chúng ta, với mặt trời và các hành tinh quay chung quanh. Do đó, con người là vô cùng nhỏ bé đối với vũ trụ bao la, đồng thời là vô cùng lớn với tất cả tế bào, những phân tử, những vi trùng, những vi khuẩn ….

    Nói tóm lại, to lớn hay nhỏ bé điều chỉ là tương đối mà thôi. Nói cách khác, không gian và thời gian là không có thực tính cũng như con người ngũ uẩn mà chúng ta phân tích mà thôi …

    Thời gian thật là dài đối với những tù nhân mất tự do, vì đối với họ “N hất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” thời gian thật là ngắn khi người ta cảm thấy hạnh phúc, như câu chuyện Lưu Nguyễn lên tiên, sống ba năm ở đó mà trần gian đã mấy thế hệ đi qua … hay những người đang sung sướng, luôn kêu rằng thời gian qua mau quá …(“H ỡi thời gian xin dừng cánh lại, giờ học vàng xin hãy khoan bay”) nói tóm lại thời gian không có thực tính, nó chỉ có số đo riêng với từng căn cơ, hoàn cảnh, tâm trạng, nghiệp cảm…….

    II. SUY NGHIỆM VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN:

    Như vậy là con người có đáng kể hay không đáng kể đối với không gian bao la, vũ trụ rộng lớn thời gian vô cùng vô tận?

    Đời người với một trăm năm là dài hay ngắn? Nó tùy thuộc thái độ sống và cách suy nghĩ của mỗi chúng ta mà thôi.

    Như đã biết con người là một tiểu vũ trụ, là một tập thể ngũ uẩn luôn luôn sinh diệt biến đổi …. Biết được như vậy, ta không bi quan vì cuộc đời quá ngắn ngủi, cũng không sống gấp sống vội để hưởng thụ, để lao vào tam độc mà hại người hại mình, cũng không coi chết là hết, mà chỉ là sự tan rã của tứ đại đó chỉ là giai đoạn hoại diệt của các nhân duyên.

    Biết được tính không thật có của một không gian, thời gian, con người ngũ uẩn… tức là biết được tính vô thường vô ngã của mọi sự vật, kể cả những đau khổ phiền não cũng như hạnh phúc sung sướng … từ đó ta không mê đắm tham dục cũng như không triền miên trong đau khổ phiền não …

    III. TU TẬP VÀ ỨNG DỤNG:
    Từ những suy nghĩ trên đây, em cố gắng:

    1. Huân tập những tư tưởng hành động thiện lành, để mỗi ngày trong tâm tư và việc làm của em là một thay đổi hướng thiện.

    2. Không biến nhát, giải đãi, buông lung vì cuộc đời là vô thường, em không thể biết được đến bao giờ thì mình không thể làm việc gì có ích cho mình, cho người … nữa. Em không coi trọng vấn đề sống lâu hay chết sớm, và luôn tinh tấn tu học và làm lành tránh dữ.

    3. Bên cạnh cái vô thường vô ngã của mọi sự vật, em còn nhớ lời Phật dạy “M ọi chúng sanh điều có Phật tánh”, vậy Phật tánh là cái thường có trong vô thường. Em cố gắng làm hiển bày Phật tánh – dù chỉ trong từng giây phút ngắn ngủi – để tự mình giải thoát ra khỏi phiền não khổ đau, mà phần lớn là do chính mình gây ra.

    4. Đức Phật dạy: “K hi mê, con người tự làm cho mình đau khổ, nhưng khi biết mình mê mà tìm cách thoát ra khỏi mê lầm thì con người tự đem lại hạnh phúc cho mình”. Vậy, em áp dụng vào cuộc sống công thức loại trừ tam độc đã biết: làm tất cả việc thiện dù nhỏ nhặt nhất, tránh các việc ác dù bình thường nhất, giữ gìn tâm ý trong sạch.

    5. Vũ trụ cũng không lớn không nhỏ, thời gian cũng không dài không ngắn, con người không phải là trung tâm của vũ trụ, cũng không phải mang thân phận bi đát … tất cả đều là tương đối và nương vào nhau mà thành. Nếu không có con người thì cũng không có vấn đề không gian, thời gian đặt ra… vậy em luôn luôn khiêm tốn, sống hòa hợp với người và thiên nhiên trong tinh thần không tự tôn cũng không tự ti, mà bình đẳng với mọi người, mọi bài.

    Câu hỏi:

    1. Từ bài này em rút ra dược bài học nào? Và áp dụng vào cuộc sống ra sao?

    2. Em hãy giải thích câu: “K hi bắt đầu nhận được mình mê lầm, con người có thể hoán cải được hoàn cảnh và cuộc sống của mình”.

    3. Kể một câu chuyện hay một mẫu chuyện đạo, trong đó nói lên ý “Đời chỉ là một giấc mộng”.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  13. 13Bát quan trai
    Hình minh họa: Bát quan trai giới
    A. DẪN NHẬP:

    Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH DANH:

    Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).

    Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:

    • Không được sát sanh.
    • Không trộm cướp.
    • Không được dâm dục.
    • Không được nói dối.
    • Không được uống rượu.
    • Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
    • Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
    • Không được ăn quá giờ ngọ.
    II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
    1. Không được sát sanh:

    Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.

    Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.

    Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.

    Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.

    2. Không được trộm cướp:

    Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.

    Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.

    Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.

    Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.

    Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,

    Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.

    3. Không được dâm dục:

    Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.

    Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.

    Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

    Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.

    Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.

    4. Không được nói dối:

    Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.

    Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.

    Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.

    Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.

    5. Không được uống rượu:

    Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.

    Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.

    Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.

    6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:

    Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.

    Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.

    Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.

    Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.

    Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.

    7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:

    Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…

    Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.

    8. Không được ăn quá giờ ngọ:

    Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.

    Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
    • Ít mống tâm sái quấy
    • Ít buồn ngủ
    • Dễ được nhất tâm
    • Ít hạ phong
    • Thân được yên ổn ít sanh bệnh

    Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.

    Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.

    C. SUY NGHIỆM:

    Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.

    Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.

    • Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
    • Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
    • Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
    • Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
    • Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
    • Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
    • Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
    • Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.

    Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?

    Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.

    Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.

    D. TU TẬP:

    Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm I · Rèn chí – Tu dưỡng2 bài

  1. 1Tinh thần từ bi đạo

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • Từ là thương yêu, mang niềm vui đến cho người và mọi loài.
    • Bi là thương xót, cứu giúp người và mọi loài thoát khổ.
    • Từ bi của đạo Phật là thương yêu không phân biệt người thân hay người lạ, bạn hay thù, người hay vật.
    • Từ bi đi đôi với trí tuệ: thương đúng cách, giúp đúng lúc, không nuông chiều điều sai.

    Thực hành

    • Không làm khổ người và vật bằng lời nói, việc làm.
    • Làm việc thiện, chia sẻ với người khó khăn.
    • Tha thứ cho người làm mình buồn.

    Gợi ý hoạt động

    • Nhắc lại các chuyện tiền thân đã học thể hiện lòng từ bi (Nai ngọc, Thí thân nhường nước, Thái tử Tu Đại Noa); mỗi Đội, Chúng chọn một chuyện và trình bày ý nghĩa.
    • Tổ chức một việc làm từ bi thực tế của Đoàn: thăm mái ấm, viện dưỡng lão.
  2. 2Thọ Bát quan trai giới
    Hình minh họa: Bát quan trai giới
    A. DẪN NHẬP:

    Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH DANH:

    Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).

    Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:

    • Không được sát sanh.
    • Không trộm cướp.
    • Không được dâm dục.
    • Không được nói dối.
    • Không được uống rượu.
    • Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
    • Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
    • Không được ăn quá giờ ngọ.
    II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
    1. Không được sát sanh:

    Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.

    Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.

    Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.

    Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.

    2. Không được trộm cướp:

    Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.

    Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.

    Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.

    Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.

    Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,

    Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.

    3. Không được dâm dục:

    Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.

    Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.

    Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

    Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.

    Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.

    4. Không được nói dối:

    Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.

    Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.

    Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.

    Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.

    5. Không được uống rượu:

    Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.

    Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.

    Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.

    6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:

    Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.

    Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.

    Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.

    Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.

    Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.

    7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:

    Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…

    Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.

    8. Không được ăn quá giờ ngọ:

    Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.

    Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
    • Ít mống tâm sái quấy
    • Ít buồn ngủ
    • Dễ được nhất tâm
    • Ít hạ phong
    • Thân được yên ổn ít sanh bệnh

    Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.

    Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.

    C. SUY NGHIỆM:

    Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.

    Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.

    • Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
    • Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
    • Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
    • Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
    • Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
    • Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
    • Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
    • Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.

    Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?

    Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.

    Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.

    D. TU TẬP:

    Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm I · Văn nghệ7 bài

  1. 1Âm nhạc: quãng, gam trưởng, cung, nửa cung, dấu hóa, đảo phách, nghịch phách

    Tham khảo thêm

    Cung và nửa cung

    • Giữa Mi – Fa và Si – Đô là nửa cung; giữa các nốt liền nhau khác là một cung.

    Quãng

    • Quãng là khoảng cách cao độ giữa hai nốt; đếm cả nốt đầu và nốt cuối. Ví dụ: Đô – Mi là quãng 3, Đô – Sol là quãng 5, Đô – Đô cao là quãng 8.

    Gam trưởng

    • Gam là chuỗi 8 nốt đi liền bậc. Gam Đô trưởng: Đô – Rê – Mi – Fa – Sol – La – Si – Đô.
    • Công thức gam trưởng: cung – cung – nửa cung – cung – cung – cung – nửa cung.

    Dấu hóa

    • Dấu thăng (♯): nâng cao nốt nhạc lên nửa cung.
    • Dấu giáng (♭): hạ thấp nốt nhạc xuống nửa cung.
    • Dấu bình (♮): trả nốt nhạc về cao độ bình thường.

    Đảo phách và nghịch phách

    • Đảo phách: âm bắt đầu ở phách nhẹ (hoặc phần nhẹ của phách) và kéo dài sang phách mạnh kế tiếp.
    • Nghịch phách: âm vang lên ở phách nhẹ, còn phách mạnh là dấu lặng.

    Gợi ý hoạt động

    • Hát gam Đô trưởng đi lên, đi xuống; tìm trong bài ca quen thuộc những chỗ có đảo phách, nghịch phách.
  2. 2Hát: Sống trọn đời Lam, Ngọn đuốc Tâm Minh, Bài ca Chánh Thiện, Vô úy và Nhẫn nhục, Sám hối, Mùa xuân Di Lặc, Đêm giã từ (bài ca cuối lửa)

    Tham khảo thêm

    Danh sách

    • Sống trọn đời Lam, Ngọn đuốc Tâm Minh, Bài ca Chánh Thiện, Vô úy và Nhẫn nhục, Sám hối, Mùa xuân Di Lặc, Đêm giã từ (bài ca cuối lửa).

    Hướng dẫn

    • Dùng bản nhạc trong tập nhạc ngành Thiếu của Ban Văn nghệ; các em tự đọc nốt, đánh nhịp khi tập.
  3. 310 bài hát ngắn (gợi ý: Vui ca lên, Mừng Chu niên, Mừng thầy đến, Không đỉnh không vương, Tay với tay)

    Tham khảo thêm

    Gợi ý trong tập nhạc ngành Thiếu

    • Vui ca lên, Mừng Chu niên, Mừng thầy đến, Không đỉnh không vương, Tay với tay.

    Cách dùng

    • Các em Chánh Thiện tập điều khiển hát cho cả Đoàn, chuẩn bị làm Đội, Chúng trưởng.
  4. 4Sân khấu: kể chuyện cho Đoàn do anh chị Trưởng chọn; tập kịch dài, hóa trang, dàn cảnh; tổ chức buổi đọc truyện nhiều người diễn tả

    Tham khảo thêm

    Kịch dài

    • Chọn tích truyện: chuyện tiền thân, chuyện đạo, gương sáng; viết kịch bản chia màn, chia cảnh, có lời thoại cho từng vai.
    • Phân vai, tập từng cảnh rồi ráp cả vở; có người nhắc tuồng, người phụ trách âm thanh, ánh sáng.

    Hóa trang

    • Dùng phấn, chì kẻ, râu giả, khăn, áo… vừa đủ để khán giả nhận ra nhân vật; giữ gìn sự trang nghiêm khi hóa trang nhân vật Phật, Bồ-tát (thường thể hiện bằng hình ảnh, ánh sáng thay vì người đóng).

    Dàn cảnh

    • Phông nền vẽ trên giấy lớn hoặc vải; vài đạo cụ chính (bàn, ghế, cây, cổng); sắp xếp để diễn viên đi lại dễ dàng.

    Đọc truyện nhiều người diễn tả

    • Một người dẫn chuyện, mỗi người đọc lời một nhân vật, kèm điệu bộ; không cần thuộc lòng.

    Gợi ý hoạt động

    • Dựng một vở kịch dài cho đêm văn nghệ Phật Đản hoặc Chu niên của Gia đình.
  5. 5Hội họa: khảo họa hoa lá quen thuộc; làm sản phẩm bằng giấy bồi; công trình Phật giáo thời Lê – Nguyễn

    Tham khảo thêm

    Khảo họa hoa lá

    • Quan sát kỹ một nhành hoa, chiếc lá thật; vẽ đúng hình dáng, tỷ lệ, gân lá, cánh hoa; đánh bóng sáng tối bằng bút chì.

    Làm giấy bồi

    • Xé giấy báo cũ thành mảnh nhỏ, ngâm nước; pha hồ (bột năng hoặc keo sữa).
    • Dán từng lớp giấy có hồ lên khuôn (bát, bóng bay…), 5 – 7 lớp; để khô, gỡ khuôn, sơn và trang trí.
    • Làm được: mặt nạ, lồng đèn, hộp bút, tượng nhỏ cho sân khấu.

    Một số công trình Phật giáo thời Lê – Nguyễn

    • Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh): nổi tiếng với tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay và lan can đá chạm khắc tinh xảo (thế kỷ 17).
    • Chùa Tây Phương (Hà Nội): nổi tiếng với bộ tượng La Hán bằng gỗ sống động.
    • Chùa Thiên Mụ (Huế): tháp Phước Duyên bảy tầng được xây dưới thời vua Thiệu Trị.
    • Anh chị trưởng dùng thêm hình ảnh, tài liệu về di tích để các em quan sát.
  6. 6Thi văn: viết lại một chuyện tiền thân và cảm tưởng; thực hiện tờ bích báo cho Đội Chúng hay Đoàn

    Tham khảo thêm

    Trang trí đầu báo tường

    Hướng dẫn

    • Đầu báo gồm: tên tờ báo, tên Đội, Chúng, số báo, chủ đề (Phật Đản, Vu Lan, Chu niên…).
    • Kẻ tên báo bằng chữ nét đều, to, rõ; thêm hình trang trí phù hợp chủ đề: hoa sen, cờ Phật giáo, lều trại.
    • Màu sắc hài hòa, không quá nhiều màu.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng làm đầu báo cho tờ báo tường của mình trong dịp lễ gần nhất.

    Tham khảo thêm

    Hội họa: trình bày một tờ báo Đội, Chúng

    Trình bày tờ báo

    • Khổ giấy lớn (A1 hoặc A0); đầu báo ở trên cùng.
    • Chia bài theo cột, mỗi bài có tựa; xen kẽ bài viết với tranh vẽ, ảnh.
    • Các mục gợi ý: lời mở đầu, bài Phật pháp ngắn, chuyện tiền thân, thơ, tranh, góc vui, tin sinh hoạt Đội, Chúng.
    • Chữ viết rõ ràng, chừa lề, không dán chồng lên nhau.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi báo tường giữa các Đội, Chúng nhân dịp Phật Đản hoặc Chu niên.

    Tham khảo thêm

    Thi văn: viết lại chuyện tiền thân và cảm tưởng – bích báo

    Viết lại chuyện tiền thân

    • Viết lại bằng lời văn của mình, có mở đầu, diễn biến, kết thúc; sau đó viết cảm tưởng và liên hệ bản thân.

    Tổ chức một tờ bích báo

    • Lập ban biên tập: chủ bút, người phụ trách bài vở, trang trí, kẻ chữ.
    • Chọn chủ đề, đặt bài, duyệt bài, sửa lỗi chính tả, trình bày, treo báo đúng hạn.
  7. 7Nhiếp ảnh: quay phim

    Tham khảo thêm

    Nhiếp ảnh: máy quay phim

    Các bộ phận chính

    • Ống kính, nút quay (bắt đầu, dừng), màn hình, micro, pin, thẻ nhớ; điện thoại cũng có chức năng quay phim.

    Nguyên tắc quay

    • Quay khung hình nằm ngang.
    • Giữ máy thật vững: cầm hai tay, tì khuỷu tay vào người hoặc dùng chân máy.
    • Mỗi cảnh quay 5 – 10 giây; di chuyển máy chậm và đều, không phóng to thu nhỏ liên tục.
    • Thuận chiều sáng; nơi ồn ào thì đứng gần người nói để thu tiếng rõ.
    • Xin phép trước khi quay người khác, không quay trong lúc hành lễ nếu chưa được phép.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội quay một đoạn phim ngắn 1 – 2 phút giới thiệu sinh hoạt của Đội.

    Tham khảo thêm

    Nhiếp ảnh: quay phim

    Bậc Chánh Thiện

    • Lên kịch bản đơn giản trước khi quay: cảnh mở đầu, các cảnh chính, cảnh kết.
    • Tập ghép các đoạn phim bằng ứng dụng dựng phim trên điện thoại, thêm chữ và nhạc nền.

Năm I · Hoạt động thanh niên9 bài

  1. 1Gút: nút áo, lợn, hoa, thoát hiểm, chai, hãm, thang dây; các gút thông dụng bằng tre và mây; đan giỏ, đan phên, làm trại sàn

    Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    1. Chuẩn bị:

    Dây làm gút (2 loại lớn, nhỏ).

    2. Giờ học:
    a. Khái niệm:

    Đó là cách thắt buộc dây, sử dụng dây cho nhu cầu trong đời sống.

    Thắt buộc có phương pháp nhanh chóng, chắc chắn, ít tốn dây, dễ tháo gỡ,..

    b.Ích lợi:
    • Rèn tính tháo vát, nhanh nhẹn
    • Biết chọn dây và giữ gìn dây
    • Ứng dụng tạo tiện nghi trong đời sống
    c. Các gút cần biết:
    • Gút sơn ca: thuộc loại gút treo, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút quai chèo: dùng buộc chặc dây vào cọc, neo thuyền, buộc dây cái lều vào đầu gậy, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút thợ dệt: dùng nối chỉ hay nối 2 đầu dây không bằng nhau.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút kẻ chài: thuộc nhóm gút nối, để nối chỉ, nối các loại dây trơn, dây ngâm trong nước.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    I. GÚT GHẾ ĐƠN

    1. Công dụng:

    Loại gút cấp cứu dùng đưa người lên hoặc xuống một bức tường cao, giếng sâu, nhưng không có một nấc thang nào để leo.

    2. Cách làm:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cũng không thể cắt bỏ hay tháo.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    II. GÚT CẲNG CHÓ

    1. Công dụng:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cứng không thể cắt bỏ hay tháo.

    2. Cách làm:
    • Cách thứ nhất:

    Khóa gút cẳng chó

    Khóa con sẽ.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    • Cách thứ hai:

    Khóa buộc vấn.

    Khóa quai chèo sơn ca.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    III. GÚT GHẾ KÉP

    1. Công dụng:

    Như công dụng gút ghế đơn nhưng có hai vòng dây chạy hay không chạy.

    2. Cách làm:

    Ghế kép không chạy.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    3. Cách sử dụng:

    Vòng lớn làm vòng ngoài vòng nhỏ tựa qua lưng làm vòng tựa qua nách, khi đưa xuống hay kéo lên phải từ từ.

    Có một gốc cây hay trụ làm vòng hãm để khỏi tuột tay rất nguy hiểm.

    Ghế kép chạy có thể nới hay thâu lại vòng dây tùy theo cỡ người

    IV. GÚT THÂU DÂY

    A. Nút xúc xích đơn

    1. Công dụng:

    Ngoài việc thâu ngắn dây còn dùng trang trí vành nón, dây còi, đẹp mà dễ tháo.

    2. Cách làm:

    Thoạt đầu làm gút thong lọng, sau đó đưa vòng khoen vào vòng trước tạo nên vòng sau, cứ thế cho đến cuối dây mới kéo qua hẳn vòng.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    B. Nút xúc xích kép:

    Cách làm (như hình vẽ, làm như xúc xích đơn nhưng vòng khoen dưa vào lần lượt bên dây này đến bên dây kia)

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    C. Nút Garrot

    1. Công dụng:

    Dùng căng dây bị chùng, buộc chắc phía trên vết thương để cầm máu hoặc ngăn không cho chất độc về tim.

    2. Cách làm:

    Dùng 1 que cứng xoắn dây nhiều vòng cho đến khi căng thì nẹp lại.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút cẳng ngỗng:

    1. Công dụng:

    Dùng cườm vành cổ, quấn đầu sợi dây lớn hơn hoặc để làm tăng thêm sự chắc chắn của một gút khác.

    2. Cách làm:
    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút ghế anh:

    1. Công dụng:

    Như gút ghế kép hoặc ghế đơn nhưng dùng cứu người trong đám cháy hay dưới giếng lên.

    2. Cách làm:
    • Bắt đầu bằng thòng lọng.
    • Rồi bằng hoa hồng, khóa bằng sơn ca.
    3. Cách sử dụng:

    Phần gút thòng lộng hay gút hoa hồng, ở giữa dùng để gối đầu nạn nhân. Hai vòng hai bên luồn vào hai tay sát nách.

    Gút ngạnh trê:

    1. Công dụng:

    Dùng nối lạt hay mây.

    2. Cách làm:

    Ngạnh trê đơn

    Ngạnh trê kép.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Gút – Đan giỏ, đan phên – Làm trại sàn

    Gút

    • Ôn lại tất cả các gút đã học ở ngành Đồng và các bậc ngành Thiếu (bài ở trên); các gút nút áo, lợn, hoa, thoát hiểm, chai, hãm, thang dây anh chị trưởng hướng dẫn theo tài liệu Hoạt động thanh niên của Ban Hướng Dẫn.
    • Gút bằng tre, mây: dùng nan tre, sợi mây thay dây để buộc, ghép các cây tre khi làm trại.

    Đan giỏ, đan phên

    • Chẻ tre thành nan đều, vót mỏng; đan lóng mốt (một nan lên, một nan xuống) hoặc lóng đôi; giỏ thì dựng nan làm khung đáy rồi đan vòng lên.

