Tu học GĐPT

Ngành Thanh · Bậc 10/16 trên lộ trình

Bậc Hòa

Tinh thần chủ đạoTứ Niệm Xứ

  • 2 năm
  • 30 bài
6 phần · 30 bài

Năm I · Phật pháp – Kiến thức9 bài

  1. 1Tam quy – Ngũ giới – Ăn chay – Niệm Phật

    Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

    Hình minh họa: Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

    Tam bảo và quy y tam bảo

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)

    Văn:

    Tam Bảo là ba ngôi quý báu: PHẬT, PHÁP và TĂNG

    1. PHẬT: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, có 3 nghĩa:
    • Tự giác: Tự mình giác ngộ.
    • Giác tha: Giác ngộ cho mọi người, mọi loài.
    • Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn.

    Đức Phật (BUDDHA) là người tỉnh thức tuyệt đối, toàn diện. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân tướng của vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta là một bậc tỉnh thức (giác ngộ) hoàn toàn. Người chỉ đường cho tất cả chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên người tỉnh thức.

    PHẬT là NGÔI BÁU THỨ NHẤT.

    2. PHÁP: (DHARMA) là chân lý, là sự thật về nhân sinh, vũ trụ. Đức Phật tìm ra và Người đã chỉ dạy cho chúng ta những điều này, đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, dẫn ta đến chân trời tự do, an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát triển trong ta. Từ bi và trí tuệ là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức.

    Sau khi Phật nhập Niết Bàn, tất cả lời dạy của Ngài được kiết tập lại thành Kinh, những giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia gọi là Luật. Về sau, nhằm giải thích Kinh, Luật mà tạo thành Luận. Tóm lại, Pháp gồm KINH, LUẬT, LUẬN thường được gọi chung là “Tam Tạng kinh điển”.

    PHÁP là NGÔI BÁU THỨ HAI.

    3. TĂNG: (SANGHA) là đoàn thể những người xuất gia tu hành, thực tập đạo tỉnh thức và cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Tăng gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo 6 phép hoà kính, giữ gìn giới luật, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.

    Các hàng Tăng chúng:
    • Tì kheo: Hàng nam giới xuất gia giữ 250 giới.
    • Tì kheo ni: Hàng nữ giới xuất gia giữ 350 giới.

    TĂNG là NGÔI BÁU THỨ BA.

    * QUY Y TAM BẢO là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.(Quy: trở về, Y: nương tựa)

    • Trở về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời.
    • Trở về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
    • Trở về nương tựa Tăng, đoàn thể những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
    * LỄ QUY Y:

    ” Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài. “

    Những lời này được phát nguyện dưới sự chứng minh của vị thầy truyền giới. Vị này sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người quy y. Sau đó, người này được chính thức gọi là Phật tử.

    Cần nhớ lễ quy y chỉ là hình tướng bên ngoài, chúng ta phải biết tự quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình. Phật nơi tự tâm là bản tánh sáng suốt, Pháp nơi tự tâm là bản tính từ bi, bình đẳng và Tăng nơi tự tâm là bản tánh thanh tịnh, hoà hợp. Dù đã phát nguyện quy y, người Phật tử không bao giờ cầu xin ân huệ mà chỉ tự nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để thanh lọc và thành tựu giải thoát. Phật dạy: “Con phải tinh cần nỗ lực, các Đức Như Lai chỉ là những vị thầy. “

    Tư:

    Biết được ý nghĩa của ba ngôi báu và quy y rồi, em phải làm sao để sống đúng theo truyền thống một Phật tử, là một người đã hướng về, nương tựa, sống theo Phật, Pháp, Tăng.

    “Nhất giả lễ kính chư Phật

    Nhị giả xưng tán Như Lai”

    Lễ kính chư Phật sẽ được vô lượng công đức.

    Mỗi người chúng ta đều có tính Phật hay khả năng tỉnh thức trong lòng. Vì vậy, ai cũng có thể trở thành người giác ngộ như Đức Phật. Tính Phật này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức thì chúng ta làm cho tính Phật trong ta sẽ đạt được tự do và an lạc hoàn toàn như Phật. Phật ở ngay trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta phải trở về tìm Phật ngay trong tâm ta. Đức Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.

    Pháp của Đức Phật chỉ dạy cách thức TU- HÀNH, giữ giới luật để phát triển trí tuệ, hiểu biết chân lý của cuộc đời. Đức Phật dạy chúng ta phải tự cứu mình bằng cách làm theo phương pháp Phật chỉ dạy.

    Muốn tu tập đạo giải thoát, ta phải nương tựa vào Tăng đoàn. Một mình đơn độc sẽ gặp nhiều khó khăn trong sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Người xuất gia cũng như người tại gia phải biết về nương tựa nơi Tăng để có thể đi xa trên con đường tu tập.

    Tu:

    Tin không chưa đủ, em phải tu nghĩa là tự sửa mình. Mặc dù Đức Phật nói “Chúng sanh là Phật sẽ thành” nhưng nếu không tu tập, hành trì giáo pháp thì mãi mãi, chữ “sẽ” chỉ là tương lai không vươn tới được.

    Vậy sau khi Quy Y Tam Bảo, hằng ngày, ta phải năng lễ Phật, tu dưỡng bản thân để tiến tới làm người giác ngộ.

    Tu dưỡng nghĩa là bồi dưỡng và chuyển đổi.

    • Về tình cảm: chuyển đổi tham lam, giận hờn thành yêu thương và hoà thuận, đem vui cứu khổ.
    • Về lý trí: chuyển đổi si mê, lầm lạc thành sáng suốt, hiểu biết chân chánh.
    • Về ý chí: chuyển đổi hèn nhát, thụ động thành tinh tấn, hỷ xả và dũng cảm.

    Làm vậy tức là em đã Quy y Tam Bảo một cách đúng đắn và tích cực. Song song với việc tu dưỡng bản thân, em phải noi gương Đức Phật và các vị Tăng, Ni, khuyến khích, giúp đỡ mọi người sống tốt, hướng thiện và hướng thượng.

    Cuộc sống chỉ có thể tốt đẹp khi tập thể chúng ta tốt đẹp. Một con én không làm nên được mùa xuân nên ta phải quan tâm đến mọi người, cùng nhau tu dưỡng thì xã hội sẽ tốt đẹp vì đó là tập thể những người tốt. Từ đó, cuộc sống riêng và chung sẽ được an lành, hạnh phúc.

    IV.CÂU HỎI:
    • Định nghĩa ba ngôi báu?
    • Thế nào gọi là Quy y Tam Bảo?
    • Tại sao muốn có an lạc và hạnh phúc phải tu dưỡng bản thân và giúp đỡ mọi người cùng tu? Cho ví dụ cụ thể?
    • Làm sao biết được Phật là bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
    • Em hiểu thế nào là sự quy y và lý quy y?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Ngũ giới

    I. VĂN:

    Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.

    Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.

    • Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
    • Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
    • Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
    • Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
    • Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.

    Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.

    II. TƯ:

    Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:

    • Thành thật với chính mình.
    • Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
    III. TU:
    Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
    • Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.

    Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:

    • Không giết hại mà còn phóng sanh.
    • Không trộm cướp mà còn bố thí.
    • Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.

    Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:

    • Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
    • Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
    • Không khởi ác niệm đối với người khác.

    Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.

    Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.

    IV. CÂU HỎI:
    • Giới là gì? Nội dung của năm giới?
    • Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
    • Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
    • Ích lợi của năm giới?
    • Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
    • Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Ăn Chay – Niệm Phật

    A. ăn chay

    I. VĂN:
    1. Ý nghĩa:

    Ăn chay là ăn những thức ăn tịnh lạt, chế biến bằng các loại rau, quả, củ, sữa…, tránh sự sát sanh, ăn những món không có mạng sống, không ăn 5 món tân thái(hành, hẹ, kiệu, tỏi, nén).

    2. Lợi ích của việc ăn chay:

    a. Thân thể được khoẻ mạnh, tránh được bệnh tật.

    • Rau trái là những thức ăn nhẹ nhàng, dễ tiêu. Trái lại, thịt cá là những món khó tiêu, nặng bụng, nhiều vi khuẩn (các trường hợp ngộ độc, trúng thực thường xảy ra do các bữa tiệc, đình đám dùng nhiều thịt).
    • Rau trái, hoa quả để lâu ít hư, dễ cất trữ, dễ kho nấu.
    • Cá thịt thì mau ươn thối.
    • Người ít ăn thịt thì ít bệnh (nông dân ăn nhiều rau trái thường khoẻ mạnh)

    b. Trí được sáng suốt, tánh tình thuần hậu, phát triển được đức từ bi, dứt dần tính sát hại.

    c. Cách sống giản dị, được mọi người thương yêu.

    Trong Kinh Thập Thiện, Phật dạy: “Nếu xa lìa sát sanh thì thì thành tựu được mười pháp, không còn bức não” (Bức bách khổ não)

    • Đối với các loài sinh vật bố thí đức “không sợ hãi”.
    • Thường khởi lòng đại từ bi đối với các loài sinh vật.
    • Dứt sạch tất cả chủng tử giận hờn.
    • Thân thường không bệnh.
    • Mạng sống lâu dài.
    • Thường được mọi người hỗ trợ.
    • Thường không ác mộng, giấc ngủ an vui.
    • Diệt trừ oán nghiệp, oán thù tự giải.
    • Không sợ sa đường dữ.

    10. Khi về già, mạng chung được sinh lên cõi trời.

    CÁC NGÀY CHAY GỒM CÓ: (Trai kỳ)

    • Nhị trai: hai ngày mỗi tháng: rằm, mồng một (tính theo âm lịch).
    • Tứ trai: bốn ngày / tháng(30, 01, 14, 15).
    • Lục trai: sáu ngày / tháng(01, 08, 14, 15, 23 và 30).
    • Thập trai: mười ngày / tháng(01, 08, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30).
    • Nguyệt trai: một tháng liền(tháng giêng hay tháng bảy).
    • Tam nguyệt trai: ba tháng(tháng giêng, tháng bảy và tháng mười).
    • Trường trai: ăn chay trọn đời.

    Khi chưa thể giữ trường trai, ta nên ăn theo những ngày qui định trên vì những ngày này có chư thiên tuần thú, nguyện giúp đỡ, hỗ trợ cho những người có tâm lành, hành thiện.

    II. TƯ:

    Đạo Phật là đạo “Từ bi”, tôn trọng sự sống nên theo đạo Phật, ta không ăn thịt cá.

    Loài vật cũng ham sống sợ chết, biết đau đớn nên không vì một chút ngon miệng, ham thích theo thói quen mà ta nỡ giết hại sinh vật.

    Các vị Tăng, Ni ăn chay trường, tính tình thuần hậu, điềm đạm, phong thái uy nghi, không giận hờn, mọi người kính mến.

    Các loài vật ăn thịt, con nào cũng hung dữ chuyên giết mồi. Trái lại các loài ăn cỏ thì thường hiền lành, siêng năng.

    Ăn thịt, uống rượu, kích thích dục vọng khiến con người dễ sa ngã vào hành động tầm thường. Người Phật tử ăn chay là vâng lời Phật dạy, là tưởng nhớ đến hạnh từ bi cao cả của Đức Phật.

    Các bữa cơm tại trại, đoàn… GĐPT, với mùi vị đạm bạc, không khêu gợi sự thèm muốn. Em ăn chay là em tập sống giản dị, gần gũi với Đức Phật.

    Hơn nữa, theo thuyết luân hồi, các loài chúng sanh trong nhiều đời, kiếp trước có thể đã từng là cha mẹ, anh em… của mình. An các loài vật có khác nào ăn thịt ông bà, cha mẹ mình.

    III. TU:

    Ăn chay để đoạn dứt điều ác, tăng trưởng việc lành, làm lợi lạc cho muôn loài.

    Ăn chay là việc tuỳ nguyện, tuỳ sức, tuỳ hoàn cảnh.

    Là Phật tử, mỗi tháng nên ăn chay ít nhất hai ngày: rằm và mồng một. Ngoài ra, các ngày vía Phật và Bồ Tát càng nên ăn chay để tưởng niệm.

    Ăn chay thì phải thành thật, nguyện theo đúng, nên đạm bạc, không cầu kỳ, không khích bác người không ăn chay.

    “Ăn chay sáng đức từ bi,

    Tinh thần minh mẫn, thân thì ít đau.

    Phước đức để lại đời sau,

    Ít nhiều chẳng kể, miễn giàu thành tâm”.

    IV. CÂU HỎI:

    Ăn chay là gì? Tại sao phải ăn chay? Ăn chay có đầy đủ chất bổ không? Vì sao chỉ nên ăn đạm bạc? Ăn chay có ích lợi gì? Thế nào là ăn chay trường? Ăn chay kỳ? Kể các ngày thập trai? Khi ăn chay có nên làm giả mặn không? Tại sao?

    • Ăn chay là gì?
    • Tại sao phải ăn chay?
    • Ăn chay có đầy đủ chất bổ không? Vì sao chỉ nên ăn đạm bạc?
    • Ăn chay có ích lợi gì?
    • Thế nào là ăn chay trường? Ăn chay kỳ? Kể các ngày thập trai?
    • Khi ăn chay có nên làm giả mặn không? Tại sao?

    B. niệm phật

    Văn:

    Ý nghĩa:

    * NIỆM PHẬT: Niệm là tưởng nhớ. Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, dồn hết tâm trí, ý nghĩ hướng về Phật, hình dung tướng tốt và công hạnh của Phật để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài.

    2. Lợi ích:

    Con người thường khi mê mờ hôn ám, niệm Phật để được sáng suốt, minh mẫn.

    Niệm Phật để suy tưởng đến tướng tốt trang nghiêm, đến hạnh lành của chư Phật mà noi gương, tu tập, tự nhũ sửa đổi tâm tính cho ngày càng tốt hơn.

    Niệm Phật tâm hồn sẽ được lắng dịu, được gần Phật sẽ bỏ dần tính ác, phát triển hạnh lành; quên được đau buồn, sợ hãi, đời sống sẽ được an vui, tự tại, đem lại thiện nghiệp cho mình và người.

    3. Các cách niệm Phật:

    Niệm Phật có nhiều cách, tuỳ theo trường hợp và hoàn cảnh. Trong chương trình ngành đồng, oanh vũ phân biệt niệm Phật theo 5 cách:

    a. TỤNG NIỆM

    b. MẬT NIỆM

    c. KHẨN NIỆM

    d. QUÁN NIỆM

    e. CHUYÊN NIỆM

    Tựu trung, ta có thể niệm Phật theo 2 phương pháp: Trì danh và quán niệm.

    II. TƯ:

    Tùy lúc, tùy hoàn cảnh, niệm Phật theo cách nào cũng được. Điều cần ghi nhớ là luôn luôn nghĩ đến Phật, tuân lời Ngài dạy và noi theo gương sáng, hạnh lành của Ngài trong mọi ý nghĩ, việc làm để cải thiện đời sống của mình ngày càng tinh khiết, đem lại lợi ích cho mình và cho người xung quanh.

    III. TU:

    Lúc làm lễ, phải thành tâm, kính cẩn để tụng kinh,niệm Phật.

    Đứng trước bàn Phật, em tụng kinh theo nhịp chuông, mõ. Em có thể tụng một mình hay tụng chung với nhiều người.

    Mỗi ngày, trước khi đi ngủ, hãy niệm Phật để xét lại ý nghĩ, việc làm trong ngày có gì sai sót thì tự hứa ngày mai phải sửa đổi, không hề tái phạm. Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, niệm Phật và tự nguyện trong ngày làm việc lành, tránh thật nhiều điều ác.

    Khi biếng nhác, chán nản, em niêm hạnh tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.

    Khi giận buồn, em niệm hạnh hỉ xả của Đức Phật Di Lặc.

    Khi tham muốn nhiều, em niệm hạnh thanh tịnh của Đức A Di Đà.

    Khi không hiểu hay si mê, em niệm hạnh trí tuệ của Đức Văn Thù.

    Khi có ý xấu với người, em niệm hạnh từ bi của Đức Quán Thế Âm.

    IV. CÂU HỎI:

    Niệm Phật là gì? Tại sao phải niệm Phật? Có những cách niệm Phật thế nào? Có thể niệm danh hiệu Phật nào? Phân biệt khẩn niệm và tụng niệm? Em thường niệm danh hiệu đức Phật nào? Vào lúc nào?

    • Niệm Phật là gì? Tại sao phải niệm Phật?
    • Có những cách niệm Phật thế nào?
    • Có thể niệm danh hiệu Phật nào?
    • Phân biệt khẩn niệm và tụng niệm?
    • Em thường niệm danh hiệu đức Phật nào? Vào lúc nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Tam độc – Mười điều thiện

    Ba thứ độc : Tham – Sân – Si

    Hình minh họa: Ba thứ độc : Tham – Sân – Si

    Văn:

    Á Châu có một loại khỉ đặc biệt. Người ta cột một trái dừa đã được khoét lỗ vào một gốc cây hay nọc chặt xuống đất. Bên trong trái dừa được để một ít thức ăn cố mùi thơm. Chiếc lỗ trên trái dừa chỉ nhỏ vừa đủ cho khỉ dúm tay đun vào. Nếu khỉ nắm tay lại thì không thể rút tay ra được. Khi ngửi thấy mùi thơm của thức ăn, khỉ bèn đến gần rồi đút tay vào trái dừa nắm lấy thức ăn, nhưng không làm sao rút tay ra được. Thấy người thợ săn đến gần, khỉ sợ hãi cuống quýt nhưng đành chịu.