    Trại sàn

    • Dựng 4 cột chắc, gác khung ngang cách mặt đất 0,5 – 1 mét, ghép tre làm mặt sàn, buộc chặt bằng gút; lợp mái hoặc căng lều trên sàn. Dùng nơi đất ẩm, nhiều côn trùng.
  2. 2Thông tin: bằng khói, mặt trời, con mắt và ám hiệu riêng; Morse 16 – 33 chữ trong 1 phút; thảo mật thư; nhớ mật thư điện tín dài 15 tiếng và nhắc lại sau 2 giờ

    Truyền tin : Bảng Morse

    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse
    • Tất cả bảng Morse. – Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    • Tất cả bảng Morse.
    • Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Mật thư – Cách dùng mật thư

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    I. EM CẦN BIẾT:

    Mật thư là 1 bản tin, 1 bức thư mật được viết bằng loại ngôn ngữ quy ước.

    Mật thư có nhiều cách viết. Mỗi loại đều có khóa giúp người nhận mật thư giải mã được.

    Loại mật thư núi và khung được xây dựng trên qui ước sẵn có.

    1. Mật thư Núi:

    Sử dụng kí hiệu Morse để ghi: te (_) dung dạng núi cao, tích (.) dung dạng đồi thấp để ghi, khoảng cách là 1 gạch ngang.

    Ví dụ: Hoa sen

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư

    Biến dạng của loại này là cỏ cây, hoa lá, nốt nhạc…

    2. Mật thư Chuồng – Khung:

    Loại vuông gồm 2 ngang, 2 dọc. Muốn giải các em phải thuộc mẫu tự. Thông thường là bảng mẫu tự Anh, Pháp, gồm 26 chữ cái. Các chữ được quy ước vị trí trong từng ô của chuồng.

    Có thể dung mẫu tự Việt nhưng phải có chú thích (khóa mở)

    Ví dụ: vũ

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    Loại này có biến thể, dung chuồng 36 hoặc khóa gợi ý:

    Khóa: Một ô thứ tự 4 chàng, Chín ô 36 có chục nàng ở chung.

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    II. EM THỰC HÀNH:

    Viết tiếng reo của đoàn em bằng dạng mật thư Núi. Kẻ lại ô chuồng có 26 chữ và lập mật thư cho tên của đoàn em.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thông tin: khói, mặt trời, ám hiệu, Morse 16 – 33 chữ/phút, thảo mật thư

    Truyền tin bằng khói

    • Nhóm đống lửa có nhiều khói (lá tươi); dùng tấm chăn ướt phủ lên rồi giở ra để tạo cụm khói ngắn (tích) và dài (te).

    Truyền tin bằng ánh mặt trời

    • Dùng gương phản chiếu ánh nắng về phía người nhận; nghiêng gương chớp ngắn, chớp dài theo bảng Morse. Không chiếu vào mắt người khác.

    Luyện Morse nhanh

    • Mục tiêu đánh và nhận 16 – 33 chữ trong một phút; tập mỗi ngày vài phút, tăng dần tốc độ.

    Thảo mật thư

    • Tự đặt khóa mật thư: đổi chữ theo số thứ tự, đọc ngược, chữ cách quãng, ô vuông, núi, chuồng heo…; ghi rõ “khóa” gợi ý để người nhận giải được.

    Luyện trí nhớ

    • Nghe một bức điện dài 15 tiếng, ghi nhớ không chép, sau 2 giờ viết lại đúng nguyên văn.
  3. 3Dấu đi đường: luật đi đường (dấu hiệu các loại xe); đoán vết chân súc vật, người và xe cộ

    Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Bậc Sơ Thiện

    • Biển báo gồm 5 nhóm: biển báo cấm (hình tròn viền đỏ), biển báo nguy hiểm (hình tam giác viền đỏ, nền vàng), biển hiệu lệnh (hình tròn nền xanh), biển chỉ dẫn (hình vuông hoặc chữ nhật nền xanh) và biển phụ.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi nhận biết biển báo bằng thẻ hình giữa các Đội, Chúng.

    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc và hiểu luật giao thông

    Bậc Trung Thiện

    • Đi bên phải theo chiều đi của mình; đi đúng phần đường, làn đường.
    • Luôn đội mũ bảo hiểm cài quai đúng cách khi ngồi trên xe máy, xe đạp điện.
    • Không đi hàng ba trở lên khi đi xe đạp; không buông hai tay, không lạng lách.
    • Theo luật hiện hành, người đủ 16 tuổi mới được lái xe gắn máy loại nhỏ; muốn lái xe mô tô phải đủ 18 tuổi và có giấy phép lái xe. Anh chị trưởng cập nhật quy định mới nhất khi dạy.

    Tham khảo thêm

    Dấu đi đường: luật đi đường – đoán vết chân

    Đoán vết chân

    • Vết chân người đi bước đều, khoảng cách bằng nhau; người chạy thì bước dài, mũi chân lún sâu hơn gót.
    • Vết chân thú: chó có dấu móng ở đầu ngón, mèo thì không thấy dấu móng; trâu, bò, heo có dấu móng chẻ đôi.
    • Vết bánh xe: xe đạp một vệt nhỏ; xe máy vệt lớn hơn có hoa lốp; xe đi qua vũng nước để lại vệt ướt theo hướng chạy.

    Gợi ý hoạt động

    • Làm “phòng thí nghiệm dấu chân” trên đất cát: các em đi, chạy, dắt xe rồi đoán vết của nhau.
  4. 4Cấp cứu: vết thương nặng, vết thương nhẹ; các trường hợp bất tỉnh, phỏng, lạnh, ngạt, say nắng, làm kinh, ngộ độc, thú cắn, trặc, gãy xương

    Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:

    Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.

    2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):

    Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.

    3. Cách dùng thuốc đỏ:

    Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …

    Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.

    4. Băng bàn tay bằng khăn tay:

    Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.

    5. Băng bàn chân bằng khăn tay:

    Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    6. Băng đầu:

    Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: băng đầu, hô hấp nhân tạo, đuối nước, ngạt, hộp cứu thương

    Băng đầu

    • Dùng khăn tam giác: đặt cạnh dài ngang trán, đỉnh khăn phía sau gáy; vòng hai đầu khăn ra sau, bắt chéo đè lên đỉnh khăn, vòng trở ra trước trán, thắt gút dẹp; gấp đỉnh khăn lên giắt vào.

    Đuối nước

    • Không biết bơi thì không nhảy xuống cứu; ném phao, dây, cây sào cho người bị nạn bám vào, kêu người lớn giúp.
    • Đưa người lên bờ, gọi ngay cấp cứu 115; kiểm tra người bị nạn có thở không.

    Bị ngạt (khói, khí độc, nắng nóng)

    • Đưa người bị nạn ra nơi thoáng khí, nới lỏng quần áo; nếu không tự thở được thì làm hô hấp nhân tạo và gọi cấp cứu.

    Hô hấp nhân tạo

    • Gọi cấp cứu 115 trước tiên, hoặc nhờ người khác gọi.
    • Đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng; ép tim ở giữa ngực, ấn sâu và nhanh khoảng 30 lần, rồi ngửa đầu, nâng cằm, thổi 2 hơi vào miệng; lặp lại cho đến khi có người cứu hộ đến.
    • Đây là kỹ năng phải được tập với người hướng dẫn có chuyên môn; Đoàn nên mời Hội Chữ thập đỏ hoặc nhân viên y tế đến hướng dẫn thực hành trên mô hình.

    Hộp cứu thương

    • Gạc, băng cuộn, băng tam giác, băng dán, bông, dung dịch sát trùng, nước muối sinh lý, kéo, kẹp, găng tay, nhiệt kế.
    • Thuốc uống chỉ dùng theo hướng dẫn của nhân viên y tế; kiểm tra hạn dùng thường xuyên.

    Đo nhiệt độ cơ thể

    • Dùng nhiệt kế điện tử đặt ở nách hoặc theo hướng dẫn của loại nhiệt kế; trên 38 độ là sốt, báo ngay Huynh trưởng và gia đình.

    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: các trường hợp thường gặp

    Nguyên tắc chung

    • Giữ bình tĩnh, bảo đảm an toàn cho mình trước, gọi ngay cấp cứu 115 và báo Huynh trưởng.

    Một số trường hợp

    • Ngất, bất tỉnh: đặt nằm ngửa nơi thoáng, kê chân cao; nếu không thở được thì làm hô hấp nhân tạo.
    • Bỏng: làm mát vùng bỏng bằng nước sạch 15 – 20 phút; không bôi kem đánh răng, mỡ, nước mắm; che bằng gạc sạch.
    • Say nắng: đưa vào bóng mát, nới quần áo, chườm mát, cho uống nước từng ngụm nếu tỉnh.
    • Bị lạnh: đưa vào chỗ kín gió, thay đồ khô, ủ ấm.
    • Co giật: dọn vật cứng xung quanh, không nhét vật gì vào miệng, đặt nằm nghiêng sau cơn co giật.
    • Ngộ độc: không tự ý cho nôn; giữ lại mẫu thức ăn, thuốc nghi ngờ; đưa ngay đến cơ sở y tế.
    • Chó, mèo cắn: rửa vết thương bằng xà phòng và nước sạch nhiều lần trong khoảng 15 phút, đưa đi tiêm phòng dại.
    • Rắn cắn: giữ nạn nhân nằm yên, bất động chi bị cắn, tháo nhẫn, vòng; không rạch, không hút nọc; đưa ngay đến bệnh viện.
    • Trặc, gãy xương: không nắn; cố định bằng nẹp (cây, báo cuộn) vượt qua hai khớp trên và dưới chỗ đau, rồi đưa đi khám.

    Lưu ý

    • Đoàn nên mời nhân viên y tế hoặc Hội Chữ thập đỏ hướng dẫn thực hành; nội dung trên chỉ để tham khảo.
  5. 5Trại: trại bay, trang hoàng trại, dựng cột cờ

    Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.

    A. lều trại:

    1. Chuẩn bị:
    • Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
    • 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
    • 1 dây nóc.
    • Búa, cuốc.
    2. Thực hiên:
    a. Chọn vị trí và hướng trại:

    Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.

    Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).

    b. Dựng trại:
    • 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
    • Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
    • 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.

    Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.

    Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    B. xây tổ đàn:

    Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.

    Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.

    Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.

    Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…

    1. Chuẩn bị:
    • Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
    • Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
    • Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
    • 1 tấm tăng lót trải.
    2. Thực hiện:

    Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.

    Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.

    Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn
    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Lều trại: lều 2 mái

    Chuẩn bị

    • Một tấm bạt chữ nhật, 2 cây cọc đứng, 1 sợi dây nóc (hoặc 1 cây đòn nóc), 6 – 8 cọc nhỏ, dây giăng.

    Cách dựng

    • Chọn chỗ đất cao, bằng phẳng, không có kiến, không dưới cây có cành khô.
    • Trải bạt, xác định đường nóc ở giữa.
    • Dựng hai cọc đứng ở hai đầu, căng dây nóc qua hai đầu cọc, néo dây ra hai đầu và đóng cọc giữ.
    • Phủ bạt lên dây nóc, kéo hai mái xuống đều nhau; đóng cọc ở các góc và giữa hai cạnh bạt.
    • Chỉnh dây cho hai mái căng đều, không nhăn.

    Lưu ý

    • Đào rãnh nhỏ quanh lều để thoát nước khi mưa.
    • Khi nhổ trại, gỡ cọc, gấp bạt gọn, trả lại mặt đất sạch sẽ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đàn tự dựng một lều 2 mái; Huynh trưởng chấm điểm theo độ căng đều, chắc chắn và thời gian.

    Tham khảo thêm

    Trại: chọn chỗ dựng lều, nhóm lửa, tự làm bếp

    Chọn chỗ dựng lều

    • Đất cao ráo, bằng phẳng, dễ thoát nước; gần nguồn nước sạch nhưng không sát mép sông suối.
    • Tránh dưới cây có cành khô, gần tổ kiến, tổ ong; cửa lều không hướng thẳng vào gió.

    Nhóm lửa

    • Chọn chỗ đất trống, dọn sạch lá khô xung quanh; có sẵn xô nước hoặc cát.
    • Chuẩn bị ba loại: mồi (giấy, lá khô), củi nhỏ, củi lớn.
    • Xếp củi nhỏ hình chóp nón hoặc hình giếng quanh mồi, chừa chỗ cho gió vào; châm mồi ở phía đầu gió, thêm dần củi lớn.
    • Dập tắt hoàn toàn bằng nước hoặc đất khi không dùng nữa.

    Làm bếp

    • Bếp ba ông táo bằng ba viên đá hoặc gạch; bếp rãnh (đào rãnh nhỏ theo hướng gió, đặt nồi lên hai bên mép).

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội tự làm bếp và nấu nước pha trà trong buổi trại.

    Tham khảo thêm

    Trại: vài kiểu bếp – điều khiển Đội, Chúng dựng trại

    Thêm vài kiểu bếp

    • Bếp treo: dựng hai cây chạc chữ Y hai bên đống lửa, gác một cây ngang để treo nồi.
    • Bếp hầm: đào hố nhỏ, xẻ rãnh đón gió; giữ lửa lâu, ít khói, đỡ tốn củi.

    Điều khiển Đội, Chúng dựng trại

    • Phân công từng người: dựng lều, làm bếp, cổng trại, cột cờ, góc Đội.
    • Đội, Chúng trưởng theo dõi thời gian, kiểm tra an toàn, sạch sẽ của đất trại.

    Tham khảo thêm

    Trại: trại bay, trang hoàng trại, dựng cột cờ

    Trại bay

    • Trại ngắn ngày, gọn nhẹ, di chuyển qua nhiều địa điểm; mỗi người tự mang đồ dùng cần thiết, lều nhỏ, dụng cụ nấu ăn gọn.

    Trang hoàng trại

    • Cổng trại, góc Đội, hàng rào, bảng tên làm bằng vật liệu tự nhiên (tre, lá, dây); trang hoàng gọn, đẹp, hợp tinh thần trại; nhổ trại phải dọn sạch.

    Dựng cột cờ

    • Ghép 2 – 3 cây tre bằng gút, chân cột chôn sâu hoặc chèn đá; néo 3 dây về 3 phía, mỗi dây cột vào cọc đóng chắc; có ròng rọc hoặc vòng để kéo cờ.
  6. 6Thể dục thể thao: mỗi sáng 15 phút; điều khiển bài thể dục 20 – 30 phút cho Đội Chúng; bơi 50 mét mặc quần áo; lặn sâu 2 mét tìm viên gạch; đi bộ 10 cây số

    Tham khảo thêm

    Nội dung

    • Mỗi sáng tập thể dục 15 phút.
    • Biết điều khiển một bài thể dục 20 – 30 phút cho Đội, Chúng: khởi động, các động tác chính, thả lỏng.
    • Bơi 50 mét khi mặc quần áo; lặn sâu 2 mét tìm viên gạch: chỉ tập ở hồ bơi có người cứu hộ.
    • Đi bộ 10 cây số: mang giày vừa chân, nước uống; nghỉ ngắn sau mỗi 45 – 60 phút.
  7. 7Vạn vật: ươm cây, trồng rau và cây ăn quả; biết các thú dữ để phòng ngừa

    Tham khảo thêm

    Ươm cây

    • Gieo hạt vào bầu đất tơi xốp, tưới ẩm, để nơi có nắng nhẹ; khi cây đủ lớn thì đem trồng.

    Trồng rau

    • Làm luống đất cao, bón phân hữu cơ; gieo hạt hoặc trồng cây con; tưới nước sáng chiều, nhổ cỏ, bắt sâu bằng tay.

    Cây ăn quả

    • Trồng cây ghép, chiết để mau có trái; tỉa cành, bón phân sau mùa thu hoạch.

    Phòng tránh thú dữ, con vật nguy hiểm khi đi trại

    • Rắn: đi giày cao cổ, dùng gậy khua bụi rậm, không thò tay vào hang hốc.
    • Ong: không đến gần tổ, không chọc phá; bị ong đốt nhiều phải đưa đi y tế.
    • Chó lạ: không chạy, không trêu chọc, đi chậm tránh xa.
    • Rết, bò cạp: rũ giày, quần áo trước khi mặc.
  8. 8Thiên văn: thái dương hệ, những chòm sao đặc biệt

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: 8 phương của la bàn

    Em cần biết

    • 4 phương chính: Bắc, Đông, Nam, Tây (theo chiều kim đồng hồ).
    • 4 phương phụ nằm giữa các phương chính: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc.
    • Kim la bàn luôn chỉ về hướng Bắc. Đứng quay mặt về Bắc: tay phải là Đông, tay trái là Tây, sau lưng là Nam.

    Cách dùng la bàn

    • Đặt la bàn nằm ngang trên lòng bàn tay, tránh xa vật bằng sắt, điện thoại.
    • Xoay vỏ la bàn cho chữ N (Bắc) trùng với đầu kim chỉ Bắc; đọc các hướng còn lại.

    Gợi ý hoạt động

    • Đặt 8 bảng tên phương quanh sân; Huynh trưởng hô một phương, các em chạy về đúng hướng.

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: 16 phương, đồng hồ, sao Bắc Đẩu

    16 phương hướng

    • Giữa mỗi phương chính và phương phụ lại có thêm một phương: Bắc – Bắc Đông Bắc – Đông Bắc – Đông Đông Bắc – Đông – Đông Đông Nam – Đông Nam – Nam Đông Nam – Nam – Nam Tây Nam – Tây Nam – Tây Tây Nam – Tây – Tây Tây Bắc – Tây Bắc – Bắc Tây Bắc.
    • Các phương cách nhau 22,5 độ.

    Tìm hướng bằng đồng hồ kim (ban ngày, có nắng)

    • Đặt đồng hồ nằm ngang, xoay sao cho kim giờ chỉ về phía mặt trời.
    • Đường chia đôi góc giữa kim giờ và số 12 chỉ hướng Nam; hướng ngược lại là Bắc.
    • Cách này chỉ cho kết quả gần đúng, kém chính xác vào gần giữa trưa.

    Tìm hướng Bắc bằng sao

    • Tìm chòm sao Bắc Đẩu (bảy ngôi sao xếp hình cái gáo).
    • Nối hai sao ở thành ngoài của gáo, kéo dài khoảng 5 lần khoảng cách giữa chúng sẽ gặp sao Bắc Cực, chỉ hướng Bắc.
    • Ở Việt Nam, sao Bắc Cực nằm khá thấp gần chân trời phía Bắc.

    Tham khảo thêm

    Thiên văn: thái dương hệ – những chòm sao đặc biệt

    Thái dương hệ (Hệ Mặt Trời)

    • Mặt Trời ở trung tâm; 8 hành tinh quay quanh theo thứ tự từ gần đến xa: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương.
    • Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất.

    Những chòm sao dễ nhận

    • Bắc Đẩu: bảy sao hình cái gáo, giúp tìm sao Bắc Cực.
    • Thiên Hậu: năm sao hình chữ W, ở phía đối diện Bắc Đẩu qua sao Bắc Cực.
    • Lạp Hộ: hình người thợ săn, giữa có ba sao sáng thẳng hàng; dễ thấy vào những tháng cuối năm, đầu năm.
    • Thập Tự phương Nam: bốn sao hình chữ thập, thấy thấp ở phía Nam.
    • Bò Cạp (Thiên Yết): chuỗi sao cong như đuôi bò cạp, có sao đỏ Tâm Đại Hỏa; dễ thấy vào mùa hè.

    Gợi ý hoạt động

    • Tổ chức đêm “ngắm sao” trong kỳ trại, dùng ứng dụng bản đồ sao trên điện thoại để đối chiếu.
  9. 9Họa đồ: đọc bản đồ, dùng địa bàn đi quãng dài 500 mét; phác họa một bức tranh

    Tham khảo thêm

    Đọc bản đồ

    • Bản đồ có hướng Bắc ở phía trên; tỷ lệ cho biết 1 cm trên bản đồ bằng bao nhiêu mét ngoài thực địa; ký hiệu cho biết đường, sông, cầu, chùa, trường…

    Đi theo địa bàn 500 mét

    • Đo bước chân của mình: đi 100 mét, đếm số bước đôi để biết mỗi bước đôi dài bao nhiêu.
    • Chọn góc phương vị, ngắm một vật mốc theo hướng đó, đi đến vật mốc rồi ngắm tiếp; đếm bước cho đủ 500 mét.

    Phác họa sơ đồ

    • Vẽ sơ đồ khu vực trại hoặc đường đi: hướng Bắc, các vật mốc, khoảng cách ước lượng, ký hiệu đơn giản có chú thích.

    Gợi ý hoạt động

    • Trò chơi lớn: mỗi Đội nhận một bản đồ có lộ trình và góc phương vị, đi đúng sẽ tìm được trạm.

Năm I · Hoạt động xã hội3 bài

  1. 1Môi trường sinh thái: hướng dẫn trồng rừng

    Tham khảo thêm

    Vệ sinh môi trường: trồng cây gây rừng

    Cách trồng một cây con

    • Chọn chỗ đủ nắng, đất tơi xốp; đào hố rộng và sâu gấp đôi bầu cây.
    • Bỏ lớp đất mặt và phân hữu cơ xuống đáy hố.
    • Xé bỏ túi nilon bầu cây, đặt cây thẳng đứng giữa hố, lấp đất, nén chặt quanh gốc.
    • Cắm cọc, buộc giữ cây; tưới nước đủ ẩm.
    • Chăm sóc: tưới nước, làm cỏ thường xuyên trong những tháng đầu.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng trồng và nhận chăm sóc một cây trong khuôn viên chùa, gắn bảng tên Đội.
    • Tham gia các đợt trồng cây do địa phương tổ chức.

    Tham khảo thêm

    Môi trường sinh thái: hướng dẫn trồng rừng

    Bậc Chánh Thiện

    • Các em không chỉ tự trồng cây mà hướng dẫn được các em nhỏ hơn và bà con cùng trồng, chăm sóc.
    • Hiểu lợi ích của rừng: giữ đất, giữ nước, chống lũ, điều hòa khí hậu, là nơi sống của muôn loài.
  2. 2Y tế: cấp phát thuốc các bệnh thông thường, tuyên truyền chích ngừa

    Tham khảo thêm

    Y tế: phân loại thuốc thông dụng, cách dùng thuốc

    Các nhóm thuốc thường gặp

    • Thuốc hạ sốt, giảm đau.
    • Thuốc kháng sinh: chỉ dùng khi có đơn của bác sĩ, uống đủ liều, không tự ý mua dùng.
    • Thuốc tiêu hóa: men tiêu hóa, bù nước khi tiêu chảy (oresol).
    • Thuốc dùng ngoài da: sát trùng, kem bỏng, dầu xoa.
    • Vitamin, thuốc bổ.

    Nguyên tắc dùng thuốc

    • Đọc kỹ nhãn và hướng dẫn: tên thuốc, công dụng, liều dùng, hạn dùng.
    • Dùng đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ theo hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ.
    • Không dùng thuốc hết hạn, đổi màu, chảy nước; không dùng chung thuốc kê đơn của người khác.
    • Cất thuốc nơi khô ráo, xa tầm tay trẻ nhỏ.

    Lưu ý

    • Đoàn sinh không tự ý cho người khác uống thuốc; chỉ hướng dẫn đọc nhãn, nhắc đi khám.

    Tham khảo thêm

    Y tế: cấp phát thuốc thông thường, tuyên truyền chích ngừa

    Bậc Chánh Thiện

    • Phụ giúp nhân viên y tế trong các đợt khám, phát thuốc từ thiện: sắp xếp, ghi tên, hướng dẫn bà con; chỉ phát thuốc theo đơn và dưới sự chỉ dẫn của nhân viên y tế.
    • Tuyên truyền chích ngừa: nhắc bà con đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch, mang theo sổ tiêm chủng; làm tờ rơi, bích chương đơn giản.
  3. 3Thường thức: dùng rìu đốn cây, cưa tre, đóng đinh để đóng đồ đạc thông dụng; làm đồ dùng bằng gỗ hay sắt cho Đoàn

    Tham khảo thêm

    An toàn

    • Đeo găng tay; dụng cụ phải sắc, cán chắc; không đùa giỡn với dụng cụ; giữ khoảng cách an toàn với người xung quanh.

    Cách dùng

    • Rìu: đứng vững, hai chân dang rộng; chặt xiên góc vào thân cây; không chặt về phía chân mình.
    • Cưa: đánh dấu đường cắt, kẹp chặt vật cần cưa, kéo đẩy đều tay, không ấn mạnh.
    • Búa, đinh: giữ đinh bằng kẹp hoặc miếng bìa, đóng nhẹ cho đinh bám rồi mới đóng mạnh.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội đóng một vật dụng cho Đoàn: kệ sách, giá treo cờ, hộp đựng dụng cụ, bảng tên.

Năm II · Phật pháp – Kiến thức11 bài

  1. 1Lục độ
    Hình minh họa: Lục độ

    A. DẪN NHẬP

    Lục độ là pháp môn tu đặc thù, pháp môn cao nhất trong sự hành trì của đạo Phật, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm vào cái không tính của chân như, cái trạng thái mà kinh Kim Cang đã dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Khi tu theo pháp môn này hành giả không còn khái niệm phân biệt “Nhân, ngã, bĩ, thử” mà hòa đồng vào cái lý mầu nhiệm, giải thoát của đạo Phật, cái thể tính chân không của vạn hữu.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Độ tiếng Phạn là Ba-La-Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua, từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết bàn.

    Lục độ là 6 hạnh có thể đưa hành giả và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu hạnh là: Bố thí Ba La Mật, trì giới Ba La Mật, nhẫn nhục Ba La Mật, tinh tấn Ba La Mật, thiền định Ba La Mật và trí tuệ Ba La Mật.

    II. HÀNH TƯỚNG:
    1. Bố thí Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Bố là cùng khắp; Thí là cho, trao tặng. Bố thí là đem của tư hữu của mình đem cho cùng khắp tất cả mọi người không phân biệt giới hạn người hay vật, thân hay sơ. Hễ thấy ai còn thiếu thốn vật gì, nếu sẵn có, đều bình đẵng giúp tất cả không luyến tiếc.

    b. Thành phần của Bố thí Ba La Mật:
    Gồm có 3 phương thức sau đây:
    • Tài thí: tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí cũng có 2 phương thức:

    + Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình như thân mạng, có nghĩa là khi cần thiết vẫn xã thân mình để cứu giúp người khác không kể sự nguy hiểm đến thân mạng nếu có. Đây là phương pháp bố thí cao nhất mà chỉ có những người giàu lòng từ bi, mới làm được (trong các câu chuyện tiền thân của Đức Thế tôn)

    + Ngoại tài: là những vật thường dùng trong đời sống của mình như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc..

    • Pháp thí: là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy của chư Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác, hoặc y theo giới luật của Phật để hành trì trong đời sống hằng ngày nhằm làm khuôn mẫu cho mọi người bắt chước bỏ ác làm thiện. Pháp thí là một phương thức bố thí có một giá trị lớn lao, nó có tác dụng huân tập về mặt tinh thần mang đến nhân lành không những cho kiếp này mà cả những kiếp sau, không kể nghèo khó hay giàu sang, lao động hay trí thức.
    • Vô uý thí: Trong cuộc sống, sự sợ hải trước bao nhiêu điều đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra là một tâm lý khổ đau nhất, chiếm hết quá phân nữa thời gian của kiếp người. Do đó khi thực hiện Vô úy thí là mang lại cho họ sự bình tĩnh tuyệt đối trước mọi sự kiện bằng chính hành động của bản thân, nhằm tạo cho họ một tâm an tịnh hầu xử dụng lý trí suy xét của từng sự kiện, phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ của đức Phật. Để qua các giáo lý thích hợp đó tâm họ không còn xao động và bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Tóm lại tu hạnh vô úy thí khi hành giả đi đến đâu cũng đem đến một sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật.
    c. Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:

    Nói đến hạnh Bố thí Ba la mật cần phải nhận rõ 2 điểm sau đây: Bố thí chấp tướng và Bố thí không chấp tướng:

    + Bố thí chấp tướng: là bố thí với một dụng tâm không trong sạch (cầu danh, cầu tài lợi, vì ganh đua, vì muốn làm nhục và khinh rẽ người, vì sự lừa lọc, bất công, thiên vị). Đây chính là bố thí thuộc về hữu lậu kết quả rất mong manh như mây nỗi giữa hư không gặp gió thổi thì tan biến.

    + Bố thí không chấp tướng: là bố thí Ba la mật: với một dụng ý trong sạch, đúng với ý nghĩa của nó, bố thí với tâm từ bi bình đẳng, bố thí với tâm không thấy kẽ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.

    Ngoài ra bố thí thì phát sanh các công năng sau đây:

    + Diệt lòng tham lam ích kỷ

    + Đem lại ấm no

    + Phát triễn chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.

    + Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.

    2. Trì giới Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Trì giới Ba la mật là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.

    b. Thành phần của giới luật:

    Có thể chia ra làm 3

    • Giới tại gia: là những giới dành cho những người cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
    • Giới xuất gia: là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:

    + Sa di và Sa di ni giữ 10 giới

    + Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.

    + Tỳ kheo giữ 250 giới.

    + Tỳ kheo ni giữ 348 giới.

    • Giới Đạo và Tục thông hành: là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới:

    + Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác): là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.

    + Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.

    + Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh): làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi., hỷ, xả.

    c. Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
    Cũng như hạnh Bố thí cũng có 2 loại:

    + Trì giới chấp tướng: là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.

    + Trì giới không chấp tướng: là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật: không chấp có sự tướng.

    Ngoài ra tu hạnh trì giới có các công năng:

    + Ba nghiệp thanh tịnh: không sanh các tà niệm

    + Các thiện công đức phát sanh.

    + Nêu cao giá trị: không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.

    + Người và vật kính yêu: không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.

    3. Nhẫn nhục Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.

    b. Thành phần của nhẫn nhục:
    Có 3 thành phần:

    + Thân nhẫn: đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.

    + Khẩu nhẫn: Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chửi, phàn nàn, nguyền rủa.

    + Ý nhẫn: Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.

    Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như:

    • Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
    • Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập.
    • Nội pháp nhẫn: Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
    • Ngọai pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phần uất.
    Và 2 loại nhẫn nhục:

    + Nhẫn nhục có chấp tướng: là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.

    + Nhẫn nhục không chấp tướng: là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.

    c. Công năng của Nhẫn nhục:

    + Không làm những việc vô ý thức

    + Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.

    + Không trụy lạc theo năm dục.

    4. Tinh tấn Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tinh tấn là không ô nhiểm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.

    b. Thành phần của Tứ chánh cần:
    Gồm có 4 điều:

    + Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.

    + Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.

    Tinh tấn có 2 lọai:

    + Tinh tấn có chấp tướng: là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng..

    + Tinh tấn không chấp tướng: là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.

    c. Công năng của hạnh Tinh tấn:

    + Dũng mãnh hăng hái: diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.

    + Không thối xuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.

    + Tiến gần đến đạo giải thoát.

    5. Thiền định Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)

    b. Các loại thiền định:

    + Quán hởi thở: Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dỏi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.

    + Quán hạnh từ bi: Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.

    + Quán sự không thanh tịnh: Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.

    + Quán về pháp nhân duyên: Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.

    + Quán theo niệm Phật: Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.

    Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.

    c. Công năng của pháp môn Thiền định:

    + Loại trừ bớt lòng tham dục: nhờ quán thanh tịnh.

    + Trừ nóng giận: nhờ quán từ bi

    + Phá si mê: nhờ quán nhân duyên

    + Ngăn các phiền não: nhờ quán niệm Phật

    + Diệt loạn tâm: nhờ quán hơi thở.

    + Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật

    6. Trí huệ Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.

    Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì: Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.

    b. Các loại trí huệ:

    Về cơ cấu thì trí huệ có 2 lọai

    • Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
    • Hậu đắc trí: là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:

    + Đại viên cảnh trí: Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.

    + Bình đẵng tánh trí: Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã

    + Diệu quan sát trí: Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.

    + Thành sở tác trí: Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiết, thân).

    Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhật với các tên gọi:

    + Văn huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.

    + Tư huệ: là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.

    +Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.

    c. Công năng của trí huệ

    + Diệt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.

    + Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.

    + Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.

    C. SUYNGHIỆM:

    Trừ mê diệt khổ là nguyên vọng duy nhất của người con Phật. Muốn đạt được nguyện vọng ấy cần phải cương quyết thực hành sáu hạnh độ, chỉ vì chỉ có 6 hạnh độ mới có đủ công năng đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.

    Với chúng ta những con người thuộc hàng sơ cơ, nên khó có thể hành trì ngay tức thời 6 hạnh độ, tuy thế phải ghi nhớ lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, do đó mình cũng có khả năng giải thoát và giác ngộ, nếu tự mình chí tâm thì có thể tu hành để phát triễn khả năng giải thoát và giác ngộ sẵn có của mình để từ đó dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.

    D. TU TẬP:

    Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách:

    1. Phát Bồ đề tâm:
    Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn:

    + Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.

    + Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.

    + Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.

    + Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.

    2. Xem thường tài sản và tính mạng:

    Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.

    3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ:

    Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm: chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Những nguyên lý căn bản của Phật giáo
    Hình minh họa: Những nguyên lý căn bản của Phật giáo
    I. DẪN NHẬP:

    Đức Phật thuyết pháp 49 năm, lưu lại cả một kho tàng giáo lý đồ sộ. Trải dài trên 2500 năm qua với bao nhiêu nghiên cứu, đánh giá của các nhà triết học, khoa học, học giả Đông Tây đều công nhận trong toàn bộ giáo lý của đức Thế Tôn một sự sâu sắc về luân lý, một sự nghiệm mật về tư tưởng, Đối với khoa học không những không xung đột mà còn cùng với khoa học chứng minh tính vĩnh hằng và tính chân thật của nó. Trong đó giáo lý TAM PHÁP ẤN được xem như là nguyên lý căn bản của giáo lý Phật đà.

    II. NỘI DUNG:
    1. Định nghĩa:
    • Ấn là chiếc ấn hay khuôn dấu.
    • Pháp có nghĩa là chánh pháp hay toàn bộ hệ thống tư tưởng trong lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong ba tạng thánh điển.
    2. Định danh:

    * Theo Tự điển Phật học Huệ Quang (nhà xuất bản tổng hợp TP. HCM – 2005 cuốn V, t. 4127)

    • Các hành vô thường (tiếng Phạn:Anityãh sarva-samskãrãh); nhất thiết vô thường ấn; nhất thiết hữu pháp vô thường ấn hay gọi tắc là Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian nói chung đều vô thường, chúng sanh không biết rõ nên đối với vô thường mà chấp là thường, vì thế Phật nói vô thường để phá chấp thường của chúng sinh.
    • Các pháp vô ngã (tiếng Phạn: Nirãtmanah-sarva-dharmãh); nhất thiết pháp vô ngã ấn hay gọi tắc là Vô ngã ấn: Tất cả các pháp hữu vi, vô vi ở thế gian nói chung đều vô ngã, chúng sinh không biết rõ nên đối với tất cả các pháp gượng lập chủ tể, vì thế Phật nói vô ngã để phá trừ chấp ngã của chúng sinh.
    • Niết bàn tịch tĩnh (tiếng Phạn: Satamnirvãnam) Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn hay gọi tắc là Niết bàn ấn: Tất cả chúng sinh không rõ biết khổ sinh tử cho nên khởi nghiệp hoặc tạo nghiệp. trôi lăn trong 3 cõi, vì thế Phật nói pháp Niết bàn để tịch diệt.

    * Theo Tự điển Phật học Hán Việt (nhà Xuất bản Khoa học Hà Nội – 1998):

    • Chư thường vô thường ấn: hết thảy pháp hữu vi niệm niệm sinh diệt đều là vô thường.
    • Chư Pháp vô ngã ấn: hết thảy mọi pháp hữu vi hay vô vi đều không có thực tế của ngã.
    • Niết bàn tịch tĩnh ấn: Pháp Niết bàn diệt mọi khổ đau về sinh tử luân hồi.

    Như vậy Tam Pháp ấn có nghĩa là 3 khuôn dấu của chánh pháp. Hay nói cho đủ nghĩa Tam pháp ấn là ba nguyên lý căn bản của chánh pháp gồm VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ VÀ NIẾT BÀN. Ba nguyên lý hay tính chất này xác định tính chính thống và đích thực của giáo lý đạo Phật nhằm đảm bảo mọi suy tư, ngôn thuyết, diễn giải, thực hành của người Phật tử không vượt ra ngoài mục tiêu giải thoát mà Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Mọi giáo lý không có ba nguyên tắc trên đều không phải của đạo Phật. Như vậy, Vô thường, Vô ngã và Niết Bàn được xem như là ba dấu ấn xác định, chứng nhận tính chính thống của giáo lý đạo Phật. Mọi giáo lý của đạo Phật đều phải mang ba dấu ấn đó. Chính vì tính chất quan trọng này mà Tam pháp ấn luôn được nhắc đến trong hầu hết kinh điển, từ kinh tạng Nam truyền đến Bắc truyền và cả trong các bộ luận quan trọng như luận Đại Trí Độ của Bồ tát Long Thọ. Tóm lại Tam pháp ấn là giáo lý mang tính pháp định trong hệ thống giáo lý của Phật giáo. Ngoài ra, trong kinh tạng A Hàm, đôi khi Đức Phật cũng dạy về Tứ pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết bàn (kinh Tăng Nhất A Hàm – phẩm Tăng thượng thứ 23). Tuy nhiên, đấy chỉ là sự triển khai của Tam pháp ấn. Bởi lẽ, Niết bàn chỉ là tên gọi khác của vô ngã như Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã khẳng định: “Niết bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã… Hữu ngã và luân hồi mà vô ngã là Niết bàn” (Vô ngã là Niết bàn, tr.65). Tứ pháp ấn đôi khi cũng được phát biểu là vô thường, khổ, vô ngã và không (kinh Tăng Nhất A Hàm – phẩm Thất tà tụ thứ 2). Cũng như trên, “không” vẫn chỉ là một cách nhìn khác về các điều kiện duyên khởi của mọi sự, mọi vật. Một hữu thể được gọi là vô ngã hoặc không vì bản chất của nó là do điều kiện nhân duyên tạo thành. Do vậy, có thể xem vô thường, vô ngã và Niết Bàn là một định thức chuẩn mực, tổng quát của Tam pháp ấn.

    3. Hành tướng Tam Pháp Ấn hay là ba nguyên lý căn bản của Phật giáo

    a. Nhất thiết hành Vô thường ấn:

    Pháp ấn đầu tiên hay nguyên lý đầu tiên là vô thường. Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến đổi, thay đổi, không cố định. Mọi giáo lý, học thuyết nó không mang dấu ấn này thì không phải là Phật pháp.

    Theo đạo Phật, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian do các tập hợp duyên sanh đều mang tính vô thường. Nói cách khác, vô thường nghĩa là sự vật không mang tính đồng nhất bất biến. Hòn núi là một tập hợp duyên sanh, thân thể con người là một tập hợp duyên sanh, lá cây rụng bên đường là một tập hợp duyên sanh, cho đến hạt bụi nhỏ cũng là tập hợp do duyên mà hiện hữu. Do vậy, hòn núi, thân thể con người, lá cây, hòn sỏi, hạt bụi… đều luôn biến đổi, không bao giờ có tính đồng nhất và phải chịu sự tác động của vô thường. Mọi sự, mọi vật trong thế giới hiện tượng từ các vật thể vĩ mô đến các thế giới vật chất hạt cực nhỏ vi mô như nguyên tử, hạt proton, hạt neutron… luôn biến chuyển, thay đổi liên tục không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, không chỉ trong thế giới vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn có mặt.

    • Trong đạo Phật, con người là sự cấu hợp của hai thành phần Danh và Sắc, hay phần tinh thần – các trạng thái tâm lý và phần vật chất – thân thể sinh -vật lý, và hai thành phần này luôn ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối chảy mãi không ngừng trong đời sống con người. “Nó giống như giọt sương buổi sáng tan đi khi mặt trời vừa mọc; nó giống như bọt nước, như một dòng thác cuốn trôi đi tất cả những gì nó gặp và trôi chảy mãi không ngừng; nó giống như một con vật tại lò sát sanh, lúc nào cũng đương đầu với cái chết” (Tăng Chi Bộ kinh III, tr.70). Mọi hoạt động, vận hành tâm lý: cảm giác, tri giác, tình cảm, tư duy… của con người luôn tồn tại trong khoảng thời gian cực ngắn mà đạo Phật gọi là sát na.Trong khoa tâm lý học, các biến chuyển trạng thái tâm lý theo thời gian được chia làm hai loại là thường biến tâm lý và đột biến tâm lý.
    • Thường biến tâm lý là sự thay đổi các trạng thái tâm lý theo những phản xạ chức năng của ý thức và tập quán nghiệp. Ví dụ như vui thì cười nhưng sau đó buồn thì khóc lóc, ưu sầu. Thành đạt thì vui mừng, thất bại thì đau khổ, buồn rầu…
    • Đột biến tâm lý là sự biến đổi tâm trạng đột ngột trong khoảng thời gian rất ngắn. Tần số dao động tâm diễn ra rất nhanh. Ví dụ như trạng thái tâm dao động, tán loạn trong khi gặp các sự cố nguy hiểm: nhà cháy, người thân qua đời….

    Thường biến hay đột biến tâm lý đều phản ánh tính vô thường trong phương diện tinh thần của đời sống con người.

    Thế nhưng hiện tượng vô thường không tất yếu đưa đến khổ – pháp ấn thứ hai. Trong đoạn kinh ở phần dẫn trên, nếu chỉ hiểu đơn giản rằng hễ vô thường là khổ, thì khi đó giáo lý vô thường không còn là một khuôn dấu của chánh pháp nữa. Trong thực tế, nếu không có vô thường thì sẽ không thể có sự sống và không thể có sự phát triển. Nếu hạt thóc giống thường tại thì nó không bao giờ trở thành cây lúa cho ra những hạt gạo trắng được, nếu sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại sẽ không thể có và nền văn minh nhân loại sẽ chỉ luôn tồn đọng ở thời kỳ đồ đá cũ. Và nếu không có sự tác động của vô thường thì chúng ta sẽ không bao giờ có hy vọng đoạn tận các tập khí tham ái phiền não đang tiềm ẩn sâu kín trong nội tâm chúng ta. Do vậy, giáo lý vô thường đem lại niềm tin cho mọi nỗ lực sáng tạo và phát triển của con người. Vô thường là đặc chất đích thực của sự sống.

    b. Nhất Thiết Pháp Vô ngã Ấn:

    Pháp ấn thứ hai hay nguyên lý thứ hai là Vô ngã. Vô ngã là giáo lý đặc biệt quan trọng trong Phật giáo. Giáo lý này là hệ quả thẩm sát liên tục các nguyên lý duyên khởi – vô thường. Vô thường là tính thay đổi trong khi vô ngã là tính không đồng nhất. Khi một cái gì do nhân duyên mà thay đổi thì nó không còn tính chất đồng nhất, do đó nó vô ngã, hay về bản chất nó không có chủ thể riêng biệt. Ví dụ nói cái bàn là vô thường là bởi vì chúng ta thấy rõ nó đang thay đổi, đang biến hoại dần dần về hình thức; nhưng nói cái bàn là vô ngã thì chúng ta phải nhìn bằng cái nhìn duyên khởi. Trong cái nhìn đó, cái bàn là một tập hợp của các điều kiện nhân duyên, của cây gỗ, của công sức người thợ… Nhiều hệ tư tưởng khác cũng đã đề cập đến ý niệm vô thường. Chẳng hạn, khi đứng trên bờ sông nhìn xuống dòng nước đang trôi chảy, Đức Khổng Tử đã viết: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ? “, nghĩa là “Trôi chảy hoài, ngày đêm không thôi, như thế này ư?”. Héraclite cũng nhìn tính vô thường qua dòng sông nhưng với góc độ khác: “Bước xuống cùng một dòng sông, thường gặp phải những dòng nước mới. Linh hồn cũng thoát ra từ nơi ẩm ướt” (Theo Triết học Hy Lạp – La Mã, Viện KHXH TP HCM, 1994). Cả Nho gia và triết học phương Tây nhìn chung tuy có ý niệm về tính vô thường, nhưng dường như không có ý niệm về tính vô ngã trong vạn sự, vạn vật. Do đó, có thể nói giáo lý vô ngã của Đức Phật là một giáo lý mang tính cách mạng rất vĩ đại. Ngay trong bài pháp thứ hai tại vườn Nai, kinh Vô ngã tướng (Anattalakkhana sutta), Đức Phật đã dạy tính vô ngã trong thân năm uẩn của con người: “Này các thầy, sắc (rùpa: thể chất, thân thể vật lý) này là vô ngã. Này các thầy, nếu trong sắc có ngã như vậy, sắc không phải chịu đau khổ và ta có thể ra lệnh “sắc phải như thế này hay phải như thế kia “. Nhưng vì sắc không có ngã (vô ngã), nên sắc này còn phải chịu khổ đau và không thể có trường hợp (ra lệnh) “sắc này phải như thế này hay sắc phải như thế kia”. (Tương Ưng Bộ kinh III, tr.66).