    Ai đã giữ chú khỉ trong bẩy?

    Không ai có thể bắt giữ chú khỉ ngoại trừ sức mạnh của lòng tham.

    Muôn thoát khỏi bẩy, khỉ chỉ cần buông nắm thức ăn ra. Nhưng vì sức mạnh của lòng tham quá mãnh liệt nên hiếm có con khỉ nào có thể buông tay ra.

    Cũng thế, muốn tự đo giải thoát, hãy buông tay ra để cho tự ngã và lòng thâm muốn ra đi.

    Lòng tham không những chỉ có thể giết chết khỉ mà cũng có thể giết chết con người (chúng ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ dẫn chứng trong xã hội, trong lịch sử nhân loại, trong thương trường v.v…)

    Tham, Sân, Sỉ là ba thứ độc.

    Con người khi tham mà không được toại nguyện thì hay nổi sân và khi tham, sân đã chế ngự tâm ta thì trí óc u mê, lú lẩn, làm những điều xằng bậy, nói những lời không nên nói và những tư tưởng đen tối mặc sức khởi lên làm cho tâm náo động và hổn loạn. Con người sống trong sự bất an và phiền não khổ đau nhất định theo sau.

    Thiền sư Sogyal Rinpoche nói: con người được huấn luyện một cách thuần thục bởi sinh tử và cho sinh tử, được luyện để nổi ghen ghét đố kỵ, giận dữ; được luyện để bám víu và chấp thủ, được luyện để phiền muộn, thất vọng và thèm khát; được luyện để phản ứng một cách tức giận bất cứ gì khiêu khích ta! Được luyện đến nỗi những cảm xúc ấy nổi lên một cách tự nhiên, không cần mời gọi, không cần một chút cố gắng nào cho chúng phát sinh. Như vậy mọi sự đều do huấn luyện và năng lực của thói quen. Nói cách khác, nếu ta chuyên chú thực tập Vô minh (Tham, Sân, Si), ta sẽ trở thành chuyên viên của Vô minh, nếu ta tĩnh thức nhờ tu tập thiền định ta sẽ mở được những gì gút buộc chặt ta với phiền não khổ đau, đưa ta đến giác ngộ giải thoát.

    Tư:

    Ba độc Tham, Sân, Si được đức Phật thuyết giảng trong Kinh Tham Sân Si trích từ kinh Trung A Hàm.

    Tam độc Tham Sân Si được cấu kết từ nhiều đời kiếp. Khi con người sinh ra là đã có những chủng tử câu sanh thiện ác, tham sân si rồi.

    Trong 10 kiết sử quyện chặt con người vào trong vòng luân hồi sanh tử thì Tham Sân Si thuộc về phần Độn sử, phải có công năng tu tập thì mới diệt trừ được.

    • Tham là gì? Là lòng ham muốn thu góp, dành hết mọi thứ vào cho cá nhân mình, tập thể mình … Nói chung, cái gì có là mình đều muốn thu gom vào, từ tiền bạc, của cải vật chất… cho đến danh tiếng, quyền thế, địa vị, kiến thức.
    • Sân là gì? Là sân hận, thù hằn, giận dữ.
    • Si là gì? Là cuồng tín, mê tín dị đoan.

    Con người thường tự bào chữa và ngụy trang tham sân si một cách tế nhị và khéo léo, vì nó được huân tập nhuần nhuyễn trong quá khứ, nên một Phật tử phải biết quán xét và nhờ thiện trí chỉ điểm cho. Do vậy phải thân cận bạn hiền, dốc lòng nghe pháp và thà bỏ thân mạng quyết không làm điều xấu.

    Tham Sân Si quả thật là nguy hiểm, chúng đe dọa đời sống chúng ta, chúng là nguyên nhân của đau khổ phiền não và là mối lo chung của xã hội. Những người phạm tội sát nhân, cướp bóc v.v.. đều do lòng tham (tham tiền, tham ái dục, tham danh lợi…) xúi giục. Vậy muốn thanh lọc tâm và muốn có sự an lạc chung cho xã hội, mỗi chúng ta phải loại trừ ba thứ độc hại nầy ra khỏi tâm mình.

    Trước hết ta tự đặt câu hỏi: Tại sao tham? Tham để làm gì?

    • Tham là vì ta thấy có “cái Tôi” (cái Ngã). Ta thương cái Tôi đó nhất, cái gì cũng “của tôi”, “cho tôi”, “vì tôi”. Bao nhiêu công sức, trí khôn đều tập trung lo cho “cái Tôi”: tôi phải giàu, tôi phải giỏi, tôi phải hạnh phúc, tôi phải là số 1 v.v… Do si mê, lầm lạc, thiếu hiểu biết, cho rằng cuộc đời nầy là vĩnh viễn, thân nầy là chắc bền, là “của ta” và từ cái ta nhỏ hẹp ấy khởi lên lòng ham muốn vơ vét hết vào cho mình.
    • Tham lam không thỏa mãn thì đưa tới sân hận và “khi một niệm sân nổi lên có thể đốt cháy cả rừng công đức”.
    • Khi ngọn lửa tham lam và sân hận đã ngự trị tâm ta thì chúng đốt cháy ta, trí óc không còn sáng suốt nữa, tâm hồn thì mê muội; đó là trạng thái si mê, con người lúc ấy thật không khác gì loài cầm thú vì không còn biết luân lý, đạo đức, phải trái, thiện ác nữa. Đây chính là đầu mối của tất cả mê lầm gây ra mọi thứ tội ác.

    Tu:

    Muốn loại bỏ tham sân si, cần phải huấn luyện tâm mình. Thật vậy, một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn phản ứng, dính mắc vào lạc thú, chán ghét khổ đau, nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi cái ghét bỏ; phản ứng với mọi chuyện xảy ra qua tham ái và sân hận, đó là một cái tâm “mất quân bình và mỏi mệt”

    Muốn đưa tâm trở lại quân bình và thảnh thời, ta phải đối diện với những tư tưởng, tình cảm và cảm giác của chính mình. Ta phải quan sát một cách đơn thuần những gì đang xảy ra trong tâm ta và đối diện với nó. Quan sát đơn thuần là chỉ quan sát một cách khách quan khi chúng khởi lên, không chọn lựa, không so sánh, không đánh giá, không kỳ vọng hay tính toán, không can thiệp vào những gì đang xảy ra. Nói cách khác là ta thực tập chánh niệm trong mọi lúc và ở mọi nơi vậy.

    Khi việc tu tập về sự quan sát đơn thuần nầy được phát triển, tiến bộ, chúng ta sẽ đối diện với tư tưởng và cảm giác của mình, với hoàn cảnh và với tha nhân một cách khách quan, không còn bị tham ái và sân hận chi phối. Từng bước, chúng ta sẽ loại dần ba thứ độc Tham, Sân, Si ra khỏi tâm mình để thật sự có an lạc và giải thoát.

    Tóm lại, Tam, Sân, Si là ba độc cần phải bỏ.

    • Muốn bỏ tham tài, Phật tử chúng ta phải thực hành hạnh bố thí cúng dường. Muốn bỏ tham sắc, ta phải học hạnh thanh tịnh chánh hạnh. Muốn bỏ tham danh, ta phải tự xét phận mình phải chu toàn. Muốn bỏ tham vật thực, ta phải biết ăn chỉ là để sống, coi thức ăn như thuốc để chữa bệnh. Phải ít muốn biết đủ. Muốn bỏ tham ngủ, ta phải học hạnh tỉnh thức, thiền môn gọi là chỉ tịnh, chứ không nói là ngủ, ngủ nhiều sinh làm biếng và si mê ngu đần.
    • Muốn bỏ sân, ta phải thực hành hạnh nhẫn nhục, biết tha thứ.
    • Muốn bỏ Si, phải thực hành hạnh tinh tấn.

    Câu hỏi:

    • Tam độc là gì?
    • Tại sao nói: Tham là nguyên nhân của đau khổ phiền não? Cho ví dụ.
    • Sân có phải là nguyên nhân của đau khổ và phiền não không? Cho 1 ví dụ.
    • Giải nghĩa câu: “Một niệm sân nổi lên đốt cháy cả một rừng công đức”
    • Em phải thực hành loại bỏ ba độc như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Mười điều thiện

    Hình minh họa: Mười điều thiện

    Văn:

    Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.

    Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.

    ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.

    Nghiệp là gì?

    Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).

    Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý

    1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:

    a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh

    b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.

    c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.

    2. Nh ữ ng nghiệp dữ:

    Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.

    A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:

    1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:

    Tất cả chúng sanh đều kính mến
    Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
    Trừ sạch thói quen giận hờn
    Thân thể thường được khỏe mạnh
    Tuổi thọ được lâu dài
    Thường được thiên thần hổ trợ
    Ngủ ngon giấc và không ác mộng
    Trừ hết các mối oán thù
    Không đọa vào ba đường ác

    10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.

    2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:

    1. Được nhiều người tin cậy.

    2. Không bị lừa dối gạt gẫm.

    3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.

    4. Lòng được an ổn.

    5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.

    6. Khi chết được sanh lên cõi trời.

    3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích

    • Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
    • Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
    • Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
    • Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
    B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:

    1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.

    Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.

    Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:

    • Miệng thường thơm sạch.
    • Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
    • Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
    • Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
    • Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.

    2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:

    • Được người trí thức yêu mến.
    • Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
    • Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.

    3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:

    • Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
    • Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
    • Đức tin bất hoại.
    • Pháp hạnh bất hoại.

    4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:

    • Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
    • Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
    • Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
    C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:

    1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:

    • Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
    • Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
    • Phúc đức tự tại.
    • Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

    2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:

    • Tâm không khổ não.
    • Tâm không giận hờn.
    • Tâm không tranh giành.
    • Tâm nhu hòa ngay thẳng.
    • Tâm từ bi như Phật.
    • Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
    • Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
    • Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.

    3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.

    Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.

    Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:

    Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
    • Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
    • Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
    • Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
    • Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
    • Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
    • Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
    • Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
    • Ở yên vào nơi chánh kiến.

    10. Không bị nạn dữ.

    * Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.

    Tư:

    Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
    • Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
    • Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
    • Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
    • Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.

    Tu:

    Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.

    Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.

    • Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
    • Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
    • Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.

    Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.

    Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.

    Câu hỏi:

    • Mười điều thiện là gì?
    • Nghiệp là gì?
    • Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
    • Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Sử dụng chuông mõ
    Hình minh họa: Em tập đánh chuông mõ

    Chuẩn bị:

    Mượn bộ chuông mõ nhỏ ở chùa.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    Chuông mõ giúp cho buổi lễ Phật, tụng kinh được nghiêm trang, đều đặn và tạo được sự thành kính, thanh tịnh. Muốn đạt được ý nghĩa trên cần phải đánh chuông mõ thật đúng cách.

    a. Trước khi lễ:

    Hai đoàn sinh được chỉ định thủ sẵn chuông mõ vào chánh điện lau chùi, dọn dẹp bàn thờ Phật, Bồ Tát, Tổ cho sạch sẽ và ngăn nắp. Đốt nến, thắp hương cho mỗi lư hương và thắp riêng 3 nén hương dành cho vị chủ lễ.

    Hai đoàn sinh thủ chuông mõ đứng đối diện, nhìn thẳng nhau chứ không nhìn vào bàn Phật. Nhìn vị chủ lễ để theo dõi khi đánh chuông mõ.

    Đánh một tiếng chuông thong thả để tất cả đoàn sinh và Huynh trưởng vào chánh điện. Khi chủ lễ niệm tịnh pháp giới và tịnh tam nghiệp xong, chuông đánh 1 tiếng để tất cả cùng xá.

    b. Trong khi lễ:
    • Chủ lễ niệm hương:

    Đánh 1 tiếng chuông sau mỗi bài Cúng hương, Tán Phật.

    Sau mỗi câu đảnh lễ, đánh 1 tiếng chuông, tất cả đều lạy.

    • Khai chuông mỏ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời o o o

    Mõ đánh 7 tiếng (4 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời) xx xx xx x

    Chuông mõ: 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ (3 lần) o x o x o x

    Mõ: 1 tiếng rời, 2 tiếng liên tiếp, 1 tiếng rời xx xx

    Chuông nhập cùng lúc với tiếng mõ cuối.

    (o o o, xx xx xx x, o, x, o, x, o, x,x xx xx o)

    • Tụng bài sám hối:

    Mõ đánh tiếng thứ 2 (Đệ tử) chờ tiếng xướng của người chủ lễ, đánh tiếng thứ 4 (kính lạy) rồi đánh đều từ tiếng thứ 5 trở đi.

    Chuông đánh một tiếng sau câu “… thành tâm sám hối”

    Mõ đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối (Phật) và nhập ở tiếng cuối (đạo).

    Chuông đánh 1 tiếng khi còn 3 tiếng dứt bài.

    • Tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát, …

    Mõ cũng đánh theo người chủ lễ bằng cách vào ở tiếng thứ hai và tư, kết mỗi bài đều đánh thúc 2 tiếng ở tiếng áp cuối và nhập ở tiếng cuối.

    Chuông đánh trước 1 tiếng trước khi kết thúc mỗi bài tụng hoặc mỗi câu Tự quy y.

    • Chấm dứt buổi lễ:

    Chuông đánh 3 tiếng rời.

    Vị chủ lễ đánh chuông cho 2 đoàn sinh thủ chuông mõ lễ Phật (3 lạy).

    c. Sau khi lễ:

    Đoàn sinh rời chánh điện trong im lặng và trật tự.

    Hai em thủ chuông mỏ tắt đèn quạt, … dọn dẹp xong ra sau cùng.

    2. Em thực hành:

    Huynh trưởng chia đoàn sinh học đánh chuông mõ thành hai hàng ngồi đối diện nhau, 1 hàng đánh chuông, 1 hàng đánh mõ. Huynh trưởng chỉ các em dùng miệng và điệu bộ để tập chung. Sửa chỗ sai, sau đó cho từng cặp thực tập dùng chuông mõ.

    Chọn 2 em đánh khá thực tập để các em nhận xét, sau đó chia nhóm ôn lại.

    Chú ý: nâng dùi và đánh nhẹ nhàng. Dùi chuông hất nghiêng ở thành chuông, dùi mõ đánh thẳng.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Bát quan trai giới
    Hình minh họa: Bát quan trai giới
    A. DẪN NHẬP:

    Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH DANH:

    Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).

    Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:

    • Không được sát sanh.
    • Không trộm cướp.
    • Không được dâm dục.
    • Không được nói dối.
    • Không được uống rượu.
    • Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
    • Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
    • Không được ăn quá giờ ngọ.
    II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
    1. Không được sát sanh:

    Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.

    Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.

    Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.

    Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.

    2. Không được trộm cướp:

    Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.

    Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.

    Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.

    Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.

    Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,

    Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.

    3. Không được dâm dục:

    Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.

    Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.

    Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

    Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.

    Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.

    4. Không được nói dối:

    Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.

    Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.

    Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.

    Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.

    5. Không được uống rượu:

    Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.

    Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.

    Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.

    6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:

    Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.

    Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.

    Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.

    Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.

    Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.

    7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:

    Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…

    Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.

    8. Không được ăn quá giờ ngọ:

    Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.

    Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
    • Ít mống tâm sái quấy
    • Ít buồn ngủ
    • Dễ được nhất tâm
    • Ít hạ phong
    • Thân được yên ổn ít sanh bệnh

    Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.

    Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.

    C. SUY NGHIỆM:

    Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.

    Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.

    • Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
    • Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
    • Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
    • Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
    • Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
    • Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
    • Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
    • Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.

    Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?

    Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.

    Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.

    D. TU TẬP:

    Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Lục hòa
    Hình minh họa: Lục hòa
    I. VĂN:

    Hồi đức Phật còn tại thế, tại tu viện Ghosira (Cùsưla) thuộc thành phố Kosambi Vương quốc Vamsa, đã xảy ra một vụ tranh chấp giữ một vị Kinh sư và một vị Luật sư. (Kinh sư là những vị chuyên giảng dạy và ôn tụng những lời Phật dạy, Luật sư là những vị chuyên lo trì tụng về giới luật).

    Nguyên nhân của sự tranh chấp thật là bé nhỏ, nhưng vì lòng tự ái của một số các thầy mà vụ tranh chấp đã gây nên chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị Kinh sư vì vô ý đã không đổ nước trong chậu sau khi dùng, vị Luật sư cho đó là phạm luật. Vị Kinh sư nghĩ là vì không cố tình nên không có tội. Thế là cuộc tranh chấp leo thang.

    Cuối cùng là vị Luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị Kinh sư đã phạm giới, và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham dự các buổi Bố tát, tụng giới…Tình trạng trở nên căng thẳng và những lời qua tiếng lại nầy cũng tai hại như những mũi tên độc. Các vị Khất sĩ chia làm hai phe, và may mắn là cũng có những vị không theo bên nào. Khi đức Phật được biết chuyện, Ngài liền đi tìm Luật sư và nói: “Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm của chúng ta mà phải lắng nghe và chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong đại chúng”. Rồi Ngài đi tìm vị Kinh sư, cũng nói với những lời trên đây, hy vọng sẽ đi tới sự hòa giải. Nhưng không có hiệu quả. Quý vị Tu sĩ ở giữa không đủ sức dàn xếp một cuộc hoà giải.