    Các uẩn còn lại: thọ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (các trạng thái tâm lý và thái độ tâm lý), thức (nhận thức) cũng tương tự. Cả năm uẩn tạo thành một ý niệm giả tạo về một “cái ngã” hay một hữu thể chúng sanh đồng nhất, không thay đổi. Từ đó rất dễ dàng sanh ra tâm lý tham đắm, mê say, ôm ấp, bảo thủ và chấp chặt vào những gì thuộc về năm uẩn (ngã sở). Thế nhưng, mọi hữu thể hay ngã thể ấy luôn chuyển biến theo quy trình tương quan duyên khởi. Sự sinh thành và hoại diệt trong hình thể và ngay trong bản chất của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên và quá trình sanh – già – bệnh – chết, hay hình thành – tồn tại – thay đổi, hoại diệt – tiêu hủy, luôn là chân lý công ước cho mọi con người và mọi loài, mọi vật.

    Một lần, tại thành Xá Vệ, Đức Phật cũng dạy các thầy Tỳ kheo về tính vô ngã trong một vật thể nhỏ bé như miếng phân bò: “Này các thầy, cho đến một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, thường trú. Nếu có một ngã thể nhỏ như thế này, này các thầy, là thường còn, thường hằng… thường trú, thì đời sống phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày (Tương Ưng Bộ kinh III, phẩm Hoa, tr.259). Sự thiếu suy tư, cân nhắc trong hành vi đối với thực tại vô ngã của vạn sự, vạn vật thường là nẻo đường dẫn đến các phiền lụy, tham ái – nguyên nhân gần dẫn đến khổ đau. Pháp ấn vô ngã không những xác định tính pháp định của chánh pháp mà còn là đặc tính riêng biệt trong giáo lý đạo Phật. Chính vì tầm quan trọng này, VÔ NGÃ được xem là pháp ấn thứ hai trong Tam pháp ấn.

    c. Niết bàn tịch diệt ấn:

    Pháp thứ ba hay nguyên lý thứ ba là Niết bàn. Tất cả chúng sanh không rõ biết khổ sinh tử nên khởi hoặc tạo các nghiệp trôi lăn trong sinh tử luân hồi, vì thế Phật nói Pháp Niết bàn tịch diệt.

    Như vậy, khổ sinh tử cần được xem là một vấn đề thường trực trong thực tại cuộc đời và cả trong ý thức của người Phật tử mà đức Thế Tôn đã triễn khai nhằm giúp chúng sanh nhận thức rõ cùng với con đường thoát ly mọi sự ràng buộc của khổ đau.

    Trước hết Đức Phật đã diễn tả sự khổ đau của con người như một sự bùng cháy, đổ vỡ của toàn thể thế giới: “Toàn thể thế giới bốc cháy, toàn thể vũ trụ đắm chìm trong khói lửa, tòan thể vũ trụ làm mồi cho lửa, tòan thể vũ trụ run lập cập” (kinh Tương Ưng Bộ, tr.133). Khổ là một sự thật mang tính phổ biến và hiện diện với nhiều hình thái đa dạng. Cách nhìn này được Đức Phật dạy trong bài pháp cực kỳ quan trọng, kinh Chuyển pháp luân (Dhammacakkappavattana sutta), cho năm vị đệ tử đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, mà khổ đau được trình bày qua 8 hiện tượng là: 1- Sanh là khổ. 2- Già là khổ. 3- Bệnh là khổ. 4- Chết là khổ. 5- Buộc lòng phải sống chung với người mình không ưa thích là khổ. 6- Phải xa lìa những người thân yêu là khổ. 7- Mong muốn mà không được là khổ. 8- Chính thân ngũ uẩn là khổ. Trong các kinh về sau, khổ được phân biệt thành ba loại là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Cách nhìn này đơn giản hơn và có thể giúp ta tìm căn nguyên của khổ.

    • Khổ khổ (Dukkha dukkhata) có nghĩa là một cảm thọ khó chịu (khổ thọ). Ví dụ như cảm giác đau đớn vì một chiếc răng hư là một khổ thọ, trời lạnh mà không có áo ấm thân thể run lập cập là một khổ thọ, chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của người thân yêu là một khổ thọ, bị người khác chọc giận làm thương tổn đến danh dự, tức đến đỏ mặt tía tai là một khổ thọ… Nói chung, những cảm giác bất an trong thân thể vật lý và các trạng thái tâm-sinh lý đều là khổ thọ, loại khổ thứ nhất.
    • Hoại khổ (Vinarupamam dukkhata) có nghĩa là những thứ vốn không khổ nhưng khi tiêu hoại thì sẽ tạo ra khổ. Ví dụ: khi còn trẻ, thân thể chúng ta rất khỏe mạnh, nhưng khi tuổi già đến, thân ta sẽ suy nhược, lá gan của ta hiện giờ không bệnh nhưng theo thời gian nó sẽ yếu, sẽ bệnh, sẽ mất khả năng làm tiêu chất cholesterol. Nụ cười và khuôn mặt rạng rỡ ngày hôm nay có thể sẽ biến mất để nhường chỗ cho những giọt nước mắt ưu sầu ở ngày mai. Hễ có sinh thành là có hoại diệt. Ý tưởng này dễ đưa tới những cách nhìn bi quan. Do vậy, những thứ bây giờ tốt cách mấy cũng mang sẵn mầm khổ trong ấy. Nói cách khác, sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, sự biến hoại trong cơ chế tâm-sinh-vật lý của con người đem lại sự bất an, bứt rứt, không an tịnh trong tư duy và tình cảm là hoại khổ.
    • Hành khổ (Samskhara dukkhata): Hành là các hiện tượng kết tập các điều kiện nhân duyên mà thành. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, có hai câu mà Đức Phật luôn nhấn mạnh “chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp “, có nghĩa là những thứ gì do nhân duyên tạo thành, sinh ra đều là vô thường, đều thuộc về thế giới tương đối, thế giới của sanh và diệt, của luân hồi sanh tử. Thân thể, thế giới bên ngoài thân ngũ uẩn, hòan cảnh sống, các trạng thái tâm lý của con người như đã nói đều là nhân duyên sanh nên phải chịu sự tác động của vô thường. Vô thường, thay đổi thì thế nào cũng đưa đến khổ. Cho nên trong các hành, các hiện tượng đều chứa sẵn hạt giống của khổ hay gọi là hành khổ.

    Tóm lại, chúng ta chỉ có thể trị được bệnh khi ý thức là chúng ta đang bệnh. Cũng vậy, giải thoát khổ đau chỉ trở thành hiện thực khi người Phật tử biết ý thức và thực nghiệm về khổ đau trong cuộc sống nội tại. Một khi không nhận chân về chân tướng của cuộc đời và nuôi dưỡng ảo tưởng cuộc đời là hạnh phúc, bị buộc ràng trong cuộc sống vật chất dễ dãi, chúng ta rất dễ đánh mất đi mục đích tu tập của mình. Can đảm nhìn thẳng vô khổ đau để giải quyết, đó là nhận thức căn bản. Như hoa sen được nuôi dưỡng bằng đất bùn, lý tưởng giải thoát được nuôi dưỡng bằng nhận thức căn bản ấy. Toàn bộ hệ tư tưởng, đạo học của Phật giáo cũng được bắt nguồn từ nhận thức ấy, vì chỉ có ai nhận thức được sự diệt tận lửa phiền não mới đạt được cảnh giới giác ngộ, mà cảnh giới giác ngộ chính là mục đích thực tiễn nhất của Phật giáo.

    Bởi ngay trong khi tuyên thuyết thời pháp đầu tiên Đức Thế Tôn đã dạy: “Này các thầy, Như Lai đã dạy các thầy những gì? Như Lai đã dạy các thầy các sự thật về đau khổ, nguyên nhân đau khổ, đoạn diệt đau khổ và con đường đi đến diệt khổ. Tại sao Như Lai dạy các thầy các chân lý đó? Vì chúng thật sự có ích và cần thiết để đi đến một đời sống lý tưởng, vì chúng làm cho các thầy từ bỏ mọi dục lạc, giải thoát khỏi mọi say đắm, chấm dứt mọi khổ đau, đi đến thanh tịnh, giác ngộ, Niết bàn” (Tương Ưng Bộ kinh V, tr.437). Chính vì vậy, Niết bàn được xem là một khuôn dấu của chánh pháp.

    III. SUY NGHIỆM:

    Loài người từ lúc sơ khai tiến đến nền văn minh khoa học kỹ thuật hiện đại ngày nay đã không biết bao nhiêu lớp tôn giáo bị sóng của thời gian vùi dập tiêu tan. Thế nhưng, chỉ có giáo lý Phật đà là mãi mãi còn tồn tại không mảy may suy suyễn cho đến ngày hôm nay, là nhờ không dựa vào uy thế cường quyền, không phải là một giáo lý thần thoại, mà là một giáo lý vĩ đại, khách quan như thực trong đó giáo lý Tam Pháp Ấn được xem như là ba nguyên lý căn bản của giáo lý Phật giáo.

    Nhận thức là thấy rõ và đánh giá về một sự kiện, còn thái độ sống thuộc về hành vi và tâm lý chủ động của con người trước sự kiện đó. Vì nhận thức đúng hay có chánh kiến đối với các hoạt động tâm – sinh – vật lý của bản thân là có cái nhìn thật rõ về ba pháp ấn vô thường – vô ngã – niết bàn. Chừng nào mọi suy tư của con người còn bị buộc ràng trong các ý niệm về sự thường trú vĩnh hằng của tự ngã và các pháp chấp sai lầm, khi đó Tam pháp ấn vẫn còn giá trị và hiện hữu giữa cõi đời. Với người Phật tử, Tam pháp ấn chính là ba chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào giải thoát, là ba phương pháp quán niệm để chuyển hóa tự thân. Và vô thường – vô ngã – niết bàn như đã trình bày cũng là các khuôn dấu, nguyên lý y cứ để hiệu chỉnh, tái thẩm định mọi lý thuyết, ngôn luận, pháp môn tu tập trong đạo Phật.

    IV. TU TẬP:

    Xác quyết niềm tin là điều tiên quyết của người Phật tử, vì chỉ có niềm tin vững chắc chúng ta mới có thể thực hành hạnh nguyện của mình một cách hòan mãn. Do vậy để niềm tin chúng ta không thể lay chuyển, cần phải tinh tấn trong tu học để chuyển hóa tự thân:

    • Thực hành Tứ chánh cần.
    • Tập sống đời sống theo kinh Thiện Sinh.
    • Từng bước trau dồi Tứ Vô lượng tâm.

    œœœ

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Kinh Thiện Sinh
    Hình minh họa: Kinh Thiện Sinh

    A. DẪN NHẬP

    Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.

    B. NỘI DUNG:
    I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:

    Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.

    II. KINH VĂN:

    Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.

    Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.

    * Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.

    * Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.

    * Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.

    Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
    • Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
    • Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
    • Tránh xa sáu nghề hao tài vì:

    + Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.

    + Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.

    + Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.

    + Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.

    + Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.

    + Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.

    Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.

    + Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.

    + Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.

    + Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.

    + Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.

    Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.

    + Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.

    + Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.

    + Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.

    + Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.

    III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG

    Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương

    • Phương Đông là cha mẹ
    • Phương Nam là thầy dạy
    • Phương Tây là vợ chồng
    • Phương Bắc là bạn bè thân thích
    • Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
    • Phương Hạ là người giúp việc.

    1. Phương Đông: Cha mẹ

    • Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
    • Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
    2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
    • Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
    • Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.

    3. Phương Tây: Vợ chồng

    • Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
    • Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.

    4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc

    • Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
    • Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.

    5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng

    • Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
    • Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.

    6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp

    • Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
    • Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên

    Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.

    C. SUY NGHIỆM:

    Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì

    D. TU TẬP:

    Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Ngũ minh pháp
    Hình minh họa: Ngũ Minh Pháp
    A. DẪN NHẬP:

    Cách đây 2549 năm để có đủ những phương thức hoằng pháp thích hợp với từng hoàn cảnh, địa dư, phong thổ, tập quán của mỗi quốc độ, Đức Phật đã chỉ dạy cho các đệ tử năm kiến thức cần phải có của một người hoằng pháp. Và nhất là trong thế giới phức tạp ngày nay, khi mà con người bị chi phối rất nhiều vì những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa, thì năm kiến thức đó lại cần phát huy mới có thể đáp ứng kịp thời để thích hợp với xã hội mới, vì không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xã hội, thì đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai trò lãnh đạo của mình nữa.

    B. NỘI DUNG:
    1. Hành tướng của Ngũ Minh Pháp:

    Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết, để đem đạo vào đời. Đó là những kiến thức về nội minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.

    a. Nội minh:

    Nội minh l kiến thức thông suốt và kinh nghiệm thực hành về nội điển Phật giáo.

    Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, thì trước tiên mình phải tự tìm hiểu giáo lý của đạo Phật. Chúng ta đã biết rằng không hiểu giáo lý, thì không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những tình trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng vì người hành đạo thiếu sự am tường giáo lý nội điển. Vì không biết rõ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mả, giết hại sinh vật để tế Thần, tế Thánh, cúng kiến ông bà.

    Muốn cho tình trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự mình thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lý cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nội giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ “nhứt manh dẫn quần manh” ấy.

    Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lý đã dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lý. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo.

    Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đình Phật tử chẳng hạn.

    Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội điển. Phải tìm hiểu giáo lý hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lý cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rõ ràng:

    a) Hệ thống Bát nhã: Giáo lý chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lý tánh chân không.

    b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lý Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác.

    c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lý pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.

    Về mỗi hệ thống giáo lý, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lý và các pháp môn phương tiện để có thể xem ra ứng tiếp với xã hội cho hợp thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậc nhất.

    b. Nhân minh:

    Am tường giáo lý chưa đủ. Muốn trình bày giáo lý ấy một cách rỏ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lý; phương pháp luận lý ấy gọi là nhân minh.

    Nhân minh là gì? Là một môn luận lý học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng “Nhân”, nghĩa là bằng cách suy cứu đến lý do.

    Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.

    Một lập luận đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: TÔN, NHÂN, DỤ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của mình. Nhân là lý do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ:

    Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.

    Nhân: Vì ông Nguyễn Văn A đã có lúc bị sanh ra.

    Dụ: Phàm cái gì đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v…(đông dụ). Trái lại, phàm cái gì không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v.

    Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Di dụ là những thí dụ khác loại (không sinh thì không chết).

    Ta thêm một ví dụ khác:

    Tôn: Trò B sẽ bị phạt

    Nhân: Vì trò B học bài không thuộc.

    Dụ: Phàm, ai không thuộc bài thì đều bị phạt cả, như trò C, trò D (đồng dụ).

    Phàm, ai thuộc bài thì đều không bị phạt như trò Mít, trò Ổi.

    Ta nhận thấy môn luận lý nhân minh có hơi giống với luận lý học hình thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lý học này, vì nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp.

    Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối không có tính cách của dị dụ. Còn dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển Phật Học Phổ Thông khóa IX).

    Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi vì các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia.

    c. Thanh minh:

    Môn học về ngữ văn tự, về âm thanh và về văn học.

    Sự truyền giáo cũng đã rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng rãi vậy.

    Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lý tu tập; người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu.

    Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng ri vậy.

    Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đòi hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ý đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn.

    d. Công xảo minh:
    Môn học về công nghệ và kỹ thuật:

    Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện lòng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo rộng rãi trong phạm vi xã hội nhân sinh.

    Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, thì không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, thì gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi vì chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đã là một sự đe dọa ghê ghớm.

    Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo lòng vị tha và bác ái muốn cho muôn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hoạ do dục vọng gây nên.

    e. Y phương minh:

    Môn học về các phương pháp chữa bệnh.

    Các Đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, Đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đã đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thực hành một công tác xã hội rất thích hợp với lòng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật tử thì đã có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.

    Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm nom, và mỗi một ngôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.

    C. KẾT LUẬN:

    Trong thời đại hiện tại, xã hội đòi hỏi một phương thức hoằng pháp rộng rãi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phàm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xã hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được hoài bảo cứu tế to rộng của Đức Bổn sư.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5An cư kiết hạ
    Hình minh họa: An cư kiết hạ
    A. GIỚI THIỆU:

    Từ thuở Phật còn tại thế, mỗi năm chư Tăng, Ni vân tập về một nơi, tuỳ theo tu viện hay Tịnh xá trong mùa mưa, để cùng nhau kiểm điểm lại công tác Phật sự, cùng nhau sách tấn tu học. Những ai được Giáo đoàn công nhận học khá, siêng làm đúng chánh pháp, thì được cho một tuổi gọi là Lạp. Đó là mùa AN CƯ của các chư Tăng Ni, đó là thời gian quý Ngài cùng nhau gợi ý để sám hối, nếu trong năm qua đã phạm giới luật.

    Thời gian an cư thường kéo dài ba tháng, ngày cuối cùng của mùa an cư gọi là ngày TỰ TỨ.

    Ở nước ta do khí hậu đặc biệt của miền nhiệt đới, chư Tổ ngày xưa đã chế lập việc an cư nhằm mùa nắng (mùa nắng ở miền Bắc, Trung miền cao nguyên và Nam là mùa mưa) thường thì bắt đầu vào Rằm tháng tư (Phật Đản) và kết thúc vào Rằm tháng 7 (Vu Lan). Do vậy An cư được kèm theo chữ Kiết hạ, và chư Tăng Ni Việt Nam lấy tuổi xuất gia qua mỗi mùa An cư gọi là Hạ Lạp.

    B. NỘI DUNG:
    I. Ý NGHĨA VÀ XUẤT XỨ:
    • Tôn trọng sự sống: Nhằm mục đích tránh giẫm đạp côn trùng bởi sự sống chỉ có một nên không thể xâm phạm sự sống dù đó là loài vi sinh.
    • Theo Tứ Phần luật San Bổ Tùy Cơ Yết ma số 4 giải thích: thân tâm đều tĩnh lặng là an; quy định thời gian ở một chỗ gọi là cư; là thời gian mà Tăng chúng quy tụ một chỗ ở thanh tịnh để cùng nhau tu hành, kiểm điểm hành vi, cử chỉ y theo luật Phật mà hành trì.
    • Pháp An cư lúc đầu do Bà La Môn giáo thời cổ đại ở Ấn độ thực hành, về sau Phật giáo chọn dùng.
    • Kinh Du hành trong Trường A Hàm 2, Phật Bản Hạnh tập kinh 39 đều có chép sự tích Đức Phật và đệ tử an cư tu hành.
    II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN CƯ:
    • Theo Kiền Độ An cư trong Luật Tứ Phần 37 quy định như sau: An cư dưới cội cây, trong thất nhỏ, trong hang núi, bọng cây, trên thuyền, nơi làng xóm hoặc có thể nương theo người chăn trâu, người ép dầu, người đốn cây.
    • Pháp An cư trong Luật Ngũ phần 19: Cấm an cư ở nơi không có người cứu hộ, giữa gò mả, nơi cây không có tàng, nhà lợp bằng da thú, chỗ đất trống.
    • Trước khi An cư phải sửa sang phòng xá, phân phối phòng xá và những vật cần dùng cho đại chúng một cách công bằng.
    • Tỳ kheo và Sa di An cư cùng một chỗ, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma ni, sa di ni An cư cùng một chỗ.
    • Trong luật tạng Pàli quy định: Tỳ kheo không an cư thì phạm tội ác tác (Đột kiết la).
    • Theo Kiền độ Ca hi na, Luật Tứ phần 43, khi kết thúc an cư phải thi hành 4 việc: Tự tứ, giải giới, kiết giới và thụ công đức y; Sau khi an cư viên mãn, đại chúng xét lại hành vi của mình trong thời gian an cư, nếu có tội thì tự bày tỏ tội của mình, sám hối lẫn nhau gọi là Tự tứ (ngày Tự tứ gọi là Tự tứ nhật, Phật hoan hỉ nhật). Khi kết thúc an cư, phải giải trừ cương giới quy định gọi là Giải giới. Sau khi an cư viên mãn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni tăng thêm một Pháp lạp (còn gọi là Hạ lạp là phép tắc chuẩn định thứ lớp lớn nhỏ của người xuất gia).
    III. THỜI HẠN AN CƯ:
    • Theo điều Sàng Nhục Pháp trong Luật Ma-ha Tăng Kỷ 27: nếu địa điểm An cư gần thì có thể phân phối vào ngày rằm tháng 4, nếu xa hoặc có người An cư quá đông phải dời đến một nơi khác để An cư thì được phân phối vào ngày 13 tháng 4.
    • Trong thời gian an cư cấm ra ngoài; nếu trái quy định này thì phạm tội Ác tác. Nhưng theo Luật Tứ phần 37, nếu đi và về trong ngày hoặc có duyên sự đặc biệt Tăng chúng cho phép thì được ra ngoài,nhưng chỉ giới hạn trong vòng 7 ngày hoặc 15 ngày mà thôi, phương pháp này gọi là Thất nhật pháp, Thụ nhật pháp.
    • Thời gian an cư thông thường là 90 ngày. Theo Tứ phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, thượng, phần 4: ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày kết thúc an cư, ngày hôm sau (ngày 16 tháng 7) là ngày Tự tứ (Kinh Mục Liên và Vu Lan đều dạy: Công đức của chư Tăng 10 phương là không thể nghĩ bàn, Phật tử nên chuẩn bị Tứ sự cúng dường và cầu xin chư tăng cầu siêu độ cho cha mẹ 7 đời, cửu huyền thất tổ, trong thời gian An cư là thời gian thích hợp nhất nên ngày Tự tứ có 3 ý nghĩa:

    1. Ngày hoan hỷ của chư Phật (vì giáo đoàn ngày một cũng cố và phát triển)

    2. Ngày thọ Lạp của chư Tăng.

    3. Ngày xá tội vong nhân. (tha tội cho những người đã mất). Ngày Vu Lan. (báo hiếu).

    • Theo Đại Đường tây Vực ký 2, 8: thời gian an cư là ngày 16 tháng 4 đến ngày rằm tháng 8.
    IV. CHỦNG LỌAI AN CƯ:
    Có 2 loại:
    • Tiền an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 5, hậu an cư thì bắt đầu từ ngày 16 tháng 6.
    • Tiền an cư, trung an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 4, Trung an cư thì bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 cho đến rằm tháng 5, Hậu an cư bắt đầu từ 16 tháng 5.
    C. SUY NGHIỆM:
    An Cư Kiết Hạ là một phương pháp thực tế và đầy nhân bản:
    • Kết hợp việc tu chứng và hành trì bằng việc chú trọng thực hành và duy trì giới luật trong một thời gian và một chu kỳ nhất định.
    • Làm sáng tỏ nghĩa vụ và bổn phận của người xuất gia lẫn tại gia về vấn đề hoằng pháp và hộ pháp.
    • Lập nên một nhân sinh quan đạo đức căn cứ vào Hạ lạp của hàng Tăng già: Người lớn tuổi mà Hạ lạp ít vẫn không được sự tôn trọng bằng người nhỏ tuổi mà Hạ lạp cao, bởi trọng hay khinh ở đây không đo lường hay so sánh về tuổi lớn, nhỏ, địa vị xã hội trước đây mà chỉ căn cứ vào trình độ tu chứng về đạo đức.
    D. TU TẬP:

    1. Tự thân em hết lòng hộ giới bằng cách cúng dường theo khả năng, và tham gia đầy đủ các pháp hội, để có được chút ít trí tuệ hầu soi rọi cuộc đời mình.