    Thế là nội vụ đã tới tai giới Cư sĩ tại gia, và chẳng bao lâu các Giáo phái bên ngoài đều biết. Đức Phật triệu tập đại chúng và nói: “Xin quý vị hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ Giáo đoàn, xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật sự, chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận hờn và chia rẽ nữa”.

    Mặc dù đức Phật đã nói vậy nhưng sự hoà hợp không được tái lập, tình trạng chia rẽ ở đây vẫn còn. Phật lặng lẽ từ bỏ Kosambi, đi về phía công viên Đông Trúc Lâm, nơi có các đệ tử Phật tu học. Người đến đó hỏi thăm các vị đệ tử: “Các thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học, khất thực và hành hoá có được dễ dàng không?”.

    Các thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây an ổn, khung cảnh an tịnh, và việc khất thực, hành hoá cũng dễ dàng. Chúng con đã đạt nhiều tiến bộ trong tu học”.

    Phật hỏi:
    • Các thầy có thương mến nhau hoà hợp với nhau không?
    • Thưa, chúng con rất thương mến và hoà hợp nhau. Chúng con biết chia sẽ cho nhau đồng đều mọi thứ, từ chỗ ăn, chỗ ngủ đến kiến thức và kinh nghiệm tu học, chúng con đều chia sẽ cho nhau.
    Phật khen:
    • Tốt lắm, ta rất hài lòng thấy các thầy đối xử với nhau như vậy. Có sự hoà hợp đó, một đoàn thể mới thực sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thực sự tỉnh thức cho nên mới thực hiện được sự hoà hợp đó.
    Trước khi từ giã các thầy ở đây, Phật nói:
    • Các thầy: Bản chất của một tăng đoàn là sự hoà hợp. Theo tôi, ta có thể minh định sự hoà hợp đó như sau:

    1. Thân hoà đồng trú: Cùng chia sẽ với nhau một nơi tu học, một khu rừng, hay một mái nhà. Nên hiểu là thân hành từ ái, khiêm cung, trìu mến.

    2. Khẩu hoà vô tranh: Tránh những lời nói có thể gây ra thắc mắc, chia rẽ. Nên hiểu là khẩu hoà từ ái.

    3. Ý hoà đồng duyệt: Các ý kiến khác nhau sẽ được trao đổi, tạo sự vui vẻ, hoà hợp trong tập thể, không bắt buộc người khác theo ý kiến riêng của mình, phải khéo léo để tất cả cùng đi đến ý chung, đúng đắn nhất.

    4. Kiến hoà đồng giải: Trao đổi, chia sẽ những hiểu biết, kinh nghiệm cho nhau.

    5. Lợi hoà đồng quân: Cùng chia sẽ đồng đều những tiện nghi cuộc sống.

    6. Giới hoà đồng tu: Cùng hành trì với nhau những giới luật đã được truyền thọ.

    Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên tắc hoà hợp này mà sống với nhau.

    Về việc tranh chấp giữa hai vị Kinh sư và Luật sư: Tại tu viện Cấp Cô Độc, với sự dàn xếp của Ngài Xá Lợi Phất, hai bên đã thành tâm sám hối trước Phật, trước Tăng Đoàn. Được Phật, đại chúng chứng minh, hai vị đã có giới thể trở lại thanh tịnh.

    II. TƯ:

    Qua câu chuyện trên, em thấy rằng pháp Lục Hòa này không những cần cho Tăng đoàn mà cần cho mọi tập thể, cụ thể là đoàn, đội, chúng, … trong GĐPT, cả gia đình nhỏ của chúng ta nữa.

    Bất cứ cuộc tranh chấp nào dù lớn hay nhỏ cũng đem lại sự tổn thất cho cả hai bên, nhất là làm ảnh hưởng cả những người “vô can”. Do đo, ta phải chấm dứt mọi sự tranh chấp khi nó vừa xảy ra và ngăn ngừa không cho nó xảy ra.

    Sự cãi cọ và gây chia rẽ là chất độc giết chết sự hòa hợp của tập thể và tín tâm tu học của mọi thành viên trong tập thể. Ngoài ra, Đức Phật dạy: “Nó là biểu hiện sự thiếu tu học thật sự”.

    III. TU:

    Em sống trong những tập thể nhỏ khác nhau: gia đình, lớp học, đoàn, đội, chúng, … Trong GĐPT cũng như trong lớp học, … em quyết thấm nhuần tinh thần lục hòa và sống cho hợp khung cảnh để phổ biến cho những thành viên trong tập thể của em.

    Em tự soi rọi lại mình trong cách cư xử với mọi người trên căn bản lục hòa (một phần hay toàn phần). Nếu em là một đoàn, đội hay lớp trưởng, em càng phải soi rọi lại mình nhiều hơn mới duy trì được sự hòa hợp của tập thể mình.

    IV. CÂU HỎI:
    • Nguyên nhân Phật dạy Pháp Lục hòa?
    • Em hãy triển khai từng nguyên tắc, bằng cách cho ví dụ minh họa?
    • Theo em cái gì là nguyên nhân chính đã làm cho một vụ tranh chấp bé nhỏ bị xé ra to? Em hãy kể lại một trường hợp nào mà em đã kinh nghiệm hoặc em biết đã xảy ra và kết thúc câu chuyện được dàn xếp như thế nào?
    • Từ bài học lục hòa, em hãy dựa theo và thành lập một nội quy cho anh, chị, em của em (giả sử em có bốn, năm anh, chị, em trong gia đình mà em không phải là con trưởng hay con út để tránh gây gỗ và tạo sự hòa thuận làm vui lòng cha, mẹ).
    • Tinh thần Lục hoà có thể áp dụng một cách rốt ráo đối với người tại gia hay không? Vì sao? Thế nhưng tại sao người tại gia lại vận dụng “Lục hoà” trong cuộc sống tập thể, gia đình cũng như xã hội?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Tứ nhiếp pháp
    Hình minh họa: Tứ Nhiếp Pháp

    Văn:

    Hoàng pháp lợi sanh là hạnh nguyện của chư Phật, chư vị Bồ tát. Đức Phật ra đời với một ý nguyện lợi sanh. Cho nên trong, tất cả phương tiện giáo hoá khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.

    Người Phật tử theo dấu chân Phật và Bồ tát, học Phật không chỉ riêng giác ngộ cho mình mà còn làm cho người khác cùng hiểu biết và hành trì pháp Phật cũng như mình, nghĩa là phải lợi sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không chỉ là lời nói suông mà người Phật tử phải thể hiện trọn vẹn trong quá trình học đạo, tu đạo và sống đạo của mình.

    Tứ nhiếp pháp còn gọi là 4 nhiếp sự, là nền tảng đạo đức của thế gian. Thế gian xoay quanh 4 nhiếp sự như bánh xe quay quanh trục. Đây là cương thường đạo lý của người Phật tử tại gia.

    Tứ nhiếp pháp được Phật kiến lập trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Bốn pháp.

    Muốn thực hiện tinh thần lợi sanh, đức Phật kiến lập pháp môn TỨ NHIẾP PHÁP để dạy chúng ta hành đạo như sau:

    1. Định nghĩa:

    Tứ là bốn.

    Nhiếp là nhiếp hóa, nghĩa là thâu lại gần mình.

    Pháp là pháp môn, là phương pháp thu phục người khác.

    Tứ nhiếp pháp là bôn phương pháp giúp mình xa lìa những thói hư tật xấu, hoàn thiện nhân cách, tăng trưởng phẩm hạnh, từ đó tiến đến chính phục kẻ khác. Đây là bốn phương pháp để người Phật tử thâu phục người khác về với mình, để cùng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có đưa người khác đến với ta, thì ta mới có cơ duyên hóa độ.

    Bốn phương pháp ấy là: “Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự”.

    2. Nội dung Tứ nhiếp pháp:
    a. Bố thí:

    Nói nôm na bình dân thường nói là “Cho”, nói có tình nghĩa hơn là “Giúp đỡ”, nói văn vẽ là “Tặng”, nói trang trọng đối với người trên là “Dâng”, chứa đầy màu sắc đạo vị là “Cúng dường”.

    Cho dù được gói ghém dưới nhãn hiệu nào, chữ THÍ là lấy của mình cho kẻ khác. Lấy của mình đem cho, tức ngầm chứa một sự hy sinh, dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều.

    Bố có nghĩa là cùng khắp, rộng rãi.

    Bố thí là cho một cách rộng rãi.

    Một khía cạnh khác của Bố thí, khi đã hy sinh của mình đem cho người khác là đã biểu lộ lòng thương, lòng vị tha, thay thế cho lòng vị kỷ. Đây là động cơ đầu tiên cho lòng thương rộng lớn đó là lòng Từ bi.

    Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn bằng tất cả nữa.

    Bố thí có ba phương diện:

    * Tài thí: gồm có Nội tài và Ngoại tài.

    • Ngoại tài: nghĩa là đem của cải, tiền bạc, vật dụng nằm ngoài thân để giúp đỡ đời sông thiết thực cho chúng sanh.
    • Nội tài: là bố thí chính thân mạng của mình, sức lực, lời nói, tư tưởng, ý kiến v.v… một thứ tài sản dù nghèo đến mấy cũng có và tài sản ấy mới thật là của mình. Đừng viện cớ: tôi nghèo quá, không có gì để bố thí. Cho dù nghèo tận cùng con số không, vẫn còn có thân mạng của mình, đó là vật sở hữu vô giá. Có thân mạng là có sức lực, có trí tuệ bố thí cho người khác như gặp người gánh nặng ta gánh giúp, đẩy hộ một chiếc xe lên đốc cao … Đó cũng là cách bố thí. Phật dạy rằng: “Đời ai không có thân, có thân là có thể bố thí được”

    * Pháp thí: nghĩa là đem giáo pháp chân chính mà giảng dạy cho chúng sanh thoát khỏi những đau buồn, đắng cay của cuộc đời, tạo niềm hân hoan vui sống cho họ hoặc tụng kinh niệm Phật để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.

    Đem Phật pháp cảm hoá mọi người đó mới là phương tiện chính của người tại gia phục vụ xã hội.

    Đức Phật dạy, trong mọi cách cúng dường, cúng dường Pháp là tối thắng, vì Pháp đem lại an vui lợi lạc cho đời này và vô lượng phước báu cho đời sau, là nhân giải thoát trong tương lai.

    * Vô úy thí: tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “Sự không khiếp sợ” trong những lúc nguy biến, ấy là vô uý thí.

    Làm thân người ai cũng có nỗi lo sợ, sợ đói, sợ nghèo, sợ bệnh tật, sợ thiên tai, ách nước. Vô úy thí là dùng tất cả phương tiện bố thí để giúp chúng sanh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Gặp những tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương cách giải cứu. Sự khổ sống trong sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.

    Vị Bồ tát có năng lực đem lại sự bình an cho chúng sanh là Ngài Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm thực hành như vậy mà thế giới Ta Bà gọi Ngài là “đấng bố thí sự vô uý”.

    Ngoài Tài thí, Pháp thí, chỉ riêng Phật giáo mới đặc biệt chú trọng đến pháp Vô úy thí.

    Thực hành tài thí để tương trợ đời sống vật chất cho chúng sanh. Thực hành Pháp thí để giáo hoá chúng sanh và thực hành hạnh Vô uý thí để loại bỏ những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.

    Bố thí mà chỉ mong cầu báo đáp thì chỉ có phước báu, chứ không thực sự giúp ta ta vĩnh ly khổ ách, đạt cứu cánh Niết Bàn.

    Bố thí Ba La Mật là hình thức bố thí cao cả nhất của Phật giáo. Đó là cách bố thí không thấy có kẻ bố thí, người được bố thí và của được bố thí, nên gọi là Tam luân không tịch. Câu chuyện Thái tử Tu Đại Noa nói lên ý nghĩa cao cả của việc bố thí này.

    b.Ái ngữ:

    Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hoá.

    Dùng lời nói dịu dàng, hoà ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến, rồi từ đó thân cận với mình. Nói lời hoà nhã nhằm an ủi, giúp người vượt qua sự khổ sở. Dù với bất cứ hoàn cảnh nào như đứng trước một nhân vật hung hăng, lời lẽ mình vẫn nhu hòa để cảm hóa họ trở về con đường thiện lành.

    Muốn có ái ngữ phải luôn luôn trầm tĩnh, nụ cười nở trên môi. Không nên xem thường ái ngữ, vì ái ngữ dễ nhiếp phục lòng người vô cùng. Ái ngữ là khí cụ sắc bén mà không mất tiền mua và đủ công năng khích động kẻ khác tiến lên đến chỗ tốt đẹp.

    c. Lợi hành:

    Là kết duyên với mọi người. Mỗi người sống đều có mục đích. Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích tốt đẹp mà họ mong muốn, là làm việc vì mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác.

    Lợi hành là cách thu phục lòng người nhanh nhất, hữu hiệu nhất.

    Hình ảnh vị Bồ tát Trì Địa là một tấm gương sáng về Lợi hành, suốt cuộc đời chuyên lo tu sửa đường sá, lấp các ao rạch ngăn trở lối đi, bắc cầu qua các kênh mương, gánh giúp cho người già cả, giúp đỡ kẻ tật nguyền neo đơn, từ những việc lặt vặt đến những việc lớn lao đều không từ chối nên được Phật ấn chứng.

    d. Đồng sự:

    Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục đích cảm hoá họ.

    Cùng hòa mình vào trong cảnh ngộ của người khác để dẫn dắt họ về với chánh pháp. Đây là một pháp vừa có hiệu quả lớn mà cũng vừa rất tế nhị. Cùng một cảnh ngộ thì để cảm thông với nhau hơn. Cụ thể, những người cùng nghề nghiệp rất dễ thương yêu nhau. Một tấm gương đồng sự của Bồ tát Duy Ma Cật: Đến nơi cờ bạc thì Ngài dùng nơi đó để độ người. Thấy ai Ngài cũng kính nhường. Ngài nhiếp phục kẻ lớn người nhỏ. Dạo chơi nơi ngả tư đường, Ngài giúp cho chúng sanh dự vào việc chánh trị. Vào nơi giảng luận, Ngài dùng pháp Đại thừa mà dẫn dắt kẻ khác. Vào nơi học đường, Ngài khuyên dụ và khai hóa học viên. Vào chốn ăn chơi, Ngài chỉ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào quán rượu, Ngài vẽ phác chí hướng cho những đệ tử của lưu linh. (Phẩm Phương tiện).

    Đồng sự với mọi người, với mục đích là giáo hoá. Do đó, không một chỗ nào dù là chỗ xấu xa như nơi cờ bạc, chốn buôn hương bán phấn, Duy Ma Cật lại không bước chân vào.

    Gần chúng ta hơn, Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng từ bi thương xót chúng sanh và muốn chúng sanh an lạc tự tại, Ngài hiện 32 ứng thân tùy sở cầu của chúng sanh mà thi hiện cứu độ.

    Đồng Sự với ý nghĩa cao sâu hơn, Đồng sự tức là Đồng ngã: nâng người lên ngang với mình về phương diện đạo đức. Đây là phần về Phật pháp: giúp người hiểu Phật pháp giữ giới ngang với mình, thấy người phạm giới giáo dục cho họ không phạm giới và giữ giới đã thọ như mình, giúp người khác (bạn tại gia) có kinh điển để học. Đối với người xuất gia: Kiến hoà đồng giải và Giới hoà đồng tu, đó là Đồng sự.

    Yếu tố Lợi hành, Đồng sự giúp người Phật tử chóng thích nghi với mọi môi trường ở cuộc đời và luôn tạo cho mình niềm an lạc tự tại để sống.

    Tư:

    • Tứ nhiếp pháp giúp em tạo dựng cuộc sống an lạc, tự tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
    • Tứ nhiếp pháp là một phương tiện thiện xảo để nhiếp phục, cảm hóa những người chung quanh.
    • Tứ nhiếp pháp còn giới hạn thân khẩu ý tạo tác các vọng nghiệp, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp chúng ta sớm gần với chân lý giải thóat giác ngộ.
    • Thấy người thực hành Tứ nhiếp pháp mà sanh tâm hoan hỷ thì công đức vô lượng.
    • Câu chuyện “Gã cùng tử” trong kinh Pháp Hoa làm nổi bật vai trò Thế Tôn cũng như tâm nguyện của chúng ta trên con đường phục vụ chánh pháp.

    Tu:

    • Em thực hành hạnh Bố thí để xả bỏ dần tánh tham lam keo lẩn.
    • Em dùng lời nói nhu hòa để cảm hóa những người chung quanh.
    • Luôn làm mọi việc ích lợi cho tất cả chúng sanh.
    • Tự đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân mới thấu hiểu những trăn trở của họ, từ đó sẽ thông cảm, vị tha, độ lượng, nhân từ.

    Tứ nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể. Tứ nhiếp pháp không phải là một giáo lý xuất thế, mà là yếu tố xây dựng cuộc đời, đưa mọi người vào ánh sáng chánh pháp.

    Với hạnh nguyện lợi tha, Tứ nhiếp pháp là phương tiện khéo và đủ vậy.