    2. Chăm chỉ học tập và siêng năng tu trì, giữ gìn chùa tháp, chăm sóc Già lam, để Tăng Ni an tâm nhập hạ.

    3. Động viên khuyến khích đạo hữu, đoàn sinh cúng dường các trường hạ để các nơi đó có thêm kinh phí thực hiện những Phật sự rộng lớn có ích cho mọi người.

    Ghi chú: Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Nay chuyển sang chương trình Bậc Chánh Thiện.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550 Tài liệu tham khảo : Theo kinh Thỉnh  Thỉnh, Trung A Hàm 29, Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội 5, Kinh Chánh Pháp Niệm, Luật Tứ phần 58, Cảnh Đức  truyền đăng lục, Gia Thái Phổ đăng lục, Thiền Uyển Thanh quy, Luận Hộ quốc Hưng Thiền.. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Vài nữ đệ tử của Đức Phật: Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Liên Hoa Sắc

    Tham khảo thêm

    Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahāpajāpatī Gotamī)

    • Là em gái của Hoàng hậu Ma Da, sau khi Hoàng hậu mất đã nuôi dưỡng Thái tử Tất Đạt Đa như con ruột.
    • Sau khi Đức Phật thành đạo, bà xin xuất gia. Nhờ Tôn giả A Nan khẩn cầu, Đức Phật chấp thuận với điều kiện giữ Bát kính pháp; bà trở thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên, mở đầu cho Ni đoàn.
    • Bà là tấm gương về lòng thương con, ý chí cầu đạo và sự kiên trì vượt khó.

    Liên Hoa Sắc (Uppalavaṇṇā)

    • Tên có nghĩa là “sắc đẹp như hoa sen xanh”; bà có nhan sắc tuyệt trần nhưng cuộc đời trước khi xuất gia gặp nhiều đau khổ.
    • Sau khi xuất gia, bà tinh tấn tu tập, chứng quả A la hán; được Đức Phật khen là bậc thần thông đệ nhất trong hàng Tỳ kheo ni.
    • Bà là tấm gương chuyển hóa khổ đau thành trí tuệ và hạnh nguyện giúp người.

    Gợi ý hoạt động

    • Các Chúng nữ tìm thêm về các vị nữ đệ tử khác (Khema – trí tuệ đệ nhất, Patacara…) và trình bày trước Đoàn.
  7. 7Trí tuệ và kiến thức

    Tham khảo thêm

    Kiến thức

    • Là những hiểu biết thu nhận từ bên ngoài qua học hỏi, sách vở, kinh nghiệm: biết nhiều về khoa học, lịch sử, kỹ năng.
    • Kiến thức cần thiết cho đời sống nhưng có thể sai, có thể bị dùng vào việc xấu, và chưa chắc làm mình hết khổ.

    Trí tuệ

    • Là cái thấy biết sáng suốt, đúng như thật về mình và cuộc đời: thấy rõ vô thường, nhân quả, khổ và con đường hết khổ.
    • Trí tuệ có được qua ba bước: văn (nghe, học), tư (suy nghĩ, quán xét), tu (thực hành) – gọi là văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ.
    • Trí tuệ giúp ta biết dùng kiến thức đúng cách, đem lại an lạc cho mình và người.

    Liên hệ

    • Chữ “Trí” trong châm ngôn Bi – Trí – Dũng là trí tuệ, không chỉ là học giỏi.

    Gợi ý hoạt động

    • Thảo luận: một người rất giỏi nhưng dùng tài để hại người thì có trí tuệ không? Vì sao?
  8. 8An trú trong hiện tại

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • An trú trong hiện tại là sống trọn vẹn với giây phút đang có: đang ăn biết mình đang ăn, đang đi biết mình đang đi, không để tâm chạy theo những chuyện đã qua hay lo lắng chuyện chưa tới.
    • Đức Phật dạy không nên mải tiếc nuối quá khứ, không nên mong cầu viển vông tương lai; quán chiếu kỹ những gì đang xảy ra trong hiện tại. Lời dạy này có trong kinh Nhất dạ hiền giả.
    • An trú hiện tại không phải là không lo cho tương lai, mà là làm tốt việc của hôm nay chính là chuẩn bị cho ngày mai.

    Thực tập

    • Thở chánh niệm: hít vào biết mình đang hít vào, thở ra biết mình đang thở ra.
    • Đi thiền: bước chậm, mỗi bước chân phối hợp với hơi thở.
    • Ăn trong chánh niệm: ăn chậm, nhai kỹ, biết ơn thức ăn.
    • Nghe chuông chánh niệm: nghe tiếng chuông thì dừng lại, thở ba hơi.

    Gợi ý hoạt động

    • Tổ chức một buổi “ngày chánh niệm” cho Chúng, Đội: thiền ngồi, thiền đi, ăn cơm trong im lặng, chia sẻ cảm nhận.
  9. 9Cuộc vận động Phật giáo năm 1963

    Tham khảo thêm

    Diễn tiến chính

    • Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật Đản, trong khi các tôn giáo khác vẫn được treo cờ.
    • Đêm 8/5/1963 (Phật Đản), tại Đài phát thanh Huế, lực lượng chính quyền đàn áp đồng bào Phật tử tụ tập, làm nhiều người thiệt mạng, phần lớn là các em thiếu nhi.
    • Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng, đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo; phong trào lan rộng khắp miền Nam.
    • Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để bảo vệ đạo pháp, gây chấn động thế giới.
    • Tháng 8/1963, chính quyền tấn công nhiều chùa, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử.
    • Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.

    Gia Đình Phật Tử trong cuộc vận động

    • Nhiều Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT đã tham gia bảo vệ đạo pháp, một số đã hy sinh; tổ chức tôn vinh các vị là Thánh tử đạo.

    Ý nghĩa

    • Thể hiện tinh thần vô úy, hy sinh vì đạo pháp và tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt Nam.
    • Dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (năm 1964).

    Lưu ý

    • Anh chị trưởng nên dùng thêm tài liệu lịch sử của Ban Hướng Dẫn để giảng dạy chi tiết, đặc biệt danh sách các vị Thánh tử đạo.
  10. 10Các tập đoàn Phật giáo Nam – Trung – Bắc

    Tham khảo thêm

    Phong trào chấn hưng Phật giáo

    • Từ những năm 1920, Phật giáo Việt Nam có phong trào chấn hưng: lập hội, mở trường Phật học, ra báo, dịch kinh sách sang chữ quốc ngữ.

    Các hội Phật học ba miền

    • Miền Nam: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (thành lập năm 1931 tại Sài Gòn).
    • Miền Trung: An Nam Phật học hội (thành lập năm 1932 tại Huế); cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám có công lớn, cũng là người khai sinh tổ chức Gia đình Phật hóa phổ, tiền thân của GĐPT.
    • Miền Bắc: Bắc Kỳ Phật giáo hội (thành lập năm 1934 tại Hà Nội).

    Tổng hội Phật giáo Việt Nam

    • Năm 1951, đại biểu Phật giáo ba miền họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam; cũng trong năm này danh xưng Gia Đình Phật Tử chính thức được dùng.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng tìm hiểu một hội và vẽ bảng thời gian (dòng sự kiện) chung của Đoàn.
  11. 11Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

    Tham khảo thêm

    Thành lập

    • Sau cuộc vận động năm 1963, các hệ phái, tổ chức Phật giáo (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ…) họp Đại hội thống nhất; đầu năm 1964 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với bản Hiến chương.

    Tổ chức

    • Hai viện chính: Viện Tăng Thống (lãnh đạo tinh thần, giới luật) và Viện Hóa Đạo (điều hành Phật sự).
    • Đức Đệ nhất Tăng thống là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
    • Gia Đình Phật Tử là tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trực thuộc Giáo hội.

    Sau này

    • Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước.

    Lưu ý

    • Đây là đề tài lịch sử tổ chức; anh chị trưởng giảng theo tài liệu chính thức của Ban Hướng Dẫn.

Năm II · Rèn chí – Tu dưỡng2 bài

  1. 1Thái tử Tu Đại Na
    Hình minh họa: Thái tử Tu Đại Noa
    I. LƯỢT TRUYỆN:

    Một thời Đức Thế Tôn ngự tại nước Xá Vệ nơi rừng Kỳ Hoàn, tại A-luyện trong vườn A-Na-Phân để đối với vô số Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu ba di. Lúc ấy Ngài ngồi chính giữa, có bốn hàng đệ tử chầu chực xung quanh. Bỗng Ngài mỉm cười và nơi miệng có chiếu hào quang năm sắc.

    Ông A Nan đứng dậy, sửa y phục trang nghiêm, chắp tay quỳ xuống và nói: “… Bạch Đức Vô lượng thọ, đã 20 năm con hầu cận Ngài, chưa hề thấy Ngài cười lần nào như hôm nay. Bạch Đức Chánh Biến Giác, hiện giờ, Ngài nhớ đến chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chăng? Con rất mong đợi biết vì sao Ngài mỉm cười như thế?”.

    Phật đáp: “Ta không tưởng tới Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Ta nhớ cái hạnh bố thí Ba-la-mật-đa của ta ta hồi vô lượng kiếp trước”.

    Ông A Nan nói: “Bạch đức Vô-lượng-quang xin Ngài hoan hỷ cho con biết Pháp ấy ra sao?”.

    Phật nói: Thuở A-tăng-kỳ kiếp, có một nước hiệu là Diệp-ba, vua tên là Thi-tí, lấy phép chân chánh trị vì, chẳng hề làm tổn hại lê dân.Vua có 4.000 quan thượng thơ, 500 thớt voi bạch, cai quản 60 tiểu bang và 800 thôn xã. Vua tuy có hai muôn vương phi mỹ nữ, song không có bà nào có con. Ngài khẩn cầu khắp nơi, tu luyện đạo đức.

    May thay! Một bà bỗng có thai.

    Thiên tử bổn thân săn sóc chánh cung rất chu đáo. Ngài lại ra lệnh lo nào nệm thúy gối loan cho bà ăn nghỉ, nào món ăn cho mỹ vị, thức uống cho tinh khiết đặng bà dùng. Sau chín tháng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sanh hoàng nam. Hay tin này, cả thay quý phi trong cung điện đều hớn hở vui mừng.

    Thời gian qua Thái tử được 16 tuổi. Ngài văn võ kiêm toàn, lại thêm lể nhạc cung đờn cũng là tột chúng. Ngài phụng kính Hoàng phụ và Mẫu hậu chẳng khác gì tiên thánh. Vua cha lại dựng riêng cho Thái tử một tòa các nguy nga rực rỡ.

    Tuy trẻ tuổi, song Đông cung lại quý sự phước thiện, bố thí cho nhân loại, thượng cầm, hạ thú. Ý Ngài chỉ muốn cho tất cả chúng sanh được an vui tự tại.

    Khi đến tuổi trưởng thành, vua cha đính hôn cho Ngài với nàng Mạn-Trà, con một vị thiên tử, Công chúa sắc đẹp tuyệt trần và đức hạnh không ai sánh kịp.

    Ngày tháng qua, Đông cung được một trai, một gái. Một hôm, Ngài xin phép vua cha ra thành dạo chơi và xem cảnh vật. Ngài thấy những người nghèo, đui, điếc, câm đi dọc đường, trong lòng ưu ái, không hân hoan chút nào. Vua cha hỏi, Đông cung nói: “Tâu Hoàng phụ, con ra thành thấy người nghèo, điếc, đui, câm; con động mối từ tâm, xót thương trắc ẩn. Con muốn tâu Hoàng phụ biết ý muốn của con, song con còn ngần ngại e Hoàng phụ không nhận lời”. Hoàng thượng nói: “Con muốn điều gì, cha cũng hoan hỷ ban cho như ý”. Đông cung nói: “Con muốn lấy tất cả của cải trong kho tàng của Hoàng phụ, đem bố thí cho mọi người, bất luận ai xin vật chi thì con cho vật ấy”. Hoàng thượng đáp: “Hay thay, con cứ thi hành theo bổn nguyện, cha không cấm cản”.

    Đông cung xin các quan hầu cận đem đồ châu báu ra bày biện nơi bốn cửa thành và ngoài chợ đặng bố thí cho tất cả nhân loại. Tám phương trời đất đều hay việc lành của Thái tử. Bốn hướng xa xôi nghìn dặm, đua nhau lặn suối trèo non, đến thọ thí. Người đói rách, Thái tử cho ăn mặc, kẻ xin bạc vàng châu báu, Thái tử lại cấp cho, ai ai cũng được toại lòng hả dạ.

    Thời ấy có một ông vua nghịch sanh lòng nham hiểm, hay tin Thái tử bố thí bất luận là ai cùng vật gì, mới hội các đình thần và các vị Bà la môn trong nước bàn bạc rằng: “Ta nghe vua nước Diệp-ba có một thớt tượng bạch, tên là Tu-đàn-diên chay bay được trên liên hoa. Voi ấy đã dũng mãnh lại mạo hiểm trong việc chiến tranh, trăm trận trăm thắng, chả biết chư khanh có ai chịu đi xin voi ấy chăng?”.Các quan văn vỏ lắc đầu trương mắt nhìn nhau; song trong hàng Bà la môn, có tám ông tâu rằng: “Chúng tôi nguyện làm như ý, cúi xin Hoàng thượng ban cho chúng tôi ít đồ hành lý”. Vua dạy cấp đồ đi đường và nói rằng: “Ta rất tin cậy các ngươi, nếu các ngươi xin được voi ấy, ta sẽ trọng thưởng”.

    Tám ông Bà-la-môn tay cầm tích trượng lên đường, khi lên thác khi xuống ghềnh, lần hồi đã tới nước Diệp-ba. Chúng hỏi thăm đến trước của đền của Thái tử, thảy đều chống gậy kim cương, chân đứng chân treo, day mặt vô cửa. Người giữ của vào báo cho Đông cung. Ngài liền ra thi lễ một cách tôn trọng, chẳng khác chi nghĩa cha con. Đoạn Thái-tử hỏi: “Bạch quý Ngài, quý Ngài ở đâu đến đây? Đi đường sá xa xôi có cực khổ chăng? cảm phiền quý Ngài cho tôi biết có việc chi quan hệ mà phải chịu nhọc nhằn treo chân thế này?”. Tám vị Bà-la-môn đáp: “Thưa Thái tử Đông cung, chúng tôi mạn nghe Đông cung mở đường phát thiện, bố thí bất luận ai cùng bất cứ của cải gì, nên danh thơm của Ngài truyền khắp tám phương, công đức của Ngài quả thật vô lượng, vô biên, xa gần đều chúc tụng, không một ai không biết. Chính bần đạo lấy đó tin chắc chắc như lời. Thưa Thái tử Đông cung, thật Ngài là con cõi thượng thiên, thế thì lời nói của Ngài còn hơn kim thạch. vấy nếu Ngài thành tâm bố thí, chúng bần đạo xin Ngài hoan hỷ cho chúng tôi bạch tượng bay trên liên hoa”. Đông cung liền lại chuồng tượng dắt ra một con voi bạch, song các vị Bà-la-môn nói lại: “Thưa Thái tử Đông cung, không phải thớt voi này, chúng tôi xin đây là bạch tượng chay được trên hoa sen, tên nó là Tu-đàm-d iên”. Thái tử đáp: “Cha tôi thương voi ấy lắm, chẳng khác chi tôi, tôi không thể tự quyền cho các Ngài. Nếu tôi cho thì cha tôi hết thương tưởng tôi, lại còn đuổi tôi ra khỏi nước nữa”. Nhưng Đông cung lại nghĩ rằng: “Trước kia ta đã lập trọng nguyện “Bố thí như ý”, nếu nay ta từ chối thì ta tư bác đại nguyện của ta. Ta nên cho voi ấy mới có thể đạt được pháp Ba-la-mật-đa”. Đông cung không còn ngần ngại nói: “Bạch quý Ngài, tôi không dám làm quý Ngài phải bận long vì một sự nhỏ nhen đó”. Đông cung dạy tùy tùng thắng bành vàng và dắt tượng ra tức tốc, tay trái Ngài bưng nước rửa tay cho các vị Bà-la-môn tay mặt dắt voi cho quý khách. Vừa được voi bạch, tám Bà-la-môn liền ca tụng “Bồ đề tâm” và cảm tạ Đông cung, lộ vẻ hân hoan và vội vả lên đường. Đông cung lại còn nói vớI: “Xin quý Ngài hãy đi cho chóng, kẻo Hoàng phụ tôi biết lại cho người theo bắt voi”. Trong nháy mắt, tám ông Bà-la-môn biệt dạng.

    Vừa nghe Thái tử cho kẻ nghịch tượng báu, các quan văn vỏ đều sửng sốt, lo sợ rằng: “Nước ta nhờ có voi ấy mà dẹp nạn can qua”. Quần thần liền vào tâu với vua: “Muôn tâu bệ hạ, Đông cung đã đem voi báu cho kẻ thù nhà, Bệ hạ dựng nên bờ cõi cũng nhờ voi ấy oai phong lẫm liệt, một mình có thể chống cự với sáu chục thớt voi khác như chơi, nay Đông cung lại cho kẻ nghịch, chúng hạ thần cho đó là điềm mất nước. Chúng tôi tâm hồn rối loạn, cúi xin Hoàng thượng định đoạt, Bố thí như ý của Đông cung theo thiển kiến của chúng tôi thì chẳng kíp thì chầy, Thái tử chẳng những vét sạch cả của cải trong kho tang mà thôi, lại chúng tôi e sợ Ngài còn cho luôn cả nước và vợ con Ngài nữa”. Vua nghe tâu không vừa lòng, liền cho đòi một vị Đại thượng thơ đến hỏi: “Khanh cho trẫm biết có phải Thái tử bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

    • Muôn tâu Bệ hạ, quả thật như lời.

    Vua hội nghị cả thảy đình thần để thẩm án Đông cung. Một quan Thượng thơ tâu: “Kẻ nào vào chuồng tượng thì chặt chơn, kẻ nào dắt tượng thì cắt tay, kẻ nào thấy dắt tượng thì móc mắt”. Một quan thượng thơ khác lại tâu: “Xin Hoàng thượng cọng cả tử hình cho cả thảy thủ phạm và đồng lõa”. Thấy quần thần phân vân và ý kiến không đồng, vua lại thêm tha thiết và phán với triều đình: “Con Trẫm chẳng những ham tu Huệ mà thôi, lại còn mộ đường phước thiện. Đối với mấy điều ấy Trẫm không thể ngăn cản, huống chi nay Trẫm nỡ đành bắt buộc hành hình cùng địa ngục”. Một vị thượng thơ bác bẻ ý kiến cả thảy triều thần, rồi quỳ xuống tâu: “Theo thiển kiến của tôi, Ngài nên đuổi Thái tử ra khỏi nước và đày người ở chốn sơn lâm 12 năm hòng người ăn năn hối ngộ”.

    Vua theo ý kiến ấy, dạy đòi Đông cung vào hỏi: “Có phải ngươi bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

    • Muôn tâu Hoàng phụ, quả thật có như vậy.

    Vua lại hỏi: “Sao ngươi lại dám bắt bạch tượng cho kẻ nghịch mà không trình cho ta hay trước?”.

    • Thưa Hoàng phụ, trước kia Hoàng phụ cho phép con bố thí như ý và không ngăn cấm một việc chi. Bởi thế con không tâu lại với Hoàng phụ việc con làm phước.

    Thánh hoàng nói: “Lệnh ta ban thuộc về đồ ngọc ngà châu báu, chớ không can hệ đến tượng bạch”.

    Thái tử đáp: “Muôn tâu Hoàng phụ, các vật ấy đều là của cải của Hoàng phụ tất cả, con không ngờ phải trừ ra bạch tượng”.

    Hoàng thượng phán: “Ngươi phải tức tốc ra khỏi nước này, ta đày ngươi tại núi Đàn-đặc (Danta) 12 năm”.

    Thái tử tâu: “Con không dám cãi lệnh Hoàng phụ, song con xin Hoàng phụ cho phép con ở lại thêm bảy ngày đặng bố thí thêm cho mãn nguyện”.

    Thiên tử đáp: “Ta dạy đuổi ngươi cũng vì sự bố thí của ngươi thái quá, chẳng những làm tiêu tan kho báu của ta lại làm cho nước mất một linh vật, người không được ở lại đây thêm bảy ngày, hãy ra khỏi nước bây giờ, ta không cho phép đâu?”.

    Thái tử tâu: “Con không dám trái lệnh Hoàng phụ, nhưng vì con còn chút ít của cải riêng, muốn đem bố thí cho trọn vẹn, chớ con không dám đá động đến kho tàng của nước nữa”..

    Hai muôn cung phi đồng xin cho Thái tử ở lại bảy ngày rồi sẽ đi cũng chẳng muộn. Vua nhận lời.

    Thái tử dạy gia dịch truyền cho thập phương hay; ai muốn của cải, thì đến Ngài cung cấp cho. Nhân dân ở bốn phương trời nghe đồn đều đến cửa đền. Thái tử rất ân cần thiết đãi thức ăn, chăm non phân phát của cải, mọi người đều được vui vẻ. Trong bảy ngày được bố thí cho của cải, người hàn vi trở nên phú quý, cả muôn người nhờ đó được no ấm hân hoan.