    Câu hỏi:

    • Tứ nhiếp pháp là gì?
    • Giải thích nghĩa 2 chữ Bố thí trong các trường hợp?
    • Thế nào là Vô úy thí?
    • Đồng sự là gì? Vị Bồ tát nào đã thực hành Đồng sự một cách rốt ráo?
    • Em thực hành Tứ nhiếp pháp như thế nào trong cuộc sống?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  7. 7Lịch sử Đức Phật Thích Ca
    Hình minh họa: Lịch sử Đức Phật Thích Ca
    I. VĂN:
    A. BỐI CẢNH ẤN ĐỘ:

    Từ thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, Ấn Độ đã có một nền văn minh khá cao. Aryan sau khi đã chinh phục Ấn Độ, họ lại bị chinh phục bởi ảnh hưởng huyền bí của thiên nhiên, của dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ … Xã hội lúc bấy giờ phân hoá, có nhiều giai cấp, rất nhiều những bất công trong xã hội. Có thể tóm lược 4 đẳng cấp như sau:

    1. Bà La Môn: Gồm các đạo sĩ có kiến thức uyên bác, là đẳng cấp lãnh đạo về tinh thần.

    2. Sát Đế Lỵ: Gồm giới quý tộc dòng dõi vua chúa, là đẳng cấp nắm quyền cai trị nhân dân.

    3. Phệ Xá: Gồm giới Nông, Công, Thương.

    4. Thủ Đà La: Hàng tôi tớ lao động.

    Riêng giai cấp hạ tiện (Paria) bị loại ra khỏi đẳng cấp cuối, bị đối xử như thú vật, ai cũng có quyền đánh, giết.

    B. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT:
    1. Sự ra đời của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:

    Từ cung trời Đâu Xuất, Bồ tát Hộ Minh quán chiếu và quyết định chọn cõi Ta Bà cho lần tái sinh sau cùng của mình.

    Một đêm, trong giấc ngủ an lành, hoàng hậu MAYA mộng thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào hông bên phải, sau đó bà thọ thai. Suốt thời kỳ mang thai, hoàng hậu MAYA được hoàn toàn khoẻ mạn, về cả thân lẫn tâm.

    Theo phong tục Ấn Độ, phụ nữ mang thai khi sắp sinh phải về nhà cha mẹ đẻ đợi ngày lâm bồn. Đang chuẩn bị lên đường, vào một buổi sáng đẹp trời, chim hót, hoa cười, hoàng hậu MAYA ra vườn thượng uyển để thưởng cảnh. Khi đến gốc cây Vô Ưu (Asoka), thấy màu sắc của hoa thật rực rỡ, hoàng hậu MAYA vịn cành định hái hoa, liền đó Thái tử ra đời. Bấy giờ là ngày trăng tròn tháng Veaka nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch, vào năm 624 trước Tây lịch. Vườn thượng uyển gọi là vườn Lâm Tỳ Ni (Lum Bi Ni) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).

    Người trị vì nước này là Vua Tịnh Phạn, thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca) đã đặt tên cho Thái tử là Siddharta (Tất Đạt Đa) nghĩa là “Người được toại nguyện”. Các đạo sĩ Bà La Môn được mời đến đoán vận mạng của thái tử. Quan sát 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của thái tử, họ kết luận đây là bậc chuyển luân thánh vương hoặc nếu xuất gia sẽ thành bậc chánh đẳng chánh giác. Riêng tiên A Tư Đà, sau khi nhìn tướng mạo thái tử đã cười vang rồi lại khóc ròng. Khi được hỏi vì sao, nhà tiên tri giải thích là ông vui vì Thái tử sẽ đắc quả Phật và sẽ giảng pháp cứu đời nhưng ông đau buồn vì mình không thể sống đến ngày Thái tử chứng quả để được nghe pháp.

    2. Cuộc sống của Thái tử TẤT ĐẠT ĐA:
    a. Cuộc sống cung đình:

    Bảy ngày sau khi thái tử ra đời, hoàng hậu MAYA thác sinh về cung trời Đao Lợi. Thái tử được dì là Mahabaxàbađề nuôi dưỡng. Thái Tử được giáo dục rất hoàn mỹ. Đến tuổi đi học, Thái tử nổi tiếng thông minh, văn võ toàn tài, lại luôn khiêm tốn, lễ độ, được mọi người yêu quý.

    Năm mười sáu tuổi, Thái tử kết hôn cùng công chúa Daduđàla, sau khi đã thắng tất cả các vương tôn, công tử trong các cuộc thi theo tục lệ. Con trai của Thái tử tên là La Hầu La (nghĩa là trói buộc).

    Vua cha xây cho Thái tử ba toà cung điện dành riêng cho từng mùa (mưa, nóng, lạnh) với đầy đủ tiện nghi và luôn có cung tần, mỹ nữ đêm ngày ca múa, săn đón mua vui cho Thái tử. Nhưng hạnh phúc thế gian không làm cho Thái tử say đắm, không đủ để Thái tử quên đi ấn tượng của lần theo cha đi dự lễ cày cấy vào năm lên 9 tuổi. Ngài đau xót khi thấy người và vật phải vất vả và khổ đau trong cuộc tranh sống (Lần ấy Thái tử đã ngồi dưới gốc cây theo lối kiết già và chứng nhập sơ thiền).

    b. Thái tử tiếp xúc với đời:

    Thái tử đã khẩn cầu vua cha để được du ngoạn ra ngoài hoàng cung.

    • Lần thứ nhất, ra cửa Đông: Ngài gặp một cụ già lưng còng, tóc bạc, mắt lòa.
    • Lần thứ nhì, ra cửa Tây: Ngài gặp người bệnh rên la khổ sở.
    • Lần thứ ba, ra cửa Nam: Ngài gặp một đám tang người đưa khóc kể sầu đau. Mỗi lần được người phu xa giải thích về những hình ảnh không thể tránh được ấy của cuộc sống, Thái tử càng nhận rõ hơn thực trạng đau khổ của kiếp người, của chúng sinh vì định luật sinh, già, bệnh, chết.
    • Lần thứ tư, ra cửa Bắc: Ngài gặp một vị sa môn, hình ảnh của sự thanh thoát, cao quý. Cuộc gặp gỡ này càng thúc bách nhu cầu tìm đạo giải thoát ở Ngài.

    Lão, bênh, tử là ba bức tường thành mà chúng sanh không thể vượt qua được, ngoài con đường giải thoát.

    3. Thái tử Xuất Gia:

    Nhận thấy vô thường và khổ đau bao trùm cuộc sống, một đêm, sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người đang ngủ say, Thái tử truyền Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc, lặng lẽ vượt thành, xuất gia tìm đạo.

    Theo hướng Đông Nam, hướng về dãy Hi Mã Lạp Sơn, Ngài vượt qua dòng sông A Nô Ma thì dừng lại, tự cắt tóc, cởi hoàng bào, trao gươm cho Xa Nặc, truyền dắt ngựa, mang tóc, áo bào, gươm báu trở về trình lại với vua cha ý chí xuất gia của mình. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng hai.

    Thái tử tìm đến học đạo với A La La Ca Lam, một đạo sư nổi tiếng đã chứng đắc Vô sở hữu xứ định. Không bao lâu, Ngài đã chứng đắc những gì Đạo sư đã chứng đắc. Được Đạo sư mời hợp tác giảng dạy chúng đệ tử, nhưng Ngài biết đây chưa phải là đích của giải thoát nên đã cáo từ. Rời thành Tỳ Xá Ly đến Vương Xá, thủ đô vương quốc Ma Kiệt Đà, Ngài gặp vua Tần Bà Xa La, được vua ngỏ ý nhường lại nửa vương quốc, Ngài đã từ chối. Đến thọ giáo với Uất Đầu Lam Phất, cũng chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đã đạt được thành quả như thầy, chứng đắc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ định. Biết rằng đây vẫn còn ở trong vòng sinh tử, Ngài lại ra đi. Chẳng còn ai để tìm đến học, Ngài quyết định tự thực hiện lấy cứu cánh giải thoát, cùng 5 anh em Kiều Trần Như tu khổ hạnh.

    Trong 6 năm, Ngài tự ghép mình vào những phép tu đau đớn cùng cực của thể xác. Nhưng rồi Ngài cũng nhận ra cách tu cực đoan này chỉ làm tổn hại cả thể chất và tinh thần, không thể dẫn đến giải thoát nên Ngài quyết định chấm dứt việc tiết thực, ăn uống trở lại để lấy sức, tinh cần đi vào ngõ thiền định với kinh nghiệm của lần chứng Sơ thiền trong dịp theo vua cha dự lễ “xuống đồng” lúc nhỏ. Năm anh em Kiều Trần Như thấy Ngài thay đổi lối tu hành nghĩ là Ngài đã thoái chí cầu đạo nên cùng nhau bỏ đi nơi khác.

    Sau khi đã hồi phục sức khoẻ, sa môn Cồ Đàm chọn một gốc cây lớn nơi khu rừng xanh tươi cạnh dòng sông Ni Liên. Ngài tọa thiền với lời thệ nguyện: “Chỉ rời khỏi chỗ này khi nào chứng được quả giải thoát”.

    Giữ chánh niệm, Ngài tỉnh giác hành thiền. Ma vương tìm mọi cách quấy phá nhưng không lay chuyển được Ngài.

    Vào đêm trăng tròn tháng chạp (có sách ghi là mùng 8 tháng chạp), Ngài chứng ngộ chánh giác. Canh một, Ngài thấu suốt các kiếp sống quá khứ và nẽo tái sinh của mình, chứng tuệ giác đầu tiên là Túc mạng minh. Sang canh hai, Ngài thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình và chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, chứng Thiên nhãn minh. Đến canh ba, Ngài tác ý nghịch chiều duyên khởi, biết rằng đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh, tâm Ngài thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, chứng tuệ giác cuối cùng là Lậu tận minh. Đúng vào lúc sao Mai vừa mọc, Ngài tác ý thuận và nghịch chiều duyên khởi, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc bấy giờ, quả đất rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.

    Sau đêm thành đạo, Đức Phật còn tiếp tục tham thiền cho đến hết 49 ngày. Ma vương tiếp tục phá phách nhưng không được, cuối cùng đành khẩn cầu Ngài đi thẳng vào niết bàn. Đức Phật trả lời là Ngài chỉ nhập diệt sau khi đã có một giáo hội bền vững.

    4. Đức Phật truyền đạo:

    Chấp nhận lời thỉnh cầu truyền bá giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Phật nghĩ ngay đến A La La Ca Lam, nhưng bằng tuệ nhãn, Ngài biết vị này vừa qua đời tuần trước. Nghĩ đến Uất Đầu Lam Phất, Ngài dùng tuệ nhãn biết vị này vừa từ trần đêm qua. Đức Phật lại nghĩ đến 5 anh em Kiều Trần Như, biết họ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại, Ngài quyết định đến đó. Tại đây, Ngài thuyết pháp Tứ Diệu Đế (còn được gọi là kinh Chuyển pháp luân, truyền bá con đường Trung đạo) độ lần lượt cho cả 5 anh em. Như vậy là ngôi Tam Bảo đã được thành hình.

    Tiếp đó, Đức Phật độ cho Da Xá và chưa tròn 2 tháng, Ngài đã có 60 đệ tử đạt quả vị A La Hán, lập thành Giáo hội Tăng già, có trách nhiệm hoằng dương chánh pháp.

    Cảm hoá 3 anh em Ca Diếp, 3 nhà tu sĩ khổ hạnh thờ lửa, giáo đoàn của Đức Phật có trên 1000 vị. Sau khi độ cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (2 vị trước đó theo Bà La Môn giáo) chứng đắc quả vị A La Hán, Đức Phật triệu tập tất cả đệ tử để tấn phong Đức Xá Lợi Phất làm Đệ nhất đệ tử và Đức Mục Kiền Liên làm Đệ nhị đệ tử.

    Trong 49 năm thuyết pháp và giáo hoá, Đức Phật đã độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Ngài cùng các đệ tử đi hoằng hoá trong 9 tháng nắng, còn 3 tháng mưa thường tập trung ở các tịnh xá chuyên tu và hướng dẫn đệ tử.

    5. Đức Phật nhập niết bàn:

    Vào năm 80 tuổi, Đức Phật quyết định nhập niết bàn. Ngài cùng chúng đệ tử đi đến rừng Sala của dòng họ Malla ở Kusinara. Rừng Sala đang trỗ hoa trái đầy cành.A Nan treo võng cho Đức Thế Tôn nằm giữa 2 cây Sala. Sau khi dạy đệ tử những lời sau cùng, Thế Tôn nhập định rồi viên tịch. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng 2.

    Những lời dạy sau cùng:

    Này A Nan, giáo pháp ta đã giảng dạy, sau khi ta diệt độ, pháp và luật ấy sẽ là đạo sư.

    Này A Nan, sau khi ta diệt độ, có thể bỏ đi những giới nhỏ nhặt, chi tiết.

    Này các vị Tì kheo, nếu có vị nào còn nghi ngờ hay thắc mắc gì về giáo lý của ta, về các phương pháp tu mà ta đã giảng dạy thời hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc. Thế Tôn hỏi 3 lần nhưng tất cả đều im lặng.

    Này các vị Tì kheo, sau khi Như Lai diệt độ, quý vị hãy lấy giới luật làm thầy, các pháp hữu vi là vô thường, hãy cẩn thận chớ có buông lung.

    Lễ hoả táng và dựng tháp tôn thờ xá lợi Phật:

    Giàn hoả thiêu không thể bắt lửa cho tới khi tôn giả Maha Ca Diếp kịp về đảnh lễ. Xá lợi Phật được chia làm 8 phần để dựng tháp tôn thờ tại các nước mà Đức Phật đã từng đi qua.

    II. TƯ:

    1. Sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa là một sự thị hiện của một vị Bồ Tát, vì đời mà vào đời để cứu đời.

    • 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử Tất Đạt Đa cho em biết: Tuy đấy là thân người nhưng lại vô cùng cao quý, đặc biệt hơn con người bình thường. Đó là báo thân của Đức Thế Tôn do công đức tu tập của nhiều kiếp về trước.
    • Những hiện tượng lạ sau khi Tất Đạt Đa đản sanh nằm ngoài tầm hiểu biết và giải thích của thế gian. Vì đó là những sự kiện báo hiệu về sự ra đời của bậc sẽ đạt quả vị Chánh đẳng Chánh giác.
    • Bằng trí tuệ thế gian, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật chứ không do hư cấu, tưởng tượng mà có.

    2. Đời sống của Thái tử tại cung đình là một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc thế gian, nhưng Ngài không bị đắm trước và cũng không bị ngã mạn.

    3. Việc Thái tử từ bỏ hạnh phúc thế gian để đi tìm hạnh phúc chân thật, tìm chân giải thoát là một gương sáng cho chúng sanh soi rọi. Điều này cho chúng ta nhiều suy nghĩ khi cứ loay hoay trong cuộc sống, đuổi bắt những bóng hạnh phúc như tiền tài, danh vọng, cái đẹp vật chất…

    Tình yêu thương không phải chỉ nói mà phải thể hiện bằng hành động, bằng quyết tâm tìm con đường cứu muôn loài thoát khổ đau, không còn vướng trong sinh tử, luân hồi.

    4. Dù Đức Phật đã chứng được lục thông nhưng không bao giờ Ngài sử dụng một cách vô cớ. Ngài sống bình thường như bao nhiêu người khác, bình thường mà gương mẫu, gần gũi với mọi người, dung dị, chan hoà.

    5. Tuỳ căn cơ chúng sanh mà Ngài hoá độ. Không chỉ nhận đệ tử xuất gia, thoát ly thế tục mà Đức Phật còn nhận đệ tử tại gia, quan tâm đến đời sống gia đình, xã hội qua các cư sĩ và hạnh phúc thế gian của họ. Ngài đã dạy về 6 mối tương quan xã hội, về 7 điều kiện để một xã hội hưng thịnh, về 10 điều để thành người lãnh đạo tốt. Toàn bộ giáo lý của Ngài đều tập trung vào việc ly tham, ly sân, ly si, giải thoát và tri kiến giải thoát. Con đường đi vào giải thoát là con đường trung đạo của 2 mặt nhận thức và hành động, mà biểu hiện rõ nét nhất là Bát chánh đạo.

    6. Bằng quá trình hoằng pháp của mình, Đức Phật đã khẳng định tính thực nghiệm, bình đẳng, trí tuệ, từ bi… của đạo Phật. Ngài là bậc chánh đẳng chánh giác, là một nhà giáo dục lý tưởng, là bậc thầy đầy đủ giới đức, định đức và tuệ đức, ra đời vì hạnh phúc của chúng sanh, tìm ra con đường giải thoát và chỉ dạy cho chúng sanh con đường đi đến giải thoát.

    III. TU:

    Qua bài học, em không những học được ở Đức Phật của chúng ta, mà còn học được ở cậu bé Tất Đạt Đa mới lên chín tuổi.

    • Vào cái tuổi mà mọi cậu bé đều chỉ nghĩ đến học hành và vui chơi những trò đá bóng, bắn bi …, thì Thái tử Tất Đạt Đa đã biết trầm tư về những vấn đề liên quan đến cuộc sống khổ cực của con người và loài vật, cũng như phát khởi lòng từ rộng lớn trước những vật lộn của chúng sanh.
    • Vào thời điểm sáng chói nhất, hạnh phúc nhất của một thanh niên vương giả, đầy uy quyền, Thái tử đã từ chối tất cả để dấn thân vào con đường vô cùng gian khổ, để nhắm đến mục đích tối hậu là cứu mình, cứu đời ra khỏi cuộc tử sinh. Do đó, em nguyện:
    • Tập hướng suy nghĩ của mình vào những vấn đề “Thoát tục” hơn là ăn uống, ngủ nghỉ, chơi đùa…
    • Tập trầm tư (không phải tưởng tượng hay hồi tưởng, những kỉ niệm, những cảnh sống tiện nghi đầy đủ…) để nhìn thấy được tính chất vô thường, vô ngã trong mỗi sự vật và trong chính bản thân ta cũng như hiểu đúng thực nghĩa của chữ khổ trong đạo Phật.
    • Tập trầm tư về những vấn đề hạnh phúc, danh vọng, quyền uy…để thấy rõ bản chất thật sự của những vấn đề này, để hiểu được ý nghĩa sự ra đi tìm đạo của Thái tử Tất Đạt Đa cũng như để vạch cho mình một cuộc sống tri túc và tiến đến “sống đạo”.
    • Biết tập trung tư tưởng thì bất cứ nơi nào cũng có thể thực hành thiền định. Đã có chân lý, đã có ngón tay chỉ đường, sao lại không gắng sức tu tập.
    • Luôn mở rộng lòng từ, luôn hoà ái, khiêm cung, học tập theo những đức tính của Thái tử Tất Đạt Đa.
    • Học theo gương sáng của Đức Phật, tự thân bỏ cái sai, tránh cái lỗi, giữ cái đúng. Không sử dụng quyền lực khi tiếp xúc với người khác, kết hợp tình thương và trí tuệ. Hiểu biết để hành động chứ không để thuyết giảng, nói cho hay. Đối với mọi người luôn yêu thương, nhẫn nhục, hy sinh.
    • Vâng lời Phật dạy: coi giới luật là thầy, kính Phật, trọng Tăng, luôn tinh tấn để giải thoát.
    • Thường xuyên sám hối nghiệp chướng để thuận duyên hành đạo.
    IV. CÂU HỎI:
    • Ý nghĩa ngày đản sanh và ý nghĩa xuất gia?
    • Vì sao khi quan sát nhân duyên, Bồ Tát Hộ Minh lại chọn cho mình lần tái sinh sau cùng là ở nước Ấn Độ?
    • Em có thể kể những tướng tốt của Thái tử Tất Đạt Đa? (Một số quý tướng: lòng bàn chân thẳng, gót chân thon, ngón tay và chân đều thon dài, tay chân mềm mại, răng đều đặn, giọng nói êm như giọng chim Ca Lăng Tần Già, mắt xanh có sợi lông trắng mịn giữa hai chân mày, có nhục kế trên đầu, vị giác nhạy bén, quai hàm sư tử).
    • Hãy kể về cuộc sống của Thái tử Tất Đạt Đa?
    • Về phương diện lịch sử, ngôi Tam Bảo có từ lúc nào? Hãy giải thích?
    • Từ con đường hoằng hoá của Đức Phật, em rút ra bài học gì cho bản thân?
    • Vì sao ta gọi Đức Phật là nhà giáo dục lý tưởng?
    • Câu nói: “Ngoài tuệ giác không có Phật giáo” muốn khẳng định điều gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  8. 8Năm hạnh của người Phật tử
    Hình minh họa: Năm hạnh của người Phật tử.

    Chuẩn bị:

    • Huy hiệu hoa sen.
    • Tranh vẽ chư Phật, chư Bồ tát tượng trưng cho 5 hạnh.

    Giờ học:

    1. Em nghe:

    (Có thể dùng các chi tiết trong lịch sử Đức Phật để chứng minh từng hạnh. Sử dụng tranh vẽ để giới thiệu).

    Năm hạnh của người Phật tử cần theo dõi để tu học là:
    • Tinh tấn: Luôn luôn tiến tới, chuyên cần tu học, không nản lòng trước khó khăn thử thách, không thối chí trước mọi khó khăn nguy hiểm, tượng trưng cho hạnh này là Đức Phật Thích Ca.
    • Hỷ xả: Vui vẻ, vất bỏ tất cả những gì buồn phiền, âu lo, luôn luôn giữ sự hân hoan trong lòng cũng như trên nét mặt, rộng lượng tha thứ những gì người khác làm cho mình đau buồn, oan ức. Tượng trưng cho hạnh này là Đức Phật Di Lặc.
    • Thanh tịnh: Sạch sẽ, trong trắng, trang nghiêm và yên lặng. Giữ trong sạch từ thân thể đến lời nói, ý nghĩ, việc làm. Đừng để tâm mình bị xấu xa, làm rung động, tạo tham lam. Tượng trưng cho hạnh này la Đức Phật A Di Đà.
    • Trí huệ: Sáng suốt, hiểu biết cùng khắp, không bao giờ để sự ngu si mê mờ lấp trí mình, phải lo học hỏi để càng ngày càng thêm thông hiểu sáng suốt. Tượng trưng cho hạnh này là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.
    • Từ bi: Đem vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài. Thương yêu kẻ khác và loài vật như thương mình. Cố gắng giúp đỡ người và vật bất kể lúc nào có thể giúp được. tượng trưng cho hạnh này là Bồ tát Quan Thế Âm.
    2. Em trả lời:
    • Em được nghe nói về 5 hạnh của người Phật tử trong bài học nào?
    • Kể tên 5 hạnh và cho biết ý nghĩa từng hạnh?
    • Tượng trưng cho hạnh tinh tấn là vị Phật nào? Tương tự với 4 hạnh còn lại
    3. Em cần nhớ:
    Năm hạnh của người Phật tử cần sống theo hằng ngày là:
    • Tinh tấn: Luôn luôn tiến tới, cố gắng tu học, không nản chí không sờn lòng.
    • Hỷ xả: Vui vẻ, bỏ hết phiền muộn và biết rộng lòng tha thứ.
    • Thanh tịnh: Trong sạch từ thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm.
    • Trí huệ: Hiểu biết cùng khắp, học hỏi để mở mang trí óc và nhận định sáng suốt.
    • Từ bi: Đem vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài và khôn mong cầu trả ơn.
    4. Em thực hành:
    • Sống đúng theo năm hạnh của người Phật tử.
    • Đi họp chuyên cần, gặp khó khăn không sờn lòng.
    • Vui vẻ tha thứ cho bạn bè, cho mọi người.
    • Sạch sẽ thân thể, giữ lời nói, việc làm và ý nghĩ luôn tốt đẹp.
    • Luôn luôn học hỏi cho tiến tới.
    • Thương người và vật.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  9. 9Tứ niệm xứ
    Hình minh họa: Tứ niệm xứ
    A. DẪN KHỞI:

    Tứ niệm xứ là 4 lãnh vực quán niệm, thuộc 4 chi phần trong 37 phẩm trợ đạo thuộc về pháp môn Thiền định. Hai kinh “Quán niệm hơi thở” và “kinh Niệm xứ” dạy về pháp tu Tứ niệm xứ. Đây là bốn pháp quán giúp cho hành giả nhận chân được bản chất của thế giới vạn hữu là vô thường, vô ngã, không, là nhân duyên sinh. Để giúp cho hành giả có đủ ý thức tự mình tinh cần để giải thoát mọi ràng buộc khổ đau để đạt đến sự giải thoát an lạc tuyệt đối.

    B. NỘI DUNG:
    I. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ NIỆM XỨ:

    Tứ niệm xứ là bốn pháp quán về 4 lãnh vực: thân thể, cảm thọ, tâm ý, vạn pháp.

    1. Thân niệm xứ (Quán thân bất tịnh):

    Thân thể là do được kết hợp giữa Ngũ uẩn với sự dẫn dắt của thần thức để thọ sanh từ tinh huyết của cha me, để thấy rằng tấm thân ngũ uẩn của chúng ta chỉ là một túi chứa đựng đầy những thứ bất tịnh ngay khi chưa chào đời, lúc còn sống và cả cho đến sau khi trút hơi thở cuối cùng thì cũng chỉ còn là một thi thể vô tri vô giác đón chờ sự phân hủy của thời gian.

    Đức Phật dạy chúng ta pháp quán Thân niệm xứ, cho chúng ta thấy rõ rằng tất cả là vô thường (từ tốt đẹp trở thành uế trược), để từ đó giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác không còn nương tựa chấp trước, tham ưu bất cứ một vật gì ở trên đời này.

    2. Thọ niệm xứ (Quán thọ thì khổ):

    Theo nghiệp thức để thọ nhận thân thể nầy, mà hữu thân thì hữu khổ vì chính đây là mầm chính của đau khổ. Cảm thọ có 3 lãnh vực:

    + Khổ thọ: Thọ nhận những thứ khó chịu về thức ăn, khí hậu, tâm lý trong cuộc sống như: Đắng, cay, nóng, lạnh – ghen ghét, tức giận.

    + Lạc thọ: Thọ nhân những thứ (thú vui) phù hợp với lòng tham ái về vật chất, tâm lý trong cuộc sống như: ngon ngọt, mát mẻ, thương yêu …

    + Xả thọ: xả bỏ bớt những thứ đã nhận lảnh của khổ thọ cũng như lạc thọ. Phật dạy: “tất cả mọi thú vui của thế gian đều là nguyên nhân đưa đến khổ”.

    3. Tâm niệm xứ (Quán tâm vô thường):

    Là cái nhận biết phân biệt của con người, một trong ngũ uẩn: đó là “Tâm ý”, luôn luôn biến chuyển, thay đổi thay theo từng sát na, theo từng sự việc để rồi sanh ra vọng tưởng phiền não. Để đối trị với các vọng chấp, Phật dạy phép quán này nhằm giúp chúng ta nhận rõ cái tâm vô thường để chuyển đổi từ tâm mê sang tâm ngộ, phải phá trừ ngã chấp để vượt thoát sanh tử luân hồi.

    4. Pháp niệm xứ (Quán pháp vô ngã):

    Pháp là đối tượng của tâm ý, là thế giới vạn hữu, trong đó thân chúng ta không có tự thể, thế giới vạn hữu trong vũ trụ không có cái gì tự mình tồn tại độc lập mà phải nương vào nhau mà sinh tồn đó chính là nguyên tắc “nhân duyên sinh” của đạo Phật. Thế nhưng vì chúng ta chấp có tự tướng nên sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ, thử, quý trọng, khinh rẽ đưa đến sự tranh chấp, đấu tranh trong xã hội. Do vậy, Pháp quán vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo, nhằm mục đích xóa bỏ quan niệm sai lầm về:

    + Một đấng thần linh sáng tạo ra vũ trụ

    + Rời bỏ quan niệm chấp trước vào hữu ngã.

    II. CÁC CẤP ĐỘ TU TẬP TỨ NIỆM XỨ:

    Căn bản của pháp quán Tứ niệm xứ là dựa vào 16 đề mục trong pháp quán niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 4 lãnh vực Thân – Thọ – Tâm – Pháp:

    1. Cấp độ 1: thực hành theo tư thế kiết già (hay bán già) theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra (theo câu nói thầm lần lượt theo 16 đề mục qua 4 lãnh vực nêu trên). Thời gian thực tập từ 1 đến 2 tháng.

    2. Cấp độ 2: vừa theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra, đồng thời theo dỏi thân và tâm giữ niệm theo nội dung cũng theo nội dung 16 đề mục trên. Thời gian cho đến khi thuần thục.

    3. Cấp độ 3: tiếp tục theo dõi hơi thở, nhưng xem hơi thở như là đối tượng chính để buộc tâm, theo dõi thân hành để biết rõ đường hơi thở vào ra, giữ chánh niệm tĩnh giác. Lưu ý trong cấp độ này chỉ khởi “Tưởng” chứ chưa khởi “Quán”, chỉ nỗ lực tu tập niệm lực và hành thiền chỉ. Mục đích nhiếp phục tham ưu.

    4. Cấp độ 4: tập buộc niệm vào đối tượng (nghĩ đến vô thường của thân, của tâm …). Đây là thời gian tu tập về Định lực, hành thiền chỉ. Mục đích đối trị hôn trầm và trạo cử.

    5. Cấp độ 5: tiếp tục cấp độ 4, nhưng sau 30 phút thì chuyển qua tập hành “Thiền quán”. Mục đích để đối trị 5 triền cái (trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi).

    6. Cấp độ 6: Phối hợp giữa tu tập “Chỉ” và “Quán”, tùy theo tâm lý thích ứng của hành giả từng thời, tùy theo tâm trạng để thực hành: nếu tâm rơi vào “trạo cử” thì hành “Thiền chỉ”, nhưng tâm rơi vào thụ động thì hành “Thiền quán”. Điều quan trọng là suốt thời gian hành thiền phải giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác.

    C. SUY NGHIỆM:

    Tứ niệm xứ là một pháp quán nhằm giúp chúng ta loại bỏ tâm niệm “Nhân, ngã, bỉ, thử”, vì chỉ khi nào loại bỏ được tâm niệm này chúng ta mới thoát ly được sanh tử luân hồi để tiến bước lên con đường dẫn tới Phật quả.

    D. TU TẬP:

    Để việc tu tập pháp quán Tứ niệm xứ đạt hiệu quả cao, chúng ta cần có một số công việc phải làm để hổ trợ cho việc hành “Thiền chỉ” và “Thiền quán”:

    1. Xếp đặc cuộc sống cá nhân:

    Để có một nếp sống điều hòa (ăn, ngũ, làm việc, nghĩ ngơi, tu tập) sẽ giúp cho chúng ta có được một tâm lý quân bình, thuận lợi cho việc tu tập.

    2. Thực hành trong cuộc sống:

    Các hạnh “Bố thí” và “Trì giới” để giúp chúng ta nuôi dưỡng các tâm lý thiện vì tâm lý nầy rất gần gủi với Thiền tâm.

    3. Các việc sắm lễ, các niệm “khởi sám”:

    Là nguyên nhân giúp tâm chúng ta trở về với sự an tịnh trước khi thực hành thiền.

    4. Thực hành hạnh “Nhẫn nhục”:

    Vì kham nhẫn là đức tính dễ loại bỏ các chấp ngã, kiêu mạn, giúp chúng ta dễ đi vào chánh niệm tĩnh giác loại bỏ được yếu tố gây ra trạo cử, si mê trong lúc hành thiền.

    5. Khi ngồi Thiền cần lưu ý:

    + Thân hành: ngồi thẳng lưng, giữ thân trong tư thế nghỉ ngơi (các cơ hoàn toàn được xã).

    + Tâm hành: trú tâm vào “chánh niệm tĩnh giác”

    Trên đây là những cấp độ để thực hành Thiền Tứ niệm xứ. Tuy nhiên khi bước vào việc thực hành, công tác đầu tiên là phải tìm cho mình một y chỉ sư để giúp mình thực tập để đi đúng chánh pháp hầu khỏi lạc vào ma thiền.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm I · Nhận thức5 bài

  1. 1Mục đích và châm ngôn của Gia Đình Phật Tử

    Mục đích Gia Đình Phật Tử

    Hình minh họa: Mục đích Gia Đình Phật Tử

    Văn:

    1. Qúa trình hình thành và phát triển GĐPT:
    a. Giai đoạn khởi đầu:

    Từ năm 1932 đến năm 1940: Từ phong trào chấn hưng Phật giáo của sư Khánh Hoà, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám được quý thầy và đạo hữu tín nhiệm sáng lập đoàn Đồng Ấu Phật tử và Gia đình Phật hoá.

    Từ năm 1940-1944: Đoàn Phật học Đức Dục ra đời, là nơi đào tạo trưởng cho hai đoàn đã có. Cư sĩ Đinh Văn Nam hoạt động mạnh trong giai đoạn đầu (cư sĩ Đinh Văn Nam tức Hoà thượng Thích Minh Châu).

    b. Giai đoạn phục hưng:

    Do ảnh hưởng những năm cuối của chiến tranh Thế giới II, các hoạt động đều tạm ngưng. Mãi đến 1947, ba tổ chức trên tái sinh hoạt với tên gọi Gia Đình Phật Hoá Phổ.

    c. Giai đoạn phát triển:

    Năm1951, một Đại hội thống nhất các Gia Đình Phật Hoá Phổ được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) lấy danh hiệu chung là Gia Đình Phật Tử.

    2. Mục đích của GĐPT:

    Sau công cuộc thống nhất giáo hội năm 1963, mục đích của GĐPT được tu chỉnh vào năm 1964 và không thay đổi cho đến nay: Mục đích của GĐPT nhằm “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”.

    Tư:

    1. Việc hình thành và phát triển GĐPT là do công đức sâu dày của quý thầy, quý bác, quý anh chị đã đầu tư để góp phần giáo dục thế hệ trẻ tin Phật.

    2. Tiến trình phát triển GĐPT là công sức của nhiều thế hệ trong đó có chính chúng ta, chúng ta phải tỏ ra xứng đáng (bằng chính việc tu học của bản thân và góp phần xây dựng Đội, Chúng, Đoàn, Gia đình,…).

    3. Tương lai của GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay. Sinh hoạt, học tập theo đúng tinh thần, mục đích của GĐPT là góp phần xây dựng GĐPT vững mạnh.

    Tu:

    1. Tu và học, biết và làm, nói và làm, … đó là những điều cần được em thực hiện tốt.

    2. Hãy bắt đầu từ những việc đơn giản nhất và cơ bản nhất (nhưng cũng sẽ là khó nhất nếu ta thiếu quyết tâm) là: làm tất cả các việc lành và xa lìa các việc xấu, ác.