    Đông cung vào từ tạ Công chúa Mạn-trà nói rằng: “Vì tôi bố thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại cho kẻ nghịch tượng bạch kỳ tài, nên Hoàng phụ và triều đình đày tôi 12 năm lên núi Đàn-đặc”. bà Mạn-trà nói: “Muốn nước thạnh nhà an, tôi xin cầu Đức Thánh hoàng, các thượng quan cùng quan dân lớn nhỏ trong nước, thảy đều được giàu sang, an vui vĩnh viễn. Còn tôi thì tôi nguyện theo Thái tử vào chốn thâm sơn mà tu hành pháp Bát nhã”. Đông cung nói: “Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giữ được bình tĩnh với cọp hùm cùng các thú dữ khác, Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đài các nguy nga, mặc ròng tơ lụa, nghỉ toàn nện gối, ăn uống toàn đồ mỹ vị. Còn trên sơn lâm, nghỉ ngơi màn trời chiếu đất, nệm gối bằng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. lại thêm mưa, gió, sấm, sét, sương, tuyết làm cho vỡ mật kinh tâm. Khi lạnh thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi đây cây cối không bề nương dựa, dưới đất thì là cỏ gai đá sỏi cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao phu nhân lại chịu nổi cảnh khổ ấy?”. Bà Mạn-trà đáp: “Nếu thiếp xa cách Thái tử thì cần gì nệm thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước hoàn cảnh này, thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho trọn đạo vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiện, khói thì có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân phận cho lang quân, mặc dầu mưa tối nằng chiều. Thiếp tưởng: lang quân chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu thần thức xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại, lúc lang quân lập đàn bố thí thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương nếu có người đến xin thọ thí, thiếp biết nói làm sao với họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp quá cảm động có thể chết đặng vậy”. Đông cung nói: “Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai, nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỷ nhân lời. Khi ấy Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải làm rối lọan tâm từ thiện của tôi không? Tốt hơn Công chúa đừng theo tôi làm chi”. Mạn-trà đáp: “Thái tử chớ quá lo xa, tôi xin tán thành mọi việc phước thiện, lang quân ôi! Trong trời đất không có ai nhơn đức hơn lang quân”. Đông cung nói: “nếu quả Vương phi đồng tình thì không gì quý hóa bằng!”.

    Đông cung dắt vợ con vào viếng mẹ và từ giả lên đường. Thái tử thưa: “Cúi xin Mẫu hậu hãy năng nhắc nhở Thánh hoàng lấy luật chân chánh trị nước chăn dân, chớ để tà đạo sang nhập nước nhà”.

    Nghe lời Đông cung, Hoàng hậu bồi hồi cảm động âu sầu. Bà nói giữa cung phi: “Ta đem thân cứng cõi như sắt đá, lấy lòng bền bỉ hơn gang thép mà phò Hoàng thượng không chút chi lỗi lầm. nay có một mụn con vỏn vẹn, nó lại bỏ ta mà đi, tưởng tới chừng nào thì tâm bào ta đứt từng đoạn! Nhớ khi con còn trong bụng mẹ, chẳng khác chi lá trên nhành, càng ngày càng lớn ta nuôi con đến trưởng thành, nó lại đi xa, bỏ ta hiu quạnh! Các Vương phi khác sẽ được hưởng thú vui chơi, còn ta thì Hoàng thượng sẽ hết yêu ta nữa. Ta xin thành tâm chú nguyên cùng cao xanh cho con ta được mau trở về xứ sở”.

    Đông cung cùng vợ con lạy mẹ rồi lui ra.

    Hai muôn quý phi mỗi bà đều đem ngọc ngà trân châu đặng biếu cho Đông cung; bốn ngàn thượng thợ đem tràng hoa và bảy báu dâng cho Thái tử.

    Thái tử ra cửa thành Bắc, Ngài lấy cả thảy bảy vật báu, ngọc ngà và bông hoa bố thí cho mọi người. Cả thảy quan dân lớn nhỏ vô số đến đưa đón chật đường, chen nhau đưa lễ vật cùng chúc từ cho Thái tử. Họ bàn luận cùng với nhau và nói: “Đông cung Thái tử là người trọn lành, là bậc vĩ nhân trong nước. Vì sao Hoàng thượng lại xua đuổi một vị Hoàng tử quý nhất và hiếm có trong đời này?”. Cả thảy mọi người đều hoài tâm thương tiếc.

    Ra khỏi thành, Thái tử xin thần dân trở gót đặng Ngài lên đường. Lúc quay lưng, quan dân lớn nhỏ đều bi cảm và khóc than nức nở.

    Thái tử lên xe với vợ con, tự cầm cương dục ngựa. Đi một quảng đường xa xa, Thái tử dừng xe dưới bóng cây nghỉ mát. Bỗng có một người Bà-la-môn đến xin Ngài con ngựa. Thái tử mở ngựa ra cho, rồi để hai con lên xe, tự mang gọng xe vào vai kéo thế cho ngựa, Công chúa thì ở sau đẩy tới. Đi thêm một khúc đường, lại gặp một vị Bà-la-môn đón xin cái xe, Đông cung liền nhận lời. Đi một khúc xa hơn nữa lại gặp một người Bà-la-môn xin bố thí. Thái tử nói: “Tôi không muốn từ chối, song của cải tôi đã hết cả”. Người Bà-la-môn đáp: “Nếu Ngài không có của cải gì khác, nhờ Ngài cho tôi y phục Ngài đang mặc trong mình”. Đông cung lấy quần áo tốt của mình mà cho, rồi mặc đồ cũ. Đi một đỗi xa nữa, gặp một người Bà-la-môn khác đến xin bố thí, Đông cung cho quần áo của vợ. Một đỗi xa hơn nữa, lại gặp một người Bà-la-môm đến thọ thí, Ngài cho quần áo hai con, Đông cung đã bố thí cả xe, ngựa, của cải, quần áo mà không buồn tiếc chút nào. Bây giờ, Đông cung thì cõng con trai, Công chúa thì bồng con gái, đi bộ lên đường. Cả thảy vợ chồng con cái đều hân hoan, nhắm non cao thẳng dặm.

    Núi Đàn-đặc ở xa lắm, cách châu thành hơn 6.000 dặm. Muốn đi đến nơi, phải trải qua không biết bao nhiêu hầm hố bùn lầy, phải nhịn đói chịu khát nữa. Cứ ngày đi đêm nghỉ, xuân qua thu lại, hè mãn đông sang, tội nhân đã đền núi Đàn-đặc. Thái tử nhắm xem phong cảnh thấy núi cao chơm chởm oai nghi, cây cỏ sầm uất thạnh mậu, các thứ chim ca hót với giọng véo von, hồ trong hoa nỡ, nước ngon trái ngọt với vô số ngỗng, hạc, vịt, chài cùng các loại chim ăn dưới nước.

    Thái tử nói với vợ: “Ở đây cây mọc thẳng bằng, cao sừng sửng tận trời xanh mà không cây nào lay động. Chúng ta sẽ được uống nước trái ngọt ở hang đá; chúng ta sẽ hành pháp Bát nhã”. Đông cung vô núi, cả thảy thượng cầm hạ thú đều vui mừng đến nghinh tiếp Ngài.

    Trên chóp núi có một vị tu hành tên là A-Châu-Đà. Ngài được 5.000 tuổi và đức hạnh dung thông, Đông cung đến thi lễ rồi lui ra đứng dậy mà nói: “Bạch Ngài, hiện giờ chúng tôi chưa biết phải ở nơi nào có thức ăn uống?”. Ông A-Chân-Đà đáp: “Toàn núi nầy là cảnh thiên thai, Ngài ở đâu lại không được? Núi nầy chỗ nào cũng tinh sạch và thanh tịnh, Ngài muốn hành pháp bát nhã lại đem theo vợ con làm chi”.

    Thái tử chưa kịp trả lời, bà Mạn-Trà chận hỏi: “Ngài tu ở núi này đã bao lâu?

    • Tôi ở núi nầy được đâu 400 hay là 500 năm.
    • Một người như tôi ước tu bao nhiêu năm mới đắc huệ? Giả tỷ như tôi ở núi nầy lâu hơn cả cổ thọ cũng khó tính cho ra đến chừng nào đạt được đạo Bồ Đề.

    Vị tu sĩ đáp: “Kỳ thật mấy câu chuyện ấy, tôi cũng không biết được”.

    Đông cung hỏi: “Ngài có nghe nói đến tên Thái tử Tu-Đại-Noa, con của vua Diệp-Ba chăng?

    Vị tu sĩ đáp: “Tôi thường nghe nói đến nhưng không biết mặt”.

    Thái tử nói: “Đông cung ấy là tôi đây vậy”.

    Vị tu sĩ hỏi: “Ngài muốn tu pháp môn nào?”.

    Thái tử đáp: “Tôi muốn tu theo Đại thừa”.

    Vị tu sĩ nói: “Đối với công đức của Ngài, tôi tưởng chẳng bao lâu Ngài đạt mục đích một cách viên mãn. Chừng Ngài đắc đạo vô thượng, hoàn toàn sáng suốt, tôi sẽ là đệ tử thứ nhất của Ngài có phép siêu phàm nhập thánh”.

    Rồi vị tu sĩ lại chỉ cho Thái tử một chỗ ở. Thái tử bắt chước ông trồng cương vào đầu và vấn tóc, lượm nhánh và lá cây cất bốn lều tranh cho mình và vợ con.

    Con trai tên là Da-li (Jali) 7 tuổi, mặc quần áo bằng cỏ rơm theo cha, con gái tên là Kê-Na-Diên (Krnâjinâ) mặc quần áo da nai theo mẹ.

    Trên núi chim chóc và cầm thú vui cười, tỏ lòng tín ngưỡng và sung bái Thái tử. Khi Thái tử ở đêm tới đâu thì ở đó hang hốc đều nổi mạch nước, cây cỏ lại đơm bông trỗ lá, loại sâu bọ và ác thú đều trốn mất; loại thú ăn thịt trở lại ăn cỏ, cây sai trái, chim đồng tình kêu hót. Bà Mạn-Trà lo hái trái cho Thái tử và cho con ăn. Còn hai trẻ khi thì đi chơi với cầm thú nơi mé rạch, khi thì ở đó suốt đêm. Lần kia đuổi thú chơi, con trai Di-Lị cỡi sư tử, sư tử nhảy. Di-Lị té xuống đất trầy mặt chảy máu. Một con khỉ thấy, leo lấy lá cây chùi máu, rồi dắt lại bờ ao rửa. Thái tử thấy tấn tuồng ấy, thầm nói: “Loài cầm thú cũng có lòng thương như nhân lọai”

    Trong thời kỳ ấy, tại xứ Câu-Lưu có một người Bà-la-môn nghèo khó, bốn mươi tuổi, không con, vợ chàng thì yểu điệu đẹp đẽ, phương phi, còn chàng thì xấu xa, mình mẩy đen điu, diện mạo quá dị tướng, chẳng khác chi yêu ma quỉ mị. Vợ chàng gớm ghét mong sao chàng chết phức cho rồi. Ngày kia cô ta đi múc nước gặp một đám trai tráng nhạo báng chồng nàng và nói: “Bà thì ví tợ thiên kim, cớ sao lại làm vợ một người như thế?”. Cô ta trả lời: “Cái đầu già nua ấy bạc trắng như sương, sớm tối tôi hằng trù rủa nó chết, chẳng biết sao nó không nhúc nhích”. Đáp rồi tự than thân tủi phận, về nhà khóc nói với chồng: “Thiếp đi múc nước gặp một lũ trai tơ xúm nhau diễu cợt. Vậy chàng phải kiếm cho thiếp một con đòi, chừng nào có đứa ở, thiếp khỏi đi xách nước, bọn ấy mới hết chọc ghẹo thiếp”. Người chồng trả lời: “Tôi nghèo xác da xác chiếu, nàng lại muốn kiếm tôi mọi ở đâu?” Vợ đáp: “Nếu không có, tôi tình nguyện bỏ nhà ra đi”. Nàng lại tiếp lời: “Tôi có nghe Thái tử Tu Đại Noa, vì bố thí thái quá nên bị vua cha đày tại núi Đàn-đặc. Ngài có một trai, một gái, chàng nên than hành đến đó xin hai trẻ”. Chồng bác lời rằng: “N úi Đàn-đặc xa hơn 6.000 dặm, khó đi đến nơi, huống nữa, là xin Thái tử một việc mà Ngài không thể nào cho!”. Vợ lên tiếng: “Nếu chàng còn do dự, tôi sẽ mượn con dao tự tử ngay”. Chồng xuống giọng: “Thôi đừng vội giận, nàng coi sắm cho tôi đồ hành lý”. Vợ nói: “Đi thi đi đi, nhà ta thiếu trước hụt sau, còn đòi đồ hành lý gì?”.

    Người Bà-la-môn cụ bị ít món ăn rồi lên đường. Đến xứ Diệp-Ba đi ngay lại cửa thành, chàng ta mới hỏi người giữ cửa: “Xin ông thi ân cho tôi biết Thái tử Đông cung Tu-Đại-Noa ở đâu hiện giờ?”. Người giữ cửa không dám trả lời vào báo với Hoàng thượng hay, vua nghe tức giận mà phán rằng: “Cũng vì lũ này mà ta đày Thái tử sao chúng nó lại đến đây làm chi?”. Người Bà-la-môn được vào quỳ tâu: “Muôn tâu Thánh hoàng tôi ở xứ xa lại, vì cái thanh danh của Thái tử Đông cung đâu đâu đều biết, trên thấu tứ thiên, dưới tận cửu tuyền, Đông cung có lòng bác ái không hề để một ai thất vọng. Bỏi vậy nên ở xa, tôi cũng lặn lội đến đây chủ ý thành tâm yêu cầu một đôi việc cùng Thái tử”. Vua nói: “Đông cung ở chốn quạnh hiu, trong thâm sơn vì quá nghèo khổ, người còn vật chi nữa mà bố thí”. Người Bà-la-môn tâu: “Muôn tâu Hoàng thượng, tuy biết Đông cung kiếm khuyết mọi vật, song tôi cũng chỉ nguyện đến tận nơi ra mắt Ngài”. Vua dạy người đi chỉ đường.

    Người Bà-la-môn nhắm núi Đàn-Đặc thẳng dặm băng ngàn. Chàng vào núi gặp một người thợ săn đón hỏi: “Xin ông thi ân cho tôi biết, Thái tử Tu-Đại-Noa có ở trên núi này không?”. Thợ săn tuy biết Đông cung bị đày ở đây cũng vì bố thí cho dòng Bà-la-môn, song không chỉ chỗ lại còn bắt chàng trói vào gốc cây đánh một trận nhừ tử, mắng nhiếc quá lời và nói: “Ta muốn cho người vài mủi tên và ăn thịt ngươi, ngươi còn thiếu vật chi mà đến đây hỏi thăm Thái tử”. Người Bà-la-môn nghĩ: “T a sẽ bị tay người này giết vậy ta phải thiết kế đánh lừa ngườI mới mong toàn tánh mạng”. Nghĩ rồi liền nói: “Theo lẽ phải thì Ngài nên hỏi tôi nguyên nhân trước khi hành phạt tôi cho đáng”. Thợ săn đáp: “Ngươi muốn nói việc chi?”. Người Bà-la-môn nói: “Thưa Ngài, đức Thánh hoàng hồi tâm thương nhớ Thái tử Đông cung, dạy tôi đi tìm Thái tử đặng thỉnh về nước”. Nghe vậy thợ săn hối hận liền mở trói thả ra nhận lỗi và nói: “Tôi thật vô lễ, xin ông miễn chấp, cũng bởi không hay không biết có chỉ Thánh hoàng nên mới có lỗi lầm như hôm nay”. Nói rồi chỉ chỗ ở của Đông cung.

    Người Bà-la-môn đi thẳng tới lều tranh của Thái tử, Đông cung thấy đặng rất đổi vui mừng, ra tiếp rước thi lễ hỏi thăm: “Ông ở đâu lại có lẽ đi đường xa mệt nhọc thì phải? Ông đến tôi có việc chi chăng?”. Người Bà-la-môn thưa: “Tôi ở xa lắm, thân tôi khốn đốn không cùng, hiện giờ tôi đói khát nữa”. Thái tử lật đật mời vào cốc, mời ngồi, đem trà nước và trái cây cho người Bà-la-môn dùng. Khi no rồi người Bà-la-môn nói: “Thưa Đông cung Thái tử, tôi gốc ở nước Câu-lưu đã lâu, tôi nghe lòng từ thiện của Ngài, thập phương thế giới đều mến danh thơm và đức hạnh của Ngài. Tôi quá nghèo khổ mong Ngài thương tưởng tôi, cho tôi một vài vật”.Thái tử đáp: “Kính ông, chẳng có việc gì tôi từ chối nhưng rủi cho ông, hiện giờ tôi không còn món gì”. Người Bà-la-môn nói: “Thưa Đông cung, nếu Ngài không có gì, xin Ngài cho tôi hai trẻ con của Ngài để phụng dưỡng tôi lúc trở về già”. Thái tử suy nghĩ một hồi rồi đáp: “Ông ở xa lại chú tâm xin hai đứa con tôi, tôi không lẽ từ chối”.

    Lúc đó hai trẻ đi chơi. Thái tử kêu lại và nói: “Có một người Bà-la-môn ở xa đến xin hai con, cha đã hứa lời ưng chịu hai con hãy đi với người”. Hai đứa trẻ chạy đến một bên cha khóc rằng: “Chúng con đã từng biết nhiều người Ba-la-môn song chúng con không hề thấy người nào dị tướng như thế. Chắc người này không phải trong họ của Bà-la-môn đâu, người ấy là quỷ yêu! Nay mẹ con đi hái trái chưa về, cha lại bắt con cho yêu tinh ăn thịt, chúng con phải chết mất. Đến chừng mẹ con về, kêu con chẳng thấy chẳng khác gì bò mẹ kiếm con, người sẽ bi lụy, than van, đau khổ”. Thái tử nói: “Hai con chớ quá bịn rịn, cha đã hứa lời không thể thất tín. Người Bà-la-môn này không phảI là ma quỉ mị, không ăn thịt con đâu mà ngại, hai con hãy đi đi”. Thái tử lấy nước rửa tay cho người Ba-la-môn, rồi kéo tay con cho người Bà-la-môn dắt đi.

    Hai trẻ không chịu đi, chúng trở lại trước mặt cha, quỳ xuống và nói: “Thưa cha chẳng hay chúng con phạm tội gì những kiếp trước mà ngày nay chúng con phải chịu lắm điều thống khổ. Chúng con là dòng vua nay phải làm tôi tớ cho kẻ phàm phu. Trước mắt cha, chúng con xin sám hối các tội lỗi có lẽ nhờ đó sự phiền não và nghiệp chướng của chúng con sẽ được tiêu trừ và hạnh phúc lại đặng phát khởi, mong sao đời này sang đời khác chúng con không còn gặp phải bước gian truân như thế nữa”. Đông cung nói với hai con: “Cả thảy ái tình đều là ảo mộng, một ngày kia phải hủy hoại; vạn vật đều vô thường mấy ai giữ trọn vẹn một vật chi nơi trần thế”. Hai con hãy đi đi, chẳng nên dùng dằng nữa, chừng nào cha đắc đạo cha sẽ độ cho hai con”. Hai trẻ mắt đỏ ngầu nói với cha: “Xin cha trao lời vĩnh biệt của hai con lại cho mẹ con, chúng con quá đau lòng vì nghĩa mẹ con xa cách đời đời, lại không giáp mặt tỏ phân một lời trong khi mẹ bắc con nam. Chẳng còn nghi gì nữa, cũng bởi tiền căn nghiệp báo của chúng con, nên nay chúng con phải chịu vậy. Chúng con khi nghĩ đến mẹ chúng con về thấy mất hai con, người sẽ khổ tâm, đau đớn, sầu não chẳng cùng, lo cho thân chúng con phải chịu đói rách, phiêu lưu nơi đất khách”. Người Bà-la-môn nói: “Tôi già yếu, hai trẻ bỏ chạy tôi theo mẹ chúng nó, tôi lụm cụm theo bắt chúng nó sao được. Xin Đông cung trói nó giùm tôi”.

    Thái tử liền trói hai con giao cho người Bà-la-môn dắt đi, nhưng hai đứa nhỏ cưỡng lại chẳng chịu, người Bà-la-môn mới đánh chảy máu. Đau đớn thay cho Thái tử, thấy tình cảnh như vậy động lòng sa nước mắt. Cả trái đất đều rung động. Đông cung và cầm thú theo sau đưa đón hai trẻ, tới chừng biệt dạng mới trở về. Các loài lục súc trở lại chỗ cũ hai trẻ thường chơi, thấy cảnh chẳng thấy người xúc động rên than thảm thiết, lăn lộn dưới đất. Người Bà-la-môn dẫn hai đứa nhỏ đi được xa xa, dọc đường đứa trai vấn dây trói vào cây không chịu đi, chủ ý chờ mẹ nó đến cứu. Người Bà-la-môn nỗi giận lấy cây đánh nhừ tử, đến chừng chúng nó xin thôi đánh, chịu đi mới nới tay. Hai đứa nhỏ ngước mắt lên trời vái rằng:

    Thần linh ơi! Hỡi thần linh ôi!

    Hoan hỷ mách dùm mẹ chúng tôi

    Xót dạ con đi sầu chất chứa

    Đau lòng mẹ ở lụy quên thôi

    Chạnh tình nuôi dưỡng chưa thù đáp

    Đoái nghĩa cưu mang chẳng đắp bồi

    Ở biết bao giờ cho rảnh nghiệp?

    Cuộc đời thiết tưởng bạc hơn vôi.

    Cũng ngay lúc đó, Công chúa ở trên núi nháy mắt khó chịu, bà lấy làm lạ và nghĩ: Thuở giờ tôi chẳng hề có cảm động thái quá như hôm nay, chắc hai trẻ mắc phải tai nạn rồi. Bà liền để giỏ trái cây lại đó, hối hả trở về.