    3. Biết tuân kỷ luật, nghe lời anh chị trưởng.

    IV. CÂU HỎI:

    1. Em ghi nhớ được điều gì trong quá trình hình thành và phát triển GĐPT?

    2. Tại sao nói tương lai GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay?

    3. Em phải làm gì để xứng đáng là một đoàn sinh của GĐPT?

    4. Mỗi ngày trung bình em làm được mấy việc thiện? Số việc ác bằng, ít hay nhiều hơn số việc thiện mỗi ngày? Em làm sao để nhớ, biết điều đó? Em có sổ việc thiện không? Tại sao?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

    Hình minh họa: Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)

    I. VĂN:
    1. Nguồn gốc:

    Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là: HOÀ – TIN – VUI.

    Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG.

    2. Ý nghĩa:

    BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật.

    TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý.

    DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ.

    Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG.

    Tư:

    • Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc.
    • BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính.
    • Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.
    • Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích.

    Tu:

    • Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẽ những khổ đau của người khác.
    • Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ.
    • Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp.

    Câu hỏi:

    • Châm ngôn là gì? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì?
    • Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG?
    • Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549 ) I. VĂN : 1. Nguồn gốc : Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là : HOÀ – TIN – VUI. Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG. 2. Ý nghĩa: BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý. DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG. II. TƯ : Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến  an vui, hạnh phúc. BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo. Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích. III. TU : Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẻ những khổ đau của người khác. Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ. Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp. IV. CÂU HỎI : Châm ngôn là gì ? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào ? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì ? Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG ? Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG? Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Năm điều luật
    Hình minh họa: 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử

    Văn:

    1. Giới thiệu:

    Trước năm 1951, theo đề cương tám điểm của bác Tâm Minh Lê Đình Thám, điểm thứ tư có ghi

    Phật tử sống trong Gia Đình Phật Hoá Phổ phải tuân hành 10 điều luật sau đây:

    • Phật tử học kinh, niệm Phật.
    • Phật tử kính mến cha mẹ và thuận thành với anh chị em.
    • Phật tử sống nhân từ đối với người và vật.
    • Phật tử lựa bạn tốt và mến thương bạn.
    • Phật tử vui buồn cùng chia, nhắc nhở nhau lánh dữ làm lành.
    • Phật tử giữ gìn lời nói ôn hoà, ngay thật.
    • Phật tử thật thà, siêng năng, thứ tự, sạch sẽ.
    • Phật tử sống giản dị và điều độ.
    • Phật tử sống giản dị và lạc quan.
    • Phật tử làm tròn bổn phận.

    Đến năm 1951, Đại hội Huynh trưởng GĐPT đã xây dựng nên Nội quy trình gồm 5 chương, 15 điều. Chương thứ nhất, điều thứ tư ghi:

    Luật của Thanh Thiếu Niên nam nữ và Huynh trưởng là:
    • Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
    • Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
    • Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
    • Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
    • Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.
    Luật của Oanh Vũ nam nữ có 3 điều luật riêng đó là:
    • Em tưởng nhớ Phật.
    • Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
    • Em thương người và vật.
    2. Ý nghĩa:
    a. So sánh hai giai đoạn này ta thấy:

    Ngày trước, luật nặng tính cách xây dựng cá nhân con người theo Nhân thừa. Giai đoạn thứ hai nhằm phát triển huệ trí, tiến đến giác ngộ và giải thoát.

    b. Phân tích:
    • Điều thứ nhất phù hợp với hạnh Tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.
    • Điều thứ hai thực hiện hạnh Từ bi mà Bồ Tát Quan Thế Âm là biểu tượng.
    • Điều thứ ba phù hợp với hạnh Trí tuệ mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng.
    • Điều thứ tư thực hiện hạnh Thanh tịnh của đức Phật A Di Đà.
    • Điều thứ năm thực hiện hạnh Hỷ xả của Đức Phật Di Lặc.

    Tư:

    1. Kỷ luật của đoàn thể hay pháp luật của quốc gia chỉ nhằm duy trì trật tự an ninh cho xã hội và con người chứ không nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát, giác ngộ. Còn giới luật của đạo Phật, luật của GĐPT là đóng ngõ ác đạo, mở cửa từ bi, trí tuệ, vào căn nhà giải thoát, giác ngộ của Đức Phật.

    2. Đọc luật phải giữ tâm thanh tịnh, không khí trang nghiêm để từng lời nói, từng âm thanh vang vọng trong tiềm thức, trong tư duy của ta, nhận ra những sai khuyết mà phát lồ sám hối, cũng như hướng đời mình đến các điều tốt đẹp để nở được bông hoa Phật tánh.

    3. Đọc luật là một hình thức tụng giới và phát tâm giữ luật như giữ giới, soi rọi cuộc đời mình. Luật là giáp phục của đoàn sinh GĐPT.

    Tu:

    1. Hằng ngày, sau khi thức dậy, em nhẩm đọc luật và phát tâm giữ luật hằng ngày.

    2. Hằng ngày, trước khi đi ngủ, em nhẩm đọc và kiểm lại bản thân nếu có sai phạm tức thì sám hối.

    3. Giữ luật như giữ gìn hơi thở và sự ăn uống để nuôi dưỡng sinh mạng, để tu tập Phật đạo.

    Câu hỏi:

    • Luật của Gia Đình Phật Hoá Phổ có mấy điều?
    • Luật của GĐPT dành cho Thanh Thiếu niên và Huynh trưởng gồm có những gì?
    • Luật của GĐPT dành cho cho ngành Đồng (Oanh vũ) có những điều gì?
    • Vì sao em cần giữ gìn giới luật?
    • Em cần đọc luật với tinh thần như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Ý nghĩa Huy hiệu Hoa sen và ý nghĩa màu Lam

    Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Hình minh họa: Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Văn:

    1. Giới thiệu:

    Trong giai đoạn tái sinh hoạt của tổ chức giáo dục của Phật giáo vào năm 1948, Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hoá Phổ gởi Tổng Hội một tờ trình xin lấy huy hiệu thống nhất cho tổ chức Gia Đình Phật Hoá Phổ là Hoa Sen trắng 8 cánh, nằm trong vòng tròn trắng, trên nền xanh lá mạ.

    Sau khi xem xét và duyệt thuận, bảng tham luận được trình qua Tổng Trị Sự Hội Phật Học Việt Nam công nhận, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã long trọng gắn huy hiệu này cho các anh chị Huynh trưởng và quý vị Tăng già cố vấn đỡ đầu cho tổ chức trong buổi lể ra mắt tái sinh hoạt chính thức của tổ chức này vào ngày 08.12 năm Mậu Tý nhằm ngày 06.01.1949 tại chùa Từ Đàm – Huế.

    2. Ý nghĩa:

    Hoa sen là biểu tượng của tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh.

    Ở trong bùn trong nước, hay ở trên không đều không bị ô nhiểm bởi bùn nước dù cho hình thức và hương sắc có khác nhau.

    • Vòng tròn trắng tượng trưng cho hào quang của chư Phật viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả mọi thể tướng của chúng sanh.
    • Nền xanh lá mạ là biểu tượng đầy hy vọng của tuổi trẻ có thể thành tựu đạo nghiệp trong môi trường được hào quang chư Phật toả chiếu.
    • Hoa sen tám cánh:

    + Ba cánh dưới tượng trưng cho Phật (giữa), Pháp (trái), Tăng (phải), là điểm nương tựa cho tất cả chúng sanh.

    + Năm cánh trên tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử. Cánh chính giữa to cao, tượng trưng cho hạnh tinh tấn – Đức Phật tiêu biểu cho hạnh này là Đức Bổn Sư Thích Ca; Cánh kế bên phải (từ ngoài nhìn vào) tượng trưng cho hạnh thanh tịnh – tiêu biểu là Đức Phật A Di Đà; Cánh kế bên trái tượng trưng cho hạnh hỷ xã – tiêu biểu là Đức Phật Di Lặc; Cánh cạnh hạnh hỷ xả (trái ngoài) tượng trưng cho hạnh trí tuệ – tiêu tiêu biểu là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát; Cánh cạnh hạnh thanh tịnh là từ bi (phải ngoài) – tiêu biểu là Đức Quán Thế Âm Bồ tát.

    3. Cách vẽ:
    • Vẽ một vòng tròn tâm O, đường kính là AB theo trục thẳng đứng, chia đường kính ra làm ba, vẽ một dây cung C1 C2 vuông góc với đường kính này ở điểm C (bằng1/3 AB).Như hình dưới đây:
    • Vẽ đường tròn đường kính 1/3 AB ở tâm O3, đó là cánh giữa ở dưới, hai bên là cánh Pháp và Tăng (theo hình).
    • Vẽ một vòng tròn tâm O1 đường kính CA1(2/3 AB), vẽ một dây cung tại điểm A2 cách đỉnh một đoạn bằng 1/3 của O1A1, tại điểm A3 cách đỉnh một đoạn bằng 2/3 O1 A 1 (dùng làm đỉnh 2 cánh ngoài).

    Tư:

    1. Hoa sen thật là một biểu tượng cao quý cho cả hai mặt nhập thế và xuất thế:

    1.1 Hoa sen đã đi vào ca dao, vào sách giáo khoa thư: “Trong đầm gì đẹp bằng sen … Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

    1.2 Chính khi mới chứng thành đạo quả, Đức Bổn Sư cũng đã quán chiếu một hồ sen để thấy được căn tánh của chúng sanh mà quyết định việc nói Pháp và cũng có thời Pháp là “Diệu Pháp Liên Hoa”.

    1.3 Và cũng chính trong một pháp hội, Đức Từ Phụ cầm hoa sen vàng đưa lên, chỉ một mình ngài Ca Diếp mỉm cười (Niêm hoa vi tiếu) để lãnh hội Chánh Pháp nhãn Tạng, làm vị Tổ đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

    2. Tinh tấn là yếu tố căn bản để thành tựu mọi việc.

    3. Thanh tịnh và hỷ xả là hai đức tính đặc thù của đấng Giác ngộ.

    4. Từ bi và trí tuệ là đức tính căn bản thành tựu nhân cách để tiến đến thành quả.

    5. Giữ giới là yếu tố căn bản để thực hiện hạnh, không rời giới mà hành động thì hạnh sanh. Hành thâm giới hạnh thì đức phát khởi.

    6. Ngày nay, huy hiệu hoa sen được coi là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo, in ngay đầu trong các văn kiện của giáo hội.

    Tu:

    1. Đeo Hoa Sen đúng cách: nam giữa đường sóng của đường túi áo phía trái; Nữ dưới hạt nút thứ hai từ cổ tính ra của áo dài.

    2. Giữ gìn quý trọng Hoa Sen như giữ gìn thân mạng, tư duy của mình như ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen.

    3. Không vứt bỏ huy hiệu Hoa Sen bừa bãi cũng như không buông lung tâm trí, làm việc sai quấy.

    4. Vẽ huy hiệu Hoa Sen vào trang đầu sổ tu học.

    Câu hỏi:

    • Huy hiệu Hoa Sen được hòa thượng Pháp chủ chính thức công nhận từ ngày, tháng, năm nào?
    • Ai là tác giả của huy hiệu Hoa Sen?
    • Huy hiệu Hoa Sen vì sao chỉ có 8 cánh?
    • Em hãy nói ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen?
    • Em phải có bổn phận như thế nào đối với chiếc huy hiệu Hoa Sen đã được trao? Tại sao?
    • Người Phật tử phải coi huy hiệu Hoa Sen như là một biểu tượng tinh thần thiêng liêng. Đúng hay sai? Tại sao?

    (Tham khảo cách vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện)

    Hình minh họa: Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Ý nghĩa màu lam

    Hình minh họa: Ý nghĩa màu lam

    Văn:

    Sau lễ ra mắt chính thức tái sinh hoạt Gia Đình Phật Hóa Phổ (ngày 08.12 năm Mậu Tý, tức chủ nhật ngày 06.01.1949) tại chùa Từ Đàm – Huế, đến cuối năm 1949 thì tổ chức GĐPHP đã có sự sinh hoạt khắp ba miền Nam, Trung, Bắc nhưng chưa có đồng phục chính thức.

    Năm 1950, BHD. GĐPHP Thừa Thiên hình thành. Chính BHD đầu tiên này đã hội họp nhiều lần và đi đến thống nhất chọn màu lam, màu khói hương trầm làm màu sắc chính cho màu áo của tổ chức. Trong bản tường trình lên Tổng Hội có viết:” Đây là màu khói hương trầm, tổng thể của mọi màu sắc, nói lên được tinh thần đồng sự, bình đẳng tuyệt đối của đạo Phật, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, quý tiện, nam nữ, nói lên được chí nguyện xả thân của người Phật tử.” (Muốn có màu lam, ta lấy mực Tàu mài đặc hoặc tán nhuyễn, hòa với màu xanh dương, đun sôi, nhuộm vải màu trắng, giặt sạch là ra màu lam).

    Bấy giờ chẳng những công nhận cho GĐPHP sử dụng màu lam là màu áo chính mà Tổng Hội còn quyết định đây là màu áo thường ngày (nhật bình) của Chư Tăng.

    Tư:

    Từ khởi đầu bản tường trình lên Tổng Hội Phật Giáo, màu áo lam đã thấm nhuần ý nghĩa:

    Màu Lam là màu khói hương trầm, tượng trưng cho sự thanh khiết, hướng thượng cao cả.

    Màu lam là màu hoại sắc, không loè loẹt, tổng hợp của nhiều màu, nói lên tinh thần bình đẳng tuyệt đối của Đạo Phật.

    Đồng phục màu lam còn toát lên ý nghĩa “đồng sự” của đoàn sinh GĐPT. Vào GĐPT, gia nhập tổ chức áo lam, em luôn giữ gìn nhân cách, phẩm hạnh để tự truyền Phật Đạo, tự thân quất ngã “Cái tôi” trong tinh thần xây dựng tự ngã hoà đồng.

    Tu:

    • Luôn tâm niệm màu lam: thiêng liêng, tôn quý nhưng gần gũi, hòa đồng. Khoác lên đồng phục màu áo lam, ta thấy tâm hồn cởi mở, phóng khoáng, cao thượng, dễ tha thứ.
    • Không mặc đồng phục áo lam trong lúc làm việc mưu sinh, không mặc áo lam mà ăn mặn vì đồng phục áo lam là lễ phục của tổ chức chúng ta.
    • Em quý kính áo lam và quyết tâm tự chế không phạm sai lầm, quyết làm những việc lợi ích cho quần sanh để xứng đáng với ý nghĩa màu lam: hiếu với cha mẹ, thuận thảo với anh chị em, bạn bè,… sẵn sàng giúp ích mọi người.

    Câu hỏi:

    • Màu lam chính thức được công nhận là sắc phục của tổ chức GĐPT sau sự kiện gì?
    • Em thấy màu lam ở những nơi nào?
    • Ý nghĩa màu lam?
    • Làm sao để nhuộm được màu lam?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Nhân quả
    Hình minh họa: Nhân quả

    Văn:

    Đối với dân tộc Việt Nam, có lẽ không mấy ai là không tin nhân quả. Đối với các em là con nhà Phật, thì Luật Nhân Quả các em đã được nghe qua lời dạy của các bậc cha mẹ từ lúc mới lên 5, lên 6. Hôm nay các em học lại cho kỹ để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

    Phật thuyết kinh Nhân Quả để giải thích cho chúng ta hiểu tại sao chúng sanh lại gồm có nhiều loài, ở trên không, dưới nước, cầm thú côn trùng, nhân thiên, A tu la. Mỗi loài đều có kẻ đẹp, người xấu, thân thể toàn vẹn hay tật nguyền đều do nhân quả mà ra.

    A. ĐỊNH NGHĨA:

    NHÂN là nguyên nhân, QUẢ là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không có Quả thì biết không có Nhân.

    B. NHỮNG ĐĂC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ:

    1. Nhân Quả là định luật hiện thật: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý Nhân Quả, Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên đời sống thực tế để thuyết giảng Lý Nhân Quả cho chúng ta hiểu.

    2. Nhân Quả chi phối tất cả: sở dĩ mọi thứ trên đời khác nhau vì được câu tạo bởi nghiệp nhân khác nhau. Vì thế định luật Nhân Quả chi phối tất cả sự vật. Định luật Nhân Quả không thiên vị, không bênh vực một ai. Không ai có thể phủ nhận hoặc sửa đổi định lý tất nhiên này.

    3. Nhân Quả là một Định luật rất phức tạp; Lý Nhân Quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên hệ, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả thường tạo nên phức tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, những ai có sự hiểu biết thấp, thường khó nhận thức được sự chính xác của Lý Nhân Quả và gây nên những ngộ nhận về Lý Nhân Quả.

    C. SƯ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ:

    Đức Phật dùng đạo lý Nhân Quả để giải thích sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan này rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó nhận định.

    1. Một Nhân tự nó không thể sinh ra Quả: Sự vật được hình thành giữa vũ trụ này đều do sự tổng hợp của nhiều nhân duyên. Một nhân không thể nào tự nó phát sinh ra quả được. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa tạo thành mà cần phải có các nhân khác giúp vào như đất, nước, ánh sáng mặt trời, phân bón… thì hạt lúa mới nẩy mầm được.

    2. Nhân nào Quả nấy: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy chứ không bao giờ tương phản, mâu thuẩn nhau. Nếu ta muốn có quả cam thì phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói cách khác, Nhân với Quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.

    3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Nhân, chính nó cũng là quả đồng thời của sự thuần thục của nhiều nhân duyên trước nó. Quả, chính nó cũng là nhân đồng thời cho sự phát sinh của quả khác. Ví dụ: tốt nghiệp đại học là kết quả của nhiều năm tháng học hành nhưng sự tốt nghiệp đó cũng là nhân chính cho sự tìm kiếm việc làm và ngược lại.

    D. SỰ LIÊN HỆ GIỮA NHÂN VÀ QUẢ QUA THỜI GIAN:

    1. Nhân Quả một thời: Nhân quả nối liền nhau. Nghĩa là vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng, như khi hai luồng điện âm dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian mới thuần thục.

    2. Nhân Quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này. Như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.

    3. Nhân Quả trong hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới có kết quả, nhân tạo đời này đến đời sau mới có kết quả; nghĩa là cần một thời gian khá lâu quả mới thuần thục. Ví dụ, trong đời sông hiện tại biết bố thí cúng dường thì đời sau sẽ được giàu sang.

    4. Nhân Quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới có kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến nhiều đời sau mới có kết quả. Ví dụ, muôn thoát khỏi sanh tử luân hồi phải cần trải qua nhiều kiếp tu hành.

    * Những ví du về Nhân Quả:

    1- Nhân Quả nơi hiện Cảnh: Rừng rậm (Quả) là kết quả của nhiều cây hợp lại (Nhân). Sự tàn phá rừng (Nhân) sẽ gây ra lũ lụt tàn phá nhà cửa ruộng vườn (Quả).

    2- Nhân Quả nơi tự Thân: Ăn uống điều độ, thường tập thể dục (Nhân) sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng (Quả).

    3- Nhân Quả nơi tự Tâm: Tánh tình, tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự chi phối của Luật Nhân Quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục. Học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.

    E. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ:

    Luật Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu. Không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đặt trọng tâm vào “nhân quả đối với con người”.

    1. Về phương diện thể chất:

    Thân tứ đại là do bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, và đo hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ như thế tiếp nôi mãi. Nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.

    2. Về phương diện tinh thần:

    Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta một tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình trong nếp sống hiện tại là quả. Tính tình và nếp sông này lại làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.

    Để nhận rõ phần tinh thần này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.

    F. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN:
    1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
    • Tham: Thấy tiền của người khác nổi lồng tham lam sinh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân, bị chủ đánh đập phải tàn tật hay bị nhà chức trách bắt giam, đánh đập tra tấn là quả.
    • Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con, phá hoại nhà là nhân, khi hết giận đau đớn nhìn thấy vợ con bệnh hoạn, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.
    • Si: Người si mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không còn biết sự hay dở, phải trái là nhân, làm cho gia đình lụn bại, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.
    2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:

    Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi xấu tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những kết quả sáng lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.

    Người không có tính tham lam, bỏn xẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thời. Người không nóng giận tức được sông trong cảnh hiền hòa, gia đình êm âm. Người không si mê theo sắc dục thì được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện.

    Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, người ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy.

    G. LƠI ÍCH ĐEM LAI CHO CHÚNG TA DO SƯ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ:

    1. Luật nhân quả tránh cho chúng ta những mê tín di đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:

    Luật nhân quả cho chúng ta thấy được những thực trạng của sự vật, không có gì là mơ hồ bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận thuyết chủ trương “Vạn pháp do một vị thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.

    2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính mình:

    Khi đã biết cuộc đời của mình là do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở nơi ai nữa? Lòng tin tưởng ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả tốt đẹp.

    3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách mốc:

    Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là vì đã cỏ thói quen ỷ lại kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã hiểu rõ tất cả hoàn cảnh mình đang hưởng thọ đều do chính mình gây ra. Người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại hay nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc, chỉ lo tự cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện để được hưởng kết quả tốt đẹp, thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giông ác để khỏi mang quả ác.

    4. Người hiểu Luật Nhân Quả chỉ lo tạo Nhân lành và nghĩ đến kết quả trước khi hành đông:

    Đã hiểu rõ những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ, nếu muôn được kết quả tốt đẹp trong tương lai thì hiện tại cần phải siêng năng làm những hành động có lợi cho mình, cho người, cho chúng sanh đúng theo lời Phật dạy.

    Tư:

    Chúng ta đã biết rõ giá trị của Luật Nhân Quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng vào đời sống hàng ngày.

    Em suy nghĩ: có người cả đời hiền từ mà gặp lắm tai nạn khổ sở, trái lại có người hung ác sao lại vẫn được bình an?

    Trong kinh Nhân Qủa có nói: Muốn biết nhân đời trước thì phải nhìn kết quả hiện tại đang thọ hưởng, muốn biết quả tương lai thì hãy xem nhân gây ra trong hiện tại.

    Vậy có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền lành, còn nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau họ sẽ chịu quả báo. Ví dụ như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ, thì do năm rồi họ làm có tiền của để dành. Còn cái nhân ăn chơi, không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.

    Có người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn khổ sở, là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả an vui. Ví dụ có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là do nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm tới họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó cổ nhân có câu:

    “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo

    Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”

    (Việc lành hay việc dữ đều có quả báo

    Chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).

    Do đó khi làm một việc gì, phái nghĩ đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều để phải chịu hậu quả đau khổ trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành ngày càng tăng trưởng. Và do sự gieo nhân lành toàn diện đó, từ địa vị Người, chúng ta có thể tiến dần đến quả vị Thánh hiền, được giải thoát giác ngộ.

    Tu:

    • Em ăn chay mỗi tháng ít nhất là hai ngày, vì đó là gieo nhân lành, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì quả phúc sẽ tròn đầy.
    • Xa lìa các việc ác, dù là việc ác nhỏ cũng không làm.
    • Luôn làm những việc thiện, dù là việc thiện nhỏ cũng không bỏ qua.
    • Hàng ngày thường xuyên niệm Phật, luôn nghĩ đến trí tuệ của chư Phật, các hạnh lành của chư vị Bồ tát một cách thiết tha để noi theo những hạnh lành ấy, đó là cách thực hành tốt đẹp nhất.

    Câu hỏi:

    • Hãy định nghĩa hai chữ NHÂN và QUẢ?
    • Hãy nêu đặc tính của Luật Nhân Quả?
    • Hãy nêu một ví dụ về Nhân Quả nơi tự tâm của mình?
    • Em hiểu thế nào câu nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”?
    • Hiểu biết Luật Nhân Quả đem lại lợi ích gì?
    • Đã hiểu rõ Luật Nhân Quả, em áp dụng vào đời sống như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Luân hồi
    Hình minh họa: Luân hồi

    A. giới thiệu:

    Sự sống chết, mất còn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với con người, từ xưa đến nay con người vẫn luôn băn khoăn thắc mắc lo âu và vấn đề này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức nghiên cứu nhằm tìm kiếm một đáp án để lý giải một cách hợp lý hầu giải tỏa sự âu lo và thắc mắc của con người về sự sống còn mất.

    Tuy nhiên càng truy tìm nghiên cứu, con người lại càng đưa ra những quan niệm sai lầm hơn, mà tiêu biểu là hai thuyết “Chấp thường và chấp đoạn” khi cho rằng con người chết rồi thì mất hẳn không còn gì tồn tại sau đó và khi chết rồi thì chỉ có thân xác bị tiêu hoại, nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi: để được hưởng những lạc thú an vui hay chịu cực hình đau khổ.

    Hai thuyết “Chấp thường” và “Chấp đoạn” trên đây đã có sự tương phản với nhau đều không hợp lý. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không hề bị đoạn diệt cũng không phải thường còn, theo cái nhìn và quán chiếu của đạo Phật vào thế giới hiện tượng là không có vật gì mới được sinh ra, cũng không vật gì bị mất hẳn, vạn vật đều do có sự tương quan nhân duyên kết hợp mà thấy có sự biến dị hoặc hoại diệt.

    B. nội dung:

    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Luân hồi dịch ở chữ (Samsãra) trong tiếng Phạn. Theo từ Hán còn gọi là Tăng-sa-lạc. Cũng còn gọi là: Sinh tử, sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục (Tự điển Phật học Huệ Quang-Tập 3.

    Luân là bánh xe; Hồi là quay tròn; Luân hồi là quay tròn như bánh xe.

    Tóm lại Luân hồi là: Chúng sinh tạo nghiệp, chết ở kiếp nầy rồi lại sinh vào kiếp khác, cứ quay vòng như vậy mãi mãi trong 3 cõi sáu đường.

    Và nếu muốn diệt trừ sự khổ của luân hồi lục đạo thì trước phải dứt nhân tham, sân, si vì đây là nguyên nhân khiến chúng sinh luân hồi trong tam giới lục đạo. Khi nào cắt đứt được ngã chấp và tham, sân, si thì cái khổ luân hồi cũng chấm dứt.

    II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI:

    Định luật Thành, Trụ, Hoại, Không: chi phối toàn thể vận hành của vạn vật chúng sanh, trong vũ trụ tất cả sự vật, từ nhỏ đến lớn đều không thể nào vượt thoát ra ngoài.

    1. Đất luân hồi:

    Như cái bình trước mặt chúng ta, nguyên liệu để thực hiện chính là “Đất”, qua thao tác của người thợ với nhiều công đoạn nó trở thành cái bình, trải qua thời gian sử dụng, cái bình bể nát và trở về với trạng thái nguyên thủy là đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn để nuôi sống cây cỏ, cây cỏ lớn lên tàn rụi để trở thành phân bón cho các cây khác hoặc làm thực phẩm cho các loại động vật. Động vật ăn cây cỏ vào, rồi bài tiết ra hoặc sau khi già nua chết đi lại trở về với đất cát. Bao nhiêu lần thay đổi hình dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, nhưng đất cát nó cũng lại trở về với đất cát, tùy theo vòng luân chuyển dài hay ngắn.

    2. Nước luân hồi:

    Nước ở sông hồ, biển cả bị sức nóng của mặt trời bốc thành hơi; hơi nước bay lên không trung gặp khí lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao, hồ, sông biển, hoặc gặp vùng lạnh quá thì đóng lại thành băng. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần xoay vòng mãi mãi, nhưng rồi nước vẫn là nước. Điều này chứng tỏ hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước thì vẫn không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.

    3. Gió luân hồi:

    Không khí bị sức nóng của mặt trời giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù lấp vào những khoảng trống đó, không khí những nơi khác chạy tới điền vào. Sự luân chuyển liên tục của không khí tạo thành gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, nhanh thì gió mạnh và nhanh hơn thì trở thành bão, nhưng rồi dù có thay đổi trạng thái nhanh hay chậm, thì bản chất của gió vẫn là không khí.

    4. Lửa luân hồi:

    Lửa là một sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chẳng thấy có sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát nhau thật mạnh một hồi thì lửa liền được bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt cháy cả hai thanh củi, khi cháy thì một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí. Những cây khác dùng rễ mình để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia khi hồi đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Điều này chứng tỏ lửa chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải đứt đoạn hay mất hẳn.

    5. Cảnh giới luân hồi:

    Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Quả thật vậy, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra khỏi đinh luật Thành, Trụ, Họai, Không. Mỗi phút giây đều có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác xuất hiện, như làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nối tiếp, làm nhân, làm quả cho nhau, tiếp nối không bao giờ dứt.

    6. Thân người luân hồi:

    Thân người do tứ đại hợp thành mà tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Với chất cứng dẽo như gia thịt, gân xương của con người chính là Đất; những chất lỏng nhữ máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, nhịp đập của trái tim, buồng phổi, cử động lên xuống, qua lại của tay chân là thuộc về Gió; hơi nóng trong con người thuộc về Lửa. Như trên ta đã rõ, tứ đại đều luân hồi thì con người vì lệ thuộc vào tứ đại nên cũng luân hồi theo vì khi thân nầy chết thì tất cả đều trả về cho tứ đại, và cứ thế vòng quay mãi mãi tiếp tục.

    7. Tinh thần luân hồi:

    Con người không phải chỉ có tứ đại mà còn có phần tâm lý hay nói một cách tổng quát đó chính là tinh thần, bao gồm tất cả mà đạo Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm có tứ đại là đất, nước, gió, lửa đạo Phật gọi là Sắc. Tứ đại là phần tạo nên sắc thân không hề tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì Tâm thức hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà cũng chỉ biến chuyển xoay vần theo nghiệp.

    Vậy nghiệp là một năng lực chứ nghiệp không phải là linh hồn, nghiệp có năng lực dẫn dắt hành động của mỗi chúng sanh. Do tính chất riêng ấy (biệt nghiệp) mà nghiệp lực mới dẫn dắt vào hình thức này hay hình thức khác do luật hấp dẫn (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu) mà chịu xuôi theo vòng luân hồi sanh tử.

    III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ:

    Khi mọi người đã hiểu luật nhân quả và tin vào luật nhân quả thì mọi người không thể không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi cũng chỉ là một chuỗi nhân quả có tính cách liên tục nhưng vì nó khi ẩn khi hiện, khi thăng khi giáng, khi mất khi còn, biến đổi dị dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.

    Chúng sanh vì mê mờ nên đã tạo tác ác nghiệp: hành động, tham lam, sân hận, si mê, nghi mạn, ác kiến … đó là những nhân ác thì phải gặt quả ác. Và chúng sanh tu học theo chánh Pháp: Tu năm giới và thập thiện, thường làm việc phước đức, làm những điều lợi lạc cứu khổ độ sinh, hộ trì Tam bảo … đó là tạo tác nhân lành thì gặt hái được quả lành, an lạc giải thoát, được sanh về các cảnh giới tịnh lạc và phước báo của chư thiên. Do sự tạo tác lành, dữ, thiện, ác mà chúng sanh phải luân hồi vào trong ba cõi, sáu đường theo luật nhân quả chắc chắn không sai.

    C. suy nghiệm:

    Giáo lý Luân hồi đã lý giải cho chúng ta được hiểu biết rõ về sinh diệt, còn mất của con người và vạn vật trong vũ trụ. Giúp cho con người hiểu rõ được thiện ác nghiệp báo theo luật nhân quả và giáo lý luân hồi cũng đem lại cho con người nhiều điều lợi ích:

    • Phá trừ được “đoạn kiến” sai lầm làm con người sinh ra chán nản, vì nghĩ rằng dù ta có cố gắng ăn hiền ở lành, sống đạo đức rồi cuối cùng chẳng đem theo được gì cả, chẳng hưởng được gì một khi chết đi thân thể bị tiêu hoại.
    • Phá trừ được “thường kiến” sai lầm làm cho con người tin rằng con người khi chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phước hay tạo tội cũng vậy. Do đó mà con người sống với nhau không có tình người, không thương yêu giúp đỡ nhau mà còn bóc lột cướp giật, hại nhân, gây tội ác …
    • Với giáo lý Luân hồi đem cho con người một niềm tin chân chính hợp lý: con người khi chết rồi không phải là mất hẳn mà chắc chắn có liên quan ảnh hưởng về nhân quả đối với kiếp sống hiện tại. Sống lành hay dữ, thiện hay ác, tạo tội hay phước, tức là tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp thì khi chết nghiệp lực đó sẽ dắt dẫn sinh vào trong vòng luân hồi của ba cõi sáu đường theo luật luân hồi nhân quả để chịu nghiệp. Giáo lý luân hồi cho con người tự tin là ta là chủ nhân của đời ta, ta tạo nghiệp nhân gì thì ta chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai thương hay ghét hoặc có quyền ban phước hay giáng họa cho ta cả.

    D. thực hành:

    Người Phật tử đã biết được ý nghĩa và giá trị của giáo lý luân hồi thì nên cố gắng tu tập theo đúng Chánh pháp, cải thiện thân tâm, tạo thiện nghiệp, tẩy sạch các nghiệp hữu lậu để gặt hái được quả lành để không còn trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử; nguyện được giải thoát sanh về các cảnh giới tịnh lạc bất sanh bất diệt của các vị A-La-Hán và chư Bồ Tát hay Chư Phật.

    Theo lời Phật dạy:“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng giác ngộ và giải thoát”

    Em quyết tâm tinh tấn tu tập theo Chánh Pháp:
    • Thường xuyên niệm Phật để tâm được an trú trong chánh niệm.
    • Xa lìa ác Pháp, hành động hướng theo các thiện Pháp đem lại lợi lạc cho chúng sinh để chuyển hóa khổ đau thành an vui.
    • Tu tập giới Định Tuệ để diệt trừ Tham ái, Sân si, Mạn, Nghi, Cố chấp và thù hận để được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường và thanh tựu được Phật quả.
    Chú thích:
    * Ba cõi: gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới:
    • Dục giới: là thế giới của ái dục, nơi đó chúng sinh còn tâm tham ái, dâm dục nên mỗi loài còn có phân biệt nam nữ, đực cái, trống mái. Thân thể được cấu tạo bằng ngũ uẩn.
    • Sắc giới: gồm những cõi mà chúng sinh đã thoát ly được tham dâm và tham thực, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh.
    • Vô sắc giới: gồm những cõi đã ly dục, không còn sắc thân vật chất, chỉ có tâm cảm với nghiệp lực.