    Khi Công chúa về, thấy Đông cung ngồi một mình không có hai con, bà vô lều tranh kiếm không có, bà lại trở ra mé rạch, chỗ chúng hay chơi giỡn, cũng không thấy. Bà chỉ thấy man, sư tử, khỉ, mấy thứ thường chơi với nó mà thôi. Bà Mạn-trà trở lại chỗ Thái tử ngồi và hỏi hai con ở đâu? Thái tử không nói. Bà lại hỏi nữa: “Khi hai con ở xa thấy tôi đem trái về chúng nó chạy nhào lăn dướI đất, rồi lồm cồm chổi dậy nhảy nhót reo “Mẹ về”. Khi chúng nó thấy tôi ngồi ở đâu thì đến ngồi kề một bên, thấy bụi bặm dính mình tôi liền phủi. Bây giờ tôi không thấy con tôi và chúng nó không lại gần tôi, nó ở đâu, ai bắt nó? Không thấy con tôi, lòng tôi đứt từng đoạn! Chỉ cho tôi biết con tôi đi đâu và đừng làm cho tôi phải cuồng tâm?”. Bà nói đi nói lại ba lần. Thái tử vẫn điềm nhiên không thốt một lời. Bà càng đau đớn hơn nữa, bà nói chua cay như vầy: “Mất con tôi còn chịu được, song sự lặng thinh của lang quân làm cho tôi thêm rối lọan”. Đông cung nói: “Có người Bà-la-môn ở xứ Câu-lưu đến xin hai con và tôi đã cho rồi”. Công chúa thoạt nghe quá cảm động, té xỉu xuống đất đau đớn khôn cùng. Đông cung nói: “Xin Công chúa hãy nguôi lòng. Phu nhân hãy nhớ lại việc xưa, hồi thuở Phật Để-Hòa-Kiệt-La ra đời. Lúc đó tôi là một người Bà-la-môn, tên là Ba-Sô-Vệ, còn Công chúa phu nhân là con gái Bà-la-môn tên là Tu-La-Đà, Công chúa cầm bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay 100 bạc. Tôi mua năm bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân lại lập nguyện như vậy: “Tôi nguyện cầu sao trong những kiếp vị lai tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự, dầu xấu xa tôi không hề xa chàng”. Tôi có nói với Công chúa rằng: “Nếu nàng muốn làm vợ tôi thì phải tuân theo chánh lý của tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực hành pháp bố thí, không hề thối chuyển cùng làm trái ý một ai. Trừ cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỷ”. Công chúa ưng chịu bằng lời. Nay tôi cho hai con, Vương phi lại làm rối lọan đến mối từ tâm của tôi”. Nghe Đông cung nói bà liền tỉnh ngộ; bà nhớ lại trong kiếp quá khứ, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của Thái tử.

    Đế Thích thấy Thái tử hành pháp bố thí Ba-la-mật-đa, cố ý thử lòng Thái tử. Ngài hóa thân làm người Bà-la-môn xấu xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt Thái tử và thốt rằng: “Đông cung ơi! Tôi hằng nghe Đông cung rất hoan hỷ làm các việc phước thiện và không hề từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ, vợ Đông cung”. Thái tử đáp: “Công chúa là người của Ngài”. Công chúa nói: “Nếu Thái tử cho tôi đi, lấy ai mà giúp đỡ Thái tử”. Đông cung nói: “Nếu tôi không cho Công chúa thì tôi không đạt được đạo vô thượng Ba-la-mật-đa”.

    Thái tử múc nước rửa tay cho người Bà-la-môn và dắt vợ cho người. Đế Thích đã nhận rõ được lòng Thái tử không còn tiếc việc chi. Các Thiên thần lại ca tụng lòng từ bi của Đông cung, tức thì trời đất tối tăm, thế giới đều rung động.

    Người Bà-la-môn dắt Công chúa ra đi, được bảy bước, trở lại trả Công chúa cho Thái tử. Thái tử hỏi: “Sao Ngài không giữ Công chúa cho Ngài? Công chúa thiếu nết na, tánh hạnh xấu chăng? Trong cả hoàng nữ, Công chúa là cực phẩm phu nhân, nàng là Công chúa của một nhà vua kim thời. Cũng vì tôi mà nàng phải nhảy vào dầu sôi, trong đống lửa đỏ, phải chịu ăn uống kham khổ, không hề than thở vì đau khổ phong trần; trong mỗi sự hành động, nàng rất ân cần chú ý và gương mặt vẫn thư thái tươi cười. Ngài nên đem nàng đi, tôi mới được an vui?”. Người Bà-la-môn nói với Thái tử: “T a không phải là Bà-la-môn, ta là Thiên Đế Thích. Ta đến thử lòng Ngài. Vậy bổn nguyện của hai Ngài là chi. Ta sẽ cho được toại nguyện?”. Nói xong Đế Thích hoàn nguyên diện mạo oai nghi, dung nhan tuyệt mỹ. Công chúa đãnh lễ Ngài và cầu xin ba điều: “Trước nhất xin Ngài làm sao cho người Bà-la-môn đem hai con về bán tại bổn xứ, sau khi xin đừng cho chúng đói khát, sau nữa cho chúng tôi được về nước cho chóng”. Đế Thích đáp: “Bà sẽ được như nguyện”. Đông cung nói: “Kính Ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sanh đều được giải thoát và hết khổ về sự sanh, lão,bệnh, tử”. Đế Thích đáp: “Lời nguyện của Ngài thật cao thượng vĩ đại không chi hơn. Nếu Ngài muốn sanh cõi trời, làm vua Thượng thiên, làm Đại hoàng đế tại cõi trần trường thọ như bá, như tùng, thì tôi có thể làm được như ý; chớ cái oai linh tối yếu trong ba giới ra ngoài bản năng của tôi”. Đông cung tiếp: “Tôi tạm xin cho được giàu có muôn xe đặng bố thí hơn xưa. Tôi mong sao cho Hoàng phụ cùng các quan Đại thần, hồi tâm sum hiệp cùng tôi”. Đế Thích đáp: “B ản nguyện của Ngài sẽ được thành tựu”. Dứt lời Đế Thích biến mất.

    Trong khi ấy, người Bà-la-môn dẫn mấy đứa nhỏ về tới nhà. Vợ chàng ra đón và nhiếc rằng: “Thật chàng quá lớn to gan mới đem mấy trẻ nầy về đây. Nó là dòng dõi vua chúa, sao chàng lại tàn nhẫn đánh đập đến nỗi vết tích máu mủ đầy mình. Hãy tức khắc đem bán đi và kiếm đứa khác cho tôi”. Chồng nghe lời vợ đem bán hai đứa trẻ.

    Đế Thích thể theo lời nguyện của Công chúa, liền đổi ý cho người Bà-la-môn đưa qua nước Diệp Ba. Đến xứ ấy; các quan và dân nhìn biết con của Đông cung, cháu nội của đức Kin-thượng lớn nhỏ đều đồng lòng, thương xót liền vào tâu vua. Vua nghe nói lấy làm ngạc nhiên, cho đòi vào. Xa xa vừa chợt thấy Hoàng tôn; Thiên tử, Hoàng hậu, quần thần, cung phi đều khóc nức nở. Vua hỏi người Bà-la-môn làm sao có mấy trẻ nầy? Nó tâu: “Tôi xin Đông cung Thái tử”.

    Vua kêu cháu đến và muốn ôm, nhưng nó khóc không chịu lại gần. Vua hỏi giá cả. Người Bà-la-môn chưa kịp trả lời. Hoàng tôn nam tâu: “Trai định giá một ngàn bạc với một trăm bò cái, gái thì hai ngàn bạc với hai trăm bò cái”.

    Vua nói rằng: “Lẽ thường thì người ta yêu chuộng con trai hơn gái, sao trai lại rẻ giá hơn gái”. Hoàng tôn nói: “T âu Bệ hạ, những mỹ nữ của Bệ hạ không là quyến thuộc của Ngài, người thì hèn hạ, kẻ lại hoa đòi; nhưng ai được Hoàng thượng yêu vì được tặng phẩm tước, trang điểm mỹ lệ, ăn uống sung sướng! Ngài chỉ có một mụn con trai mà Ngài đày chốn non cao rừng rậm, còn Ngài thì sớm tối sung sướng với cung phi, chẳng chút đoái hoài tới nghĩa cha con. Đó rõ ràng biểu thị trai ít có giá trị hơn gái”.

    Thoạt nghe vua liền tỉnh ngộ, khóc than rằng: “Ta có tội cùng cháu, lẽ nào cháu chẳng chịu lại gần ta? Ghét ta hay sợ người Bà-la-môn?”. Hoàng tôn vội tâu: “Chúng con đâu dám tự phép ghét Hoàng thượng và chúng con tuy là con của vua chúa, nay lại là tôi tớ của kẻ phàm phu. Làm sao đứa nô bộc lại dám lòn dưới tay Hoàng thượng? Bởi vậy chúng con không thể tự tiện làm việc ấy”. Hoàng tôn dứt lời, vua thêm sầu muộn. Liền đó Thánh hoàng trả theo giá định của người Bà-la-môn, rồi kêu cháu, hai trẻ chạy lại vào lòng Ngài. Vua ôm cháu vuốt ve và hỏi: “Cha con ăn mặc những gì trên núi”. Hai cháu nói: “Cha con ăn toàn lê-hoặc, mễ cốc, mặc áo vải quần nâu, có trăm thứ chim làm cho cha con được giải khuây và không chút chi phiền”. Vua cho người Bà-la-môn về. Hoàng tôn tâu: “Người Bà-la-môn đói khát, xin Thánh hoàng cho người một bữa cơm”. Vua nói: “Vậy chớ con không giận nó sao, lại còn cho nó ăn uống nữa?”. Hoàng tôn tâu: “Cha hai con ham tu phước huệ, đến nỗi không còn vật chi bố thí nên đem hai con cho người, người là chủ của con, chúng con rất tiếc chưa làm nô lệ cho người, để khỏi phụ lòng bác ái của cha con. Chúng con sao đành để người đói khát. Cha chúng con còn cho chúng con được thay, huống chi bố thí một bữa cơm có lẽ nào Hoàng thượng từ chối”.

    Vua lại cho sứ giả đi triệu Đông cung về. Được lệnh sứ thần đi tìm Thái tử; tới núi Đàn-đặc liền tuyên đọc Thánh chỉ và xin Đông cung lập tức về cung. Đông cung đáp: “Hoàng thượng đã đày ta ở núi nầy 12 năm và còn một nửa mới mãn hạn, chứng nào khâm kỳ viên mãn ta sẽ về chẳng muộn”.

    Sứ giả về tâu lại cho vua nghe, rồi Thánh hoàng tự tay hạ bút đề thơ cho Thái tử như vầy: “Con thật đáng vị hiền nhân, nên lấy dạ khoan hồng quên chuyện đã qua. Con giận dữ có ích lợi gì, mà không quay về tổ quốc? Cha đợi con về đặng đoàn viên cọng hưởng sự an vui”. Khâm sứ mang bức thư đem đưa cho Đông cung. Tiếp chiếu, Thái tử liền quỳ lạy trước mật chiếu, đoạn lui lại, đi vòng mật chiếu bảy vòng rồi mới khai thơ ra đọc.

    Hay tin Thái tử sắp hồi trào, các loài cầm thú nhảy nhót cảm động, kêu gào tha thiết, suối khe bỗng cạn, thú cái dứt sữa, chim chóc hót tiếng như thảm sầu. Hy hữu thay cho loài cầm thú cũng biết đau thương trong khi vĩnh biệt? Đông cung và Công chúa đổi y phục lên đường.

    Nghe tin Đông cung về nước, vua nước địch dạy thám tử bắt bành vàng cho bạch tượng, lại đem theo một ô vàng đựng bạc, một ô bạc đựng vàng, đón mừng Thái tử xin trả lại và tỏ dấu ăn năn hối ngộ cùng Thái tử như vầy: “Trước kia mê muội, tôi cố ý xin Ngài voi báu, vì tôi nên Ngài bị đày ở chốn thâm sâu rừng rậm. Nay nghe tin Ngài về nước, tôi rất vui mừng cho khâm sứ đưa bạch tượng trả lại cho Ngài cùng dưng chút lễ bạc vàng, rất trông mong được Ngài hạ cố và thứ lỗi cho tôi”. Đông cung nói: “Giá như một người kia sắm sửa các thức ăn đủ mùi vị và dưng cho ai dùng, người ấy ăn vô rồi nhả ra, thức ăn đó có còn hương vị tinh khiết chăng? Họ lượm ăn lại đặng chăng? các việc bố thí của tôi khác chi đồ ăn kia, thế thì tôi không hề bắt voi lại. các quan hãy lên tượng mà về và nói có lời cảm tạ nhà vua”.

    Thám tử lên voi về tâu lại nhà Vua. Cũng nhờ câu chuyện con voi mà vua nước địch được tỉnh ngộ, trở nên người hiền, thành bậc trượng phu. Vua quan và dân lại tín ngưỡng đạo Bồ-đề và bắt đầu hành pháp vô thượng Ba-la-mật-đa.

    Hoàng thượng, cha của Đông cung, ngồi voi đón con. Thái tử chợt thấy vội trổi bước, đảnh lễ sát đất rồi theo vua cha. Cả thảy văn quan, võ tướng và lê dân rất hoan hỷ đồng rải bong đốt hương trầm, treo cờ lọng, rưới nước thơm dưới đất, làm lễ tiếp rước Đông cung một cách long trọng linh đình.

    Đông cung đã về tới thành liền vào lạy và vấn an Hoàng hậu.

    Hoàng thượng giao cho Đông cung hết thảy kho tàng trong nước. Thái tử đem ra bố thí cho thập phương và còn nhân đức hơn xưa. Sự bố thí của Ngài viên mãn nên sau nầy Ngài sẽ chứng quả Niết bàn.

    Đức Chánh Đẳng nói với ông A-Nan: “Đó là cách ta hành pháp bố thí trong một tiền kiếp của ta. Đông cung Tu-Đại-Noa là ta đó vậy; cha Đông cung lúc đó là cha ta bây giờ, tức Hoàng đế Tịnh Phạn; mẹ Đông cung khi ấy hiện giờ là bà Ma-Da; Công chúa khi trước hiện nay là Da-Du-Đà-La, Ông A-Châu-Đà bây giờ là Mục-Liền-Liên; Đế Thích là Xá Lợi Phất; thợ săn lúc ấy hiện nay là A Nan; con trai Da-Lị hiện giờ là con trai ta La Hầu La; con gái Kê-Na-Diên bây giờ là mẹ của La hán Mật-Li; người Bà-la-môn xin hai trẻ bây giờ là Đề Bà Đạt Đa, vợ của Bà-la-môn ấy là Chiên-Đà-Ma-Na”.

    Đó là sự phiền não và đau đớn, ta chịu trong vô lượng kiếp và cũng trong vô số kiếp ta lại làm luôn luôn như thế.

    Phật nói cùng ông A Nan: “A Nan, ngươi hãy luôn luôn gìn giữ kinh này đặng diễn giải cho Tăng chúng nghe”. Đó là cách của Bồ tát hành Bố thí Ba-la-mật-đa.

    Phỏng theo kinh “Đông cung Tu-Đại-Noa trong quyển “6 phép Ba-la-mật”

    II. SUY NGHIỆM:

    Qua toàn bộ câu chuyện, đã cho chúng ta thấy được rằng: Ngoài vấn đề Đức Thế Tôn kể lại chuyện tiền thân của mình nhằm để dạy cho chúng đệ tử cách thực hành hạnh Bố thí Ba-la-mật-đa. Câu chuyện về Thái tử Tu-Đại-Noa đã chứng thực cho chúng ta thấy:

    • Lòng từ bi vô hạn của đức Thế Tôn đối với chúng sanh, không những sau khi Ngài Thành đạo mà kể cả trong tiền kiếp của Ngài.
    • Thành quả của bài học tự thân với những kết quả của tâm bất thối chuyển khi thực hành hạnh bố thí ba-la-mật-đa đối với Thái tử Tu Đại Noa: cầm thú và cảnh núi rừng nơi Thái tử Tu Đại Noa đi đày; lòng mến mộ lẫn kính phục của quan, dân nước Diệp Ba; Sự tỉnh ngộ và hướng thiện của Vua quan và nhân dân nước địch của nước Diệp-ba..
    • Những cọng hưởng khi được sống gần Thiện tri thức: Công chúa Mạn-Trà, cũng như hai đứa con của Thái tử Tu Đại Noa: chánh kiến và tâm từ bi được huân tập và phát triển.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Thiền tọa

    Tham khảo thêm

    Sổ tức quán

    Em cần biết

    Sổ tức quán là phép đếm hơi thở để tâm được yên lặng, tập trung, bớt suy nghĩ lăng xăng. “Sổ” là đếm, “tức” là hơi thở.

    Cách tập

    • Ngồi thẳng lưng (kiết già, bán già hoặc ngồi trên ghế), hai tay để trên đùi, mắt khép hờ.
    • Thở tự nhiên, nhẹ nhàng bằng mũi.
    • Hít vào, thở ra, đếm “một”; hít vào, thở ra, đếm “hai”… cho đến “mười”, rồi bắt đầu lại từ “một”.
    • Khi đang đếm mà tâm nghĩ sang chuyện khác, hoặc đếm quá mười, thì nhẹ nhàng trở về đếm lại từ “một”, không bực bội.

    Em thực hành

    • Mỗi ngày tập 5 – 10 phút, buổi sáng hoặc trước khi ngủ.

    Gợi ý hoạt động

    • Đầu mỗi buổi sinh hoạt, cả Đoàn ngồi tĩnh tâm và đếm hơi thở 3 phút, bắt đầu và kết thúc bằng một tiếng chuông.

    Tham khảo thêm

    Thiền tọa

    Tư thế

    • Ngồi trên bồ đoàn hoặc gối dày cho mông cao hơn gối; ngồi kiết già (hai chân chéo, bàn chân đặt lên hai đùi) hoặc bán già (một bàn chân đặt lên đùi bên kia); người mới tập có thể ngồi xếp bằng.
    • Lưng thẳng tự nhiên, vai thả lỏng, cằm hơi thu vào; hai bàn tay đặt ngửa trên lòng, tay phải trên tay trái, hai đầu ngón cái chạm nhẹ nhau.
    • Mắt khép hờ nhìn xuống phía trước, miệng ngậm, lưỡi chạm nhẹ chân răng trên.

    Thực tập

    • Theo dõi hơi thở hoặc đếm hơi thở như bài sổ tức quán.
    • Bắt đầu 10 – 15 phút, tăng dần.

    Xả thiền

    • Thở sâu vài hơi, cử động nhẹ ngón tay, ngón chân, xoa hai bàn tay cho ấm rồi xoa mặt, xoa chân trước khi đứng dậy.

    Lưu ý

    • Nên tập theo sự hướng dẫn của quý Thầy, Cô.

Năm II · Văn nghệ4 bài

  1. 1Âm nhạc: giọng trưởng, gam thứ, giọng thứ; bài tập ký xướng âm

    Tham khảo thêm

    Âm nhạc: quãng, gam trưởng, cung, nửa cung, dấu hóa, đảo phách, nghịch phách

    Cung và nửa cung

    • Giữa Mi – Fa và Si – Đô là nửa cung; giữa các nốt liền nhau khác là một cung.

    Quãng

    • Quãng là khoảng cách cao độ giữa hai nốt; đếm cả nốt đầu và nốt cuối. Ví dụ: Đô – Mi là quãng 3, Đô – Sol là quãng 5, Đô – Đô cao là quãng 8.

    Gam trưởng

    • Gam là chuỗi 8 nốt đi liền bậc. Gam Đô trưởng: Đô – Rê – Mi – Fa – Sol – La – Si – Đô.
    • Công thức gam trưởng: cung – cung – nửa cung – cung – cung – cung – nửa cung.

    Dấu hóa

    • Dấu thăng (♯): nâng cao nốt nhạc lên nửa cung.
    • Dấu giáng (♭): hạ thấp nốt nhạc xuống nửa cung.
    • Dấu bình (♮): trả nốt nhạc về cao độ bình thường.

    Đảo phách và nghịch phách

    • Đảo phách: âm bắt đầu ở phách nhẹ (hoặc phần nhẹ của phách) và kéo dài sang phách mạnh kế tiếp.
    • Nghịch phách: âm vang lên ở phách nhẹ, còn phách mạnh là dấu lặng.

    Gợi ý hoạt động

    • Hát gam Đô trưởng đi lên, đi xuống; tìm trong bài ca quen thuộc những chỗ có đảo phách, nghịch phách.

    Tham khảo thêm

    Âm nhạc: giọng trưởng, gam thứ, giọng thứ

    Giọng trưởng

    • Giọng là gam được xác định bởi một nốt chủ (chủ âm). Bài hát giọng Đô trưởng thường kết thúc ở nốt Đô; giọng trưởng thường tươi sáng, vui khỏe.

    Gam thứ và giọng thứ

    • Gam La thứ tự nhiên: La – Si – Đô – Rê – Mi – Fa – Sol – La; công thức: cung – nửa cung – cung – cung – nửa cung – cung – cung.
    • Giọng thứ thường có màu sắc buồn, trầm lắng, tha thiết.
    • Đô trưởng và La thứ dùng chung hóa biểu (không có dấu thăng, giáng), gọi là hai giọng song song.

    Gợi ý hoạt động

    • Hát gam Đô trưởng và La thứ để nghe sự khác nhau; đoán giọng của các bài ca quen thuộc.
  2. 2Sân khấu: múa những điệu đơn giản; sơ lược ánh sáng sân khấu; trình bày biểu ngữ

    Tham khảo thêm

    Biết vài điệu múa đơn giản

    Hướng dẫn

    • Chọn các bài múa minh họa cho bài hát sinh hoạt ngắn của ngành Thiếu, động tác đơn giản, lặp lại.
    • Tập theo nhóm: Huynh trưởng làm mẫu từng câu, ghép thành cả bài.
    • Động tác trang nhã, phù hợp với tinh thần GĐPT; tập đều tay, đều bước.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng tập một bài múa ngắn để trình diễn trong lửa trại.

    Tham khảo thêm

    Sân khấu: múa, ánh sáng sân khấu, trình bày biểu ngữ

    Ánh sáng sân khấu

    • Đèn chiếu chính phía trước để thấy rõ mặt người diễn; đèn màu tạo không khí (vàng ấm cho cảnh chùa, xanh cho cảnh đêm, đỏ cho cảnh lửa).
    • Tắt sáng giữa các cảnh để thay cảnh; không chiếu đèn thẳng vào mắt khán giả.

    Trình bày biểu ngữ

    • Nội dung ngắn gọn; chữ to, rõ, nét đều; màu chữ nổi trên màu nền.
    • Treo ngay ngắn, đủ cao, ở chỗ dễ nhìn; kiểm tra chính tả kỹ trước khi kẻ.
  3. 3Hội họa: làm hộp gói quà; thiết kế sân khấu buổi văn nghệ có chủ đề

    Tham khảo thêm

    Làm hộp gói quà

    • Vẽ hình trải của hộp (6 mặt và các mép dán) lên giấy bìa; cắt, gấp theo nếp, dán mép; trang trí bằng giấy màu, nơ.

    Thiết kế sân khấu

    • Xác định chủ đề buổi văn nghệ (Phật Đản, Vu Lan, Chu niên…).
    • Vẽ phác phông chính: tựa chương trình, hình ảnh chủ đạo; bố trí chỗ đứng cho ca đoàn, người dẫn chương trình.
    • Chọn màu sắc hài hòa với chủ đề; dùng vật liệu đơn giản: giấy, vải, hoa, đèn.
  4. 4Thi văn: thực hiện kỷ yếu cho một kỳ Trại Đoàn

    Tham khảo thêm

    Nội dung kỷ yếu

    • Lời mở đầu của Ban Huynh trưởng; danh sách ban quản trại, các Đội, Chúng.
    • Chương trình trại; tường thuật từng ngày; cảm nghĩ của trại sinh; thơ, bài hát sáng tác; hình ảnh, tranh vẽ.

    Thực hiện

    • Lập ban biên tập, phân công viết bài, chụp hình ngay trong trại; tập hợp, sửa bài, dàn trang; in hoặc làm bản điện tử gửi các thành viên.

Năm II · Hoạt động thanh niên7 bài

  1. 1Gút: phân loại các loại gút và gút biến thể

    Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    1. Chuẩn bị:

    Dây làm gút (2 loại lớn, nhỏ).

    2. Giờ học:
    a. Khái niệm:

    Đó là cách thắt buộc dây, sử dụng dây cho nhu cầu trong đời sống.

    Thắt buộc có phương pháp nhanh chóng, chắc chắn, ít tốn dây, dễ tháo gỡ,..

    b.Ích lợi:
    • Rèn tính tháo vát, nhanh nhẹn
    • Biết chọn dây và giữ gìn dây
    • Ứng dụng tạo tiện nghi trong đời sống
    c. Các gút cần biết:
    • Gút sơn ca: thuộc loại gút treo, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút quai chèo: dùng buộc chặc dây vào cọc, neo thuyền, buộc dây cái lều vào đầu gậy, khóa dây.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút thợ dệt: dùng nối chỉ hay nối 2 đầu dây không bằng nhau.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài
    • Gút kẻ chài: thuộc nhóm gút nối, để nối chỉ, nối các loại dây trơn, dây ngâm trong nước.
    Hình minh họa: Gút dây : Sơn ca – Quay chèo – Thợ dệt – Kẻ chài

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Cánh Mềm do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    I. GÚT GHẾ ĐƠN

    1. Công dụng:

    Loại gút cấp cứu dùng đưa người lên hoặc xuống một bức tường cao, giếng sâu, nhưng không có một nấc thang nào để leo.

    2. Cách làm:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cũng không thể cắt bỏ hay tháo.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    II. GÚT CẲNG CHÓ

    1. Công dụng:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cứng không thể cắt bỏ hay tháo.

    2. Cách làm:
    • Cách thứ nhất:

    Khóa gút cẳng chó

    Khóa con sẽ.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    • Cách thứ hai:

    Khóa buộc vấn.

    Khóa quai chèo sơn ca.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    III. GÚT GHẾ KÉP

    1. Công dụng:

    Như công dụng gút ghế đơn nhưng có hai vòng dây chạy hay không chạy.

    2. Cách làm:

    Ghế kép không chạy.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    3. Cách sử dụng:

    Vòng lớn làm vòng ngoài vòng nhỏ tựa qua lưng làm vòng tựa qua nách, khi đưa xuống hay kéo lên phải từ từ.

    Có một gốc cây hay trụ làm vòng hãm để khỏi tuột tay rất nguy hiểm.

    Ghế kép chạy có thể nới hay thâu lại vòng dây tùy theo cỡ người

    IV. GÚT THÂU DÂY

    A. Nút xúc xích đơn

    1. Công dụng:

    Ngoài việc thâu ngắn dây còn dùng trang trí vành nón, dây còi, đẹp mà dễ tháo.

    2. Cách làm:

    Thoạt đầu làm gút thong lọng, sau đó đưa vòng khoen vào vòng trước tạo nên vòng sau, cứ thế cho đến cuối dây mới kéo qua hẳn vòng.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    B. Nút xúc xích kép:

    Cách làm (như hình vẽ, làm như xúc xích đơn nhưng vòng khoen dưa vào lần lượt bên dây này đến bên dây kia)

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    C. Nút Garrot

    1. Công dụng:

    Dùng căng dây bị chùng, buộc chắc phía trên vết thương để cầm máu hoặc ngăn không cho chất độc về tim.

    2. Cách làm:

    Dùng 1 que cứng xoắn dây nhiều vòng cho đến khi căng thì nẹp lại.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút cẳng ngỗng:

    1. Công dụng:

    Dùng cườm vành cổ, quấn đầu sợi dây lớn hơn hoặc để làm tăng thêm sự chắc chắn của một gút khác.

    2. Cách làm:
    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút ghế anh:

    1. Công dụng:

    Như gút ghế kép hoặc ghế đơn nhưng dùng cứu người trong đám cháy hay dưới giếng lên.

    2. Cách làm:
    • Bắt đầu bằng thòng lọng.
    • Rồi bằng hoa hồng, khóa bằng sơn ca.
    3. Cách sử dụng:

    Phần gút thòng lộng hay gút hoa hồng, ở giữa dùng để gối đầu nạn nhân. Hai vòng hai bên luồn vào hai tay sát nách.

    Gút ngạnh trê:

    1. Công dụng:

    Dùng nối lạt hay mây.

    2. Cách làm:

    Ngạnh trê đơn

    Ngạnh trê kép.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Gút – Đan giỏ, đan phên – Làm trại sàn

    Gút

    • Ôn lại tất cả các gút đã học ở ngành Đồng và các bậc ngành Thiếu (bài ở trên); các gút nút áo, lợn, hoa, thoát hiểm, chai, hãm, thang dây anh chị trưởng hướng dẫn theo tài liệu Hoạt động thanh niên của Ban Hướng Dẫn.
    • Gút bằng tre, mây: dùng nan tre, sợi mây thay dây để buộc, ghép các cây tre khi làm trại.

    Đan giỏ, đan phên

    • Chẻ tre thành nan đều, vót mỏng; đan lóng mốt (một nan lên, một nan xuống) hoặc lóng đôi; giỏ thì dựng nan làm khung đáy rồi đan vòng lên.

    Trại sàn

    • Dựng 4 cột chắc, gác khung ngang cách mặt đất 0,5 – 1 mét, ghép tre làm mặt sàn, buộc chặt bằng gút; lợp mái hoặc căng lều trên sàn. Dùng nơi đất ẩm, nhiều côn trùng.

    Tham khảo thêm

    Gút: phân loại các loại gút, gút biến thể

    Phân loại theo công dụng

    • Gút nối dây: nối hai sợi dây với nhau (ví dụ gút dẹp, gút thợ dệt).
    • Gút buộc vào vật: buộc dây vào cọc, cây (ví dụ gút cọc chèo, gút trục gỗ).
    • Gút làm vòng: tạo vòng không chạy để kéo, cứu người (ví dụ các gút ghế).
    • Gút rút ngắn, chặn đầu dây (ví dụ gút cẳng chó, gút số 8).

    Gút biến thể

    • Từ một gút căn bản có thể biến đổi để dễ tháo, chắc hơn, hoặc dùng cho việc riêng; anh chị trưởng giới thiệu theo tài liệu Hoạt động thanh niên.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội làm một bảng mẫu gút trên tấm gỗ, ghi tên và công dụng, treo ở góc Đội.
  2. 2Thông tin: ôn các ký hiệu thông tin và các loại mật thư

    Truyền tin : Bảng Morse

    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse
    • Tất cả bảng Morse. – Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    • Tất cả bảng Morse.
    • Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Mật thư – Cách dùng mật thư

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    I. EM CẦN BIẾT:

    Mật thư là 1 bản tin, 1 bức thư mật được viết bằng loại ngôn ngữ quy ước.

    Mật thư có nhiều cách viết. Mỗi loại đều có khóa giúp người nhận mật thư giải mã được.

    Loại mật thư núi và khung được xây dựng trên qui ước sẵn có.

    1. Mật thư Núi:

    Sử dụng kí hiệu Morse để ghi: te (_) dung dạng núi cao, tích (.) dung dạng đồi thấp để ghi, khoảng cách là 1 gạch ngang.

    Ví dụ: Hoa sen

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư

    Biến dạng của loại này là cỏ cây, hoa lá, nốt nhạc…

    2. Mật thư Chuồng – Khung:

    Loại vuông gồm 2 ngang, 2 dọc. Muốn giải các em phải thuộc mẫu tự. Thông thường là bảng mẫu tự Anh, Pháp, gồm 26 chữ cái. Các chữ được quy ước vị trí trong từng ô của chuồng.

    Có thể dung mẫu tự Việt nhưng phải có chú thích (khóa mở)

    Ví dụ: vũ

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    Loại này có biến thể, dung chuồng 36 hoặc khóa gợi ý:

    Khóa: Một ô thứ tự 4 chàng, Chín ô 36 có chục nàng ở chung.

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    II. EM THỰC HÀNH:

    Viết tiếng reo của đoàn em bằng dạng mật thư Núi. Kẻ lại ô chuồng có 26 chữ và lập mật thư cho tên của đoàn em.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thông tin: khói, mặt trời, ám hiệu, Morse 16 – 33 chữ/phút, thảo mật thư

    Truyền tin bằng khói

    • Nhóm đống lửa có nhiều khói (lá tươi); dùng tấm chăn ướt phủ lên rồi giở ra để tạo cụm khói ngắn (tích) và dài (te).

    Truyền tin bằng ánh mặt trời

    • Dùng gương phản chiếu ánh nắng về phía người nhận; nghiêng gương chớp ngắn, chớp dài theo bảng Morse. Không chiếu vào mắt người khác.

    Luyện Morse nhanh

    • Mục tiêu đánh và nhận 16 – 33 chữ trong một phút; tập mỗi ngày vài phút, tăng dần tốc độ.

    Thảo mật thư

    • Tự đặt khóa mật thư: đổi chữ theo số thứ tự, đọc ngược, chữ cách quãng, ô vuông, núi, chuồng heo…; ghi rõ “khóa” gợi ý để người nhận giải được.

    Luyện trí nhớ

    • Nghe một bức điện dài 15 tiếng, ghi nhớ không chép, sau 2 giờ viết lại đúng nguyên văn.
  3. 3Dấu đi đường: thuộc bảng hiệu lưu thông đường bộ

    Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Bậc Sơ Thiện

    • Biển báo gồm 5 nhóm: biển báo cấm (hình tròn viền đỏ), biển báo nguy hiểm (hình tam giác viền đỏ, nền vàng), biển hiệu lệnh (hình tròn nền xanh), biển chỉ dẫn (hình vuông hoặc chữ nhật nền xanh) và biển phụ.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi nhận biết biển báo bằng thẻ hình giữa các Đội, Chúng.
  4. 4Cấp cứu: sơ cứu những trường hợp thông thường

    Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:

    Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.

    2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):

    Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.

    3. Cách dùng thuốc đỏ:

    Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …

    Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.

    4. Băng bàn tay bằng khăn tay:

    Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.

    5. Băng bàn chân bằng khăn tay:

    Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    6. Băng đầu:

    Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: băng đầu, hô hấp nhân tạo, đuối nước, ngạt, hộp cứu thương

    Băng đầu

    • Dùng khăn tam giác: đặt cạnh dài ngang trán, đỉnh khăn phía sau gáy; vòng hai đầu khăn ra sau, bắt chéo đè lên đỉnh khăn, vòng trở ra trước trán, thắt gút dẹp; gấp đỉnh khăn lên giắt vào.

    Đuối nước

    • Không biết bơi thì không nhảy xuống cứu; ném phao, dây, cây sào cho người bị nạn bám vào, kêu người lớn giúp.
    • Đưa người lên bờ, gọi ngay cấp cứu 115; kiểm tra người bị nạn có thở không.

    Bị ngạt (khói, khí độc, nắng nóng)

    • Đưa người bị nạn ra nơi thoáng khí, nới lỏng quần áo; nếu không tự thở được thì làm hô hấp nhân tạo và gọi cấp cứu.

    Hô hấp nhân tạo

    • Gọi cấp cứu 115 trước tiên, hoặc nhờ người khác gọi.
    • Đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng; ép tim ở giữa ngực, ấn sâu và nhanh khoảng 30 lần, rồi ngửa đầu, nâng cằm, thổi 2 hơi vào miệng; lặp lại cho đến khi có người cứu hộ đến.
    • Đây là kỹ năng phải được tập với người hướng dẫn có chuyên môn; Đoàn nên mời Hội Chữ thập đỏ hoặc nhân viên y tế đến hướng dẫn thực hành trên mô hình.

    Hộp cứu thương

    • Gạc, băng cuộn, băng tam giác, băng dán, bông, dung dịch sát trùng, nước muối sinh lý, kéo, kẹp, găng tay, nhiệt kế.
    • Thuốc uống chỉ dùng theo hướng dẫn của nhân viên y tế; kiểm tra hạn dùng thường xuyên.

    Đo nhiệt độ cơ thể

    • Dùng nhiệt kế điện tử đặt ở nách hoặc theo hướng dẫn của loại nhiệt kế; trên 38 độ là sốt, báo ngay Huynh trưởng và gia đình.

    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: các trường hợp thường gặp

    Nguyên tắc chung

    • Giữ bình tĩnh, bảo đảm an toàn cho mình trước, gọi ngay cấp cứu 115 và báo Huynh trưởng.

    Một số trường hợp

    • Ngất, bất tỉnh: đặt nằm ngửa nơi thoáng, kê chân cao; nếu không thở được thì làm hô hấp nhân tạo.
    • Bỏng: làm mát vùng bỏng bằng nước sạch 15 – 20 phút; không bôi kem đánh răng, mỡ, nước mắm; che bằng gạc sạch.
    • Say nắng: đưa vào bóng mát, nới quần áo, chườm mát, cho uống nước từng ngụm nếu tỉnh.
    • Bị lạnh: đưa vào chỗ kín gió, thay đồ khô, ủ ấm.
    • Co giật: dọn vật cứng xung quanh, không nhét vật gì vào miệng, đặt nằm nghiêng sau cơn co giật.
    • Ngộ độc: không tự ý cho nôn; giữ lại mẫu thức ăn, thuốc nghi ngờ; đưa ngay đến cơ sở y tế.
    • Chó, mèo cắn: rửa vết thương bằng xà phòng và nước sạch nhiều lần trong khoảng 15 phút, đưa đi tiêm phòng dại.
    • Rắn cắn: giữ nạn nhân nằm yên, bất động chi bị cắn, tháo nhẫn, vòng; không rạch, không hút nọc; đưa ngay đến bệnh viện.
    • Trặc, gãy xương: không nắn; cố định bằng nẹp (cây, báo cuộn) vượt qua hai khớp trên và dưới chỗ đau, rồi đưa đi khám.

    Lưu ý

    • Đoàn nên mời nhân viên y tế hoặc Hội Chữ thập đỏ hướng dẫn thực hành; nội dung trên chỉ để tham khảo.
  5. 5Trại: các loại trại cấp Đoàn và Đội Chúng

    Tham khảo thêm

    Các loại trại thường gặp

    • Trại họp bạn: nhiều đơn vị cùng sinh hoạt, giao lưu.
    • Trại huấn luyện: trại Tuyết Sơn, Anoma – Ni Liên cho Đầu Thứ Đàn, Đội Chúng trưởng; các trại huấn luyện Huynh trưởng.
    • Trại du khảo: tham quan, tìm hiểu di tích, danh lam.
    • Trại công tác: làm công tác xã hội ở một địa phương.
    • Trại bay: ngắn ngày, gọn nhẹ, di chuyển nhiều nơi.
    • Trại Đội, Chúng: do Đội, Chúng tự tổ chức dưới sự hướng dẫn của Huynh trưởng.

    Tổ chức một kỳ trại Đội, Chúng

    • Mục đích, chương trình, địa điểm, phân công, dụng cụ, ẩm thực, an toàn, xin phép gia đình và Ban Huynh trưởng.
  6. 6Thể dục thể thao: chơi thuần thục một bộ môn thông thường

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn

    • Mỗi em chọn một môn: bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bóng bàn, bơi lội, võ thuật…; tập đều đặn để chơi thuần thục và hiểu luật chơi.
    • Biết hướng dẫn môn mình giỏi cho các em nhỏ trong Đoàn.
  7. 7Vạn vật: phân loại các nhóm cây

    Tham khảo thêm

    Phân loại theo công dụng

    • Cây lương thực: lúa, ngô, khoai, sắn.
    • Cây rau, củ: rau muống, cải, bầu, bí.
    • Cây ăn quả: xoài, cam, chuối, mít.
    • Cây công nghiệp: cao su, cà phê, chè, mía, bông.
    • Cây thuốc: nghệ, gừng, ngải cứu, trầu không.
    • Cây lấy gỗ: lim, xoan, keo, bạch đàn.
    • Cây cảnh, cây bóng mát.

    Phân loại theo thân

    • Thân gỗ, thân thảo, thân leo, thân bò.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội làm sổ tay thực vật: ép lá, ghi tên, nhóm và công dụng của 20 loại cây quanh chùa, nơi ở.

Năm II · Hoạt động xã hội4 bài

  1. 1Phòng hỏa: tổ chức đội cứu hỏa

    Tham khảo thêm

    Phòng hỏa: phòng cháy, chữa cháy

    Phòng cháy

    • Không để vật dễ cháy gần bếp, đèn, nhang đèn bàn thờ; tắt bếp, tắt điện khi ra khỏi nhà.
    • Không cắm quá nhiều thiết bị vào một ổ điện; không để trẻ nhỏ chơi với lửa.
    • Ở trại: lửa trại, bếp phải có người trông, có sẵn nước, cát; dập tắt hẳn trước khi rời đi.

    Khi có cháy

    • Hô to báo động, gọi 114 (cứu hỏa).
    • Ngắt điện nếu an toàn; dùng bình chữa cháy khi đám cháy còn nhỏ: rút chốt, hướng vòi vào gốc lửa, bóp cò, quét qua lại.
    • Không dùng nước dập đám cháy do điện, xăng dầu.
    • Thoát hiểm: cúi thấp người, bịt mũi bằng khăn ướt, đi theo lối thoát hiểm, không quay lại lấy đồ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mời đội phòng cháy địa phương đến hướng dẫn thực hành bình chữa cháy cho Đoàn.

    Tham khảo thêm

    Phòng hỏa: tổ chức đội cứu hỏa

    Tổ chức đội cứu hỏa của Đoàn

    • Lập đội gồm một đội trưởng và các nhóm: báo động, cắt điện, chữa cháy, thoát hiểm và sơ cứu.
    • Lập danh sách số điện thoại khẩn cấp (114, 115), vị trí bình chữa cháy, lối thoát hiểm của chùa.
    • Tập dượt định kỳ; kiểm tra bình chữa cháy, thiết bị điện của chùa, nơi sinh hoạt.
  2. 2Giao thông: tổ chức tuần lễ giao thông

    Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Bậc Sơ Thiện

    • Biển báo gồm 5 nhóm: biển báo cấm (hình tròn viền đỏ), biển báo nguy hiểm (hình tam giác viền đỏ, nền vàng), biển hiệu lệnh (hình tròn nền xanh), biển chỉ dẫn (hình vuông hoặc chữ nhật nền xanh) và biển phụ.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi nhận biết biển báo bằng thẻ hình giữa các Đội, Chúng.

    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc và hiểu luật giao thông

    Bậc Trung Thiện

    • Đi bên phải theo chiều đi của mình; đi đúng phần đường, làn đường.
    • Luôn đội mũ bảo hiểm cài quai đúng cách khi ngồi trên xe máy, xe đạp điện.
    • Không đi hàng ba trở lên khi đi xe đạp; không buông hai tay, không lạng lách.
    • Theo luật hiện hành, người đủ 16 tuổi mới được lái xe gắn máy loại nhỏ; muốn lái xe mô tô phải đủ 18 tuổi và có giấy phép lái xe. Anh chị trưởng cập nhật quy định mới nhất khi dạy.

    Tham khảo thêm

    Giao thông: tổ chức tuần lễ giao thông

    Kế hoạch tuần lễ giao thông

    • Mục đích: nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông trong Đoàn và bà con quanh chùa.
    • Nội dung: thi tìm hiểu biển báo, vẽ tranh, đóng kịch về an toàn giao thông, hướng dẫn đội mũ bảo hiểm đúng cách, phát tờ rơi.
    • Phân công: Đội, Chúng phụ trách từng hoạt động; mời công an, người có chuyên môn nói chuyện.
    • Tổng kết, khen thưởng.
  3. 3Cứu trợ: tổ chức lạc quyên cứu trợ thiên tai

    Tham khảo thêm

    Cứu trợ: tham gia các đoàn cứu trợ của chùa

    Những việc các em có thể làm

    • Phân loại, gấp xếp quần áo, sách vở quyên góp.
    • Đóng gói quà cứu trợ: gạo, mì, dầu ăn, nước uống.
    • Ghi danh sách, giúp phát quà theo hướng dẫn của quý Thầy và Ban tổ chức.
    • Thăm hỏi, động viên bà con với lời nói nhẹ nhàng, lễ phép.

    An toàn

    • Chỉ đến vùng thiên tai khi đã an toàn, đi theo đoàn và Huynh trưởng, có sự đồng ý của gia đình.

    Tham khảo thêm

    Cứu trợ: tổ chức lạc quyên cứu trợ thiên tai

    Tổ chức lạc quyên

    • Lập kế hoạch: mục đích, đối tượng giúp đỡ, thời gian, người phụ trách, cách nhận và ghi sổ.
    • Vận động trong Đoàn, phụ huynh, Phật tử; nhận tiền, hiện vật có ghi biên nhận, công khai danh sách.
    • Phân loại, đóng gói, chuyển đến nơi cần giúp qua quý Thầy hoặc tổ chức có trách nhiệm.
    • Báo cáo kết quả minh bạch cho người đóng góp.
  4. 4Thường thức: nông nghiệp lúa nước

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • Lúa nước là cây lương thực chính của người Việt; nghề trồng lúa nước gắn liền với văn hóa làng xã Việt Nam.

    Các bước chính

    • Làm đất: cày, bừa, cho nước vào ruộng.
    • Gieo mạ, cấy lúa (hoặc gieo sạ trực tiếp).
    • Chăm sóc: giữ nước, làm cỏ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh.
    • Thu hoạch: gặt, tuốt, phơi khô, xay xát thành gạo.

    Liên hệ

    • Hạt gạo là kết quả của bao công sức: ăn cơm biết quý, không bỏ phí; liên hệ lời Phật dạy về lòng biết ơn trong bài cúng dường trai tăng.

    Gợi ý hoạt động

    • Nếu có điều kiện, tổ chức một buổi trại công tác về nông thôn, cho các em ra đồng tìm hiểu, phụ giúp bà con.