    * Sáu đường: gồm có Địa ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, loài Người và cõi Trời:

    1) Địa ngục: do tạo nhân độc ác, làm nhiều điều tội lỗi, giết hại mạng sống, gây đau khổ cho chúng sinh, nên phải chịu luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ ải.

    2) Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, giúp người, từ tài vật đến ngôn ngữ và hành động. Trái lại còn mưu sâu và độc kế cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.

    3) Súc sanh: Tạo nhân si mê sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu sắc, tài khí, không biết hay dở, tốt xấu, thiện ác, chết rồi luân hồi làm súc sanh.

    4) A-Tu-La: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính khí hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A-Tu-La, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.

    5) Loài Người: Do tu nhân Ngũ giới: không sát hại mạng sống, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu say sưa thì đời sau sẽ trở lại làm người cao quý, an nhàn.

    6) Cõi Trời: Tránh mười điều ác tu nhân Thập Thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên biết rằng cõi Trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, vẫn còn chịu nhân quả sanh tử luân hồi. Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử luân hồi và đến bốn cõi Thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật thì phải tu nhân giải thoát (tu Pháp xuất thế gian).

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm I · Tu dưỡng2 bài

  1. 1Thọ Bát quan trai
    Hình minh họa: Bát quan trai giới
    A. DẪN NHẬP:

    Đức Phật Thích Ca nói Pháp gần 50 năm có đến 84.000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế nhưng không ngoài ba môn chính “giới, định, huệ”. Trong “giới, định, huệ” thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới, tâm mới định, tâm có định huệ mới phát sinh, Huệ có phát sinh mới trừ diệt được vô minh phiền não: vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: Có thứ cao, có thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia, Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tat Giới, Tam Quy. Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi. Bồ Tát Giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. bây giờ đây, chúng ta chỉ nói đến Bát Quan Trai Giới.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH DANH:

    Bát Quan Trai Giới là phép tu dành cho người tại gia tập pháp hạnh xuất gia áp dụng trong một ngày đêm (24 giờ).

    Chữ “Quan “là cửa ngăn chặn các điều tội lỗi. Vậy Bát Quan Trai Giới gồm 8 cánh, 7 giới và 1 trai, là 8 cánh cửa trai giới phòng hộ cho thân tâm, 8 cánh cửa ấy thứ tự như sau:

    • Không được sát sanh.
    • Không trộm cướp.
    • Không được dâm dục.
    • Không được nói dối.
    • Không được uống rượu.
    • Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
    • Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ.
    • Không được ăn quá giờ ngọ.
    II. Ý NGHĨA BÁT QUAN TRAI GIỚI:
    1. Không được sát sanh:

    Ý nghĩa vì sao không được sát sanh: Chúng sanh mặc dù hình dáng có khác nhau nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ, vui mừng. không cần phải dẫn chứng xa xôi, ngay trong sự quan sát hàng ngày chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp lẫn trốn vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy sự tham sống sợ chết, nỗi mừng vui, đau xót của muôn loài như thế mà chúng ta còn đang tâm giết hại thì tàn ác vô cùng.

    Từ trước đến nay, loài người giết hại rất nhiều sinh vật bằng mọi phương tiện, nào là dùng lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên, súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng mưu mô kế hoạch để chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng, nhưng về phía ác thì rất nhiều người ác vô cùng.

    Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo Từ Bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại người. Về sự sát hại người trong ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành, chúng ta cũng không nên động đến sanh mạng của tất cả mọi loại hữu tình. Hơn nữa, nếu có thấy ai có ý giết hại sinh vật chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.

    Được như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm nhưng sẽ lợi lạc vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.

    2. Không được trộm cướp:

    Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta từ bạc vàng châu báu, đất ruộng, nhà cửa cho đến đồ đạc, cây kim, sợi chỉ, cọng rau người ta không cho mà mình lấy là trộm cướp. Lường thăng tráo dấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại đều là trộm cướp.

    Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng có nhiều khi đau buồn vì mất của thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Đó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để được giải thoát thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa.

    Trong cuộc đời tranh đấu hàng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới này, chẳng hạn chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.

    Nhưng trong ngày Thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới đạo. Chúng ta nhất quyết không trộm cướp đã đành mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cướp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng ta khuyên can họ, ngăn ngừa họ không cho họ làm bậy.

    Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho người nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc trong cảnh túng thiếu.,

    Giữ được giới này một cách tuyệt đối thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ chúng ta cũng đã gieo trồng được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.

    3. Không được dâm dục:

    Dâm dục là cái nghiệp nhơn sanh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết Bàn, mà không trừ hẳn dâm dục thì khác nào kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu trải qua ngàn kiếp cũng không thành cơm”.

    Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.

    Còn những Phật tử tại gia chưa có thể hoàn toàn loại trừ dâm dục được thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng không được lang chạ, và giữa vợ chồng cũng phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

    Nhưng đấy là nói về ngày thường của Phật tử tại gia chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành mà không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.

    Nếu triệt để giữ đúng giới này thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.

    4. Không được nói dối:

    Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi 2 chiều,nói lời hung ác.

    Chúng ta đã thấy hằng ngày trong đời tai hại của sự nói dối, tại hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau: trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội không tin nhau thì xã hội sẽ điêu tàn.

    Trong đời sống hàng ngày, chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người xung quanh giữ đúng giới không nói dối.

    Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm chúng ta cũng đã gieo được một hạt nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này: Lòng chân thực.

    5. Không được uống rượu:

    Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống, nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay song chỉ giết chết một đời người thôi, chứ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sống lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Bởi thế trong kinh Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này chứ không nên uống rượu”. Chính là Phật tử, nghĩa là những người đang trau đồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu, tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chứ khuyên mời người khác uống tội lại nặng hơn.

    Song, trong lúc đau ốm, nếu Lương Thảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh thì chúng ta cũng được tạm dùng, khi đó rượu trở thành một vị thuốc chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.

    Đây là nói về ngày thường chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới chúng ta phải trừ tuyệt rượu không được uống đã đành mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.

    6. Không được trang điểm thoa dầu thơm múa hát và đi xem múa hát:

    Năm giác quan tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những điều hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say lòng, kích thích dục lạc thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.

    Phật cấm Phật tử trang điểm tô son trát phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.

    Nhưng trong đời sống hàng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh, trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tính cách trong sạch xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện đại các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca vũ cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tính cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.

    Trên đây là nói trong ngày thường, chứ trong ngày thọ giới Bát Quan Trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh trong đầu óc.

    Được như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.

    7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp rộng lớn:

    Điều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ 6, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích không nhiều thì ít lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa ngài Ngộ Đạt Quốc Sư là một bậc cao đức, được vua Ý Tôn và vua Hy Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý Tôn cúng cho ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quí báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngọ Đạt Quốc Sư mống niệm danh lợi thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau. Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm nên xưa ngài Hiếp Tôn Giả từ khi xuất gia lưng không nằm chiếu; Ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư Lập Nguyên: 3 năm không nằm giường chõng; Đức Phật Thích Ca trong khi xuất gia tìm đạo đã gối cỏ nằm sương từ năm này sang năm khác…

    Noi gương người xưa các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tính giản dị, đạm bạc ấy, nếu chưa làm được trong ngày thường thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới cũng phải triệt để thi hành giới thứ 7 này.

    8. Không được ăn quá giờ ngọ:

    Trong luật Phật dạy chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật phải ăn đúng ngọ.

    Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi sau đây:
    • Ít mống tâm sái quấy
    • Ít buồn ngủ
    • Dễ được nhất tâm
    • Ít hạ phong
    • Thân được yên ổn ít sanh bệnh

    Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm luật cũng được châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.

    Vì những lợi ích thiết thực nói trên nên người xuất gia cần phải thực hành còn Phật tử tại gia khi tu Bát Quan Trai Giới cũng phải giữ đúng giới này.

    C. SUY NGHIỆM:

    Như chúng ta đã thấy ở những đoạn trên, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời người của người không tu hành. Tuy lương rất ít mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là một giọt nước nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu nhưng đó là viên ngọc Ma Ni nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.

    Chúng ta hãy phân tách một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.

    • Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề về thịt cá, đối với chung quanh ta không làm cho người khác và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
    • Nhờ giới thứ Hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. đối với người xung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu quý trọng.
    • Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. đối với người bạn trăm năm, cùng những người xung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
    • Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa, đối với người xung quanh ta giữ được chữ tín làm cho mọi người khỏi lo sợ nghi ngờ ta.
    • Nhờ giới thứ Năm, miệng ta không nồng nặc hơi men, không nói điều nhảm nhí xằng bậy, thân ta không loạn động, ta không điên đảo. đối với người xung quanh ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
    • Nhờ giới thứ Sáu, tâm ta không dung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị âm thanh tà tạp danh ô…, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
    • Nhờ giới thứ Bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi xa hoa, thân ta không bị dục lạc lôi cuốn, đối với người xung quanh dễ gần gũi thân cận vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
    • Nhờ giới thứ Tám, tâm ta được định tĩnh sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng ít bệnh tật, đối với người xung quanh như người nghèo đói, ngạ quỷ súc sanh ta không gây ra sự thèm khát vì sự lục lạo ăn uống về đêm.

    Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu nhập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?

    Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày, suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần, nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần càng tốt.

    Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện ờ nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.

    D. TU TẬP:

    Là Đoàn viên Gia Đình Phật tử chúng ta nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, thu xếp thời gian dành thời gian để tham dự các khóa tu Bát Quan Trai tại trú xứ của Đơn vị, hãy tu theo hạnh giải thoát rồi khuyên nhiều người thực hành theo để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Quán Tứ niệm xứ
    Hình minh họa: Tứ niệm xứ
    A. DẪN KHỞI:

    Tứ niệm xứ là 4 lãnh vực quán niệm, thuộc 4 chi phần trong 37 phẩm trợ đạo thuộc về pháp môn Thiền định. Hai kinh “Quán niệm hơi thở” và “kinh Niệm xứ” dạy về pháp tu Tứ niệm xứ. Đây là bốn pháp quán giúp cho hành giả nhận chân được bản chất của thế giới vạn hữu là vô thường, vô ngã, không, là nhân duyên sinh. Để giúp cho hành giả có đủ ý thức tự mình tinh cần để giải thoát mọi ràng buộc khổ đau để đạt đến sự giải thoát an lạc tuyệt đối.

    B. NỘI DUNG:
    I. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ NIỆM XỨ:

    Tứ niệm xứ là bốn pháp quán về 4 lãnh vực: thân thể, cảm thọ, tâm ý, vạn pháp.

    1. Thân niệm xứ (Quán thân bất tịnh):

    Thân thể là do được kết hợp giữa Ngũ uẩn với sự dẫn dắt của thần thức để thọ sanh từ tinh huyết của cha me, để thấy rằng tấm thân ngũ uẩn của chúng ta chỉ là một túi chứa đựng đầy những thứ bất tịnh ngay khi chưa chào đời, lúc còn sống và cả cho đến sau khi trút hơi thở cuối cùng thì cũng chỉ còn là một thi thể vô tri vô giác đón chờ sự phân hủy của thời gian.

    Đức Phật dạy chúng ta pháp quán Thân niệm xứ, cho chúng ta thấy rõ rằng tất cả là vô thường (từ tốt đẹp trở thành uế trược), để từ đó giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác không còn nương tựa chấp trước, tham ưu bất cứ một vật gì ở trên đời này.

    2. Thọ niệm xứ (Quán thọ thì khổ):

    Theo nghiệp thức để thọ nhận thân thể nầy, mà hữu thân thì hữu khổ vì chính đây là mầm chính của đau khổ. Cảm thọ có 3 lãnh vực:

    + Khổ thọ: Thọ nhận những thứ khó chịu về thức ăn, khí hậu, tâm lý trong cuộc sống như: Đắng, cay, nóng, lạnh – ghen ghét, tức giận.

    + Lạc thọ: Thọ nhân những thứ (thú vui) phù hợp với lòng tham ái về vật chất, tâm lý trong cuộc sống như: ngon ngọt, mát mẻ, thương yêu …

    + Xả thọ: xả bỏ bớt những thứ đã nhận lảnh của khổ thọ cũng như lạc thọ. Phật dạy: “tất cả mọi thú vui của thế gian đều là nguyên nhân đưa đến khổ”.

    3. Tâm niệm xứ (Quán tâm vô thường):

    Là cái nhận biết phân biệt của con người, một trong ngũ uẩn: đó là “Tâm ý”, luôn luôn biến chuyển, thay đổi thay theo từng sát na, theo từng sự việc để rồi sanh ra vọng tưởng phiền não. Để đối trị với các vọng chấp, Phật dạy phép quán này nhằm giúp chúng ta nhận rõ cái tâm vô thường để chuyển đổi từ tâm mê sang tâm ngộ, phải phá trừ ngã chấp để vượt thoát sanh tử luân hồi.

    4. Pháp niệm xứ (Quán pháp vô ngã):

    Pháp là đối tượng của tâm ý, là thế giới vạn hữu, trong đó thân chúng ta không có tự thể, thế giới vạn hữu trong vũ trụ không có cái gì tự mình tồn tại độc lập mà phải nương vào nhau mà sinh tồn đó chính là nguyên tắc “nhân duyên sinh” của đạo Phật. Thế nhưng vì chúng ta chấp có tự tướng nên sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ, thử, quý trọng, khinh rẽ đưa đến sự tranh chấp, đấu tranh trong xã hội. Do vậy, Pháp quán vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo, nhằm mục đích xóa bỏ quan niệm sai lầm về:

    + Một đấng thần linh sáng tạo ra vũ trụ

    + Rời bỏ quan niệm chấp trước vào hữu ngã.

    II. CÁC CẤP ĐỘ TU TẬP TỨ NIỆM XỨ:

    Căn bản của pháp quán Tứ niệm xứ là dựa vào 16 đề mục trong pháp quán niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 4 lãnh vực Thân – Thọ – Tâm – Pháp:

    1. Cấp độ 1: thực hành theo tư thế kiết già (hay bán già) theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra (theo câu nói thầm lần lượt theo 16 đề mục qua 4 lãnh vực nêu trên). Thời gian thực tập từ 1 đến 2 tháng.

    2. Cấp độ 2: vừa theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra, đồng thời theo dỏi thân và tâm giữ niệm theo nội dung cũng theo nội dung 16 đề mục trên. Thời gian cho đến khi thuần thục.

    3. Cấp độ 3: tiếp tục theo dõi hơi thở, nhưng xem hơi thở như là đối tượng chính để buộc tâm, theo dõi thân hành để biết rõ đường hơi thở vào ra, giữ chánh niệm tĩnh giác. Lưu ý trong cấp độ này chỉ khởi “Tưởng” chứ chưa khởi “Quán”, chỉ nỗ lực tu tập niệm lực và hành thiền chỉ. Mục đích nhiếp phục tham ưu.

    4. Cấp độ 4: tập buộc niệm vào đối tượng (nghĩ đến vô thường của thân, của tâm …). Đây là thời gian tu tập về Định lực, hành thiền chỉ. Mục đích đối trị hôn trầm và trạo cử.

    5. Cấp độ 5: tiếp tục cấp độ 4, nhưng sau 30 phút thì chuyển qua tập hành “Thiền quán”. Mục đích để đối trị 5 triền cái (trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi).

    6. Cấp độ 6: Phối hợp giữa tu tập “Chỉ” và “Quán”, tùy theo tâm lý thích ứng của hành giả từng thời, tùy theo tâm trạng để thực hành: nếu tâm rơi vào “trạo cử” thì hành “Thiền chỉ”, nhưng tâm rơi vào thụ động thì hành “Thiền quán”. Điều quan trọng là suốt thời gian hành thiền phải giữ tâm luôn luôn chánh niệm tĩnh giác.

    C. SUY NGHIỆM:

    Tứ niệm xứ là một pháp quán nhằm giúp chúng ta loại bỏ tâm niệm “Nhân, ngã, bỉ, thử”, vì chỉ khi nào loại bỏ được tâm niệm này chúng ta mới thoát ly được sanh tử luân hồi để tiến bước lên con đường dẫn tới Phật quả.

    D. TU TẬP:

    Để việc tu tập pháp quán Tứ niệm xứ đạt hiệu quả cao, chúng ta cần có một số công việc phải làm để hổ trợ cho việc hành “Thiền chỉ” và “Thiền quán”:

    1. Xếp đặc cuộc sống cá nhân:

    Để có một nếp sống điều hòa (ăn, ngũ, làm việc, nghĩ ngơi, tu tập) sẽ giúp cho chúng ta có được một tâm lý quân bình, thuận lợi cho việc tu tập.

    2. Thực hành trong cuộc sống:

    Các hạnh “Bố thí” và “Trì giới” để giúp chúng ta nuôi dưỡng các tâm lý thiện vì tâm lý nầy rất gần gủi với Thiền tâm.

    3. Các việc sắm lễ, các niệm “khởi sám”:

    Là nguyên nhân giúp tâm chúng ta trở về với sự an tịnh trước khi thực hành thiền.

    4. Thực hành hạnh “Nhẫn nhục”:

    Vì kham nhẫn là đức tính dễ loại bỏ các chấp ngã, kiêu mạn, giúp chúng ta dễ đi vào chánh niệm tĩnh giác loại bỏ được yếu tố gây ra trạo cử, si mê trong lúc hành thiền.

    5. Khi ngồi Thiền cần lưu ý:

    + Thân hành: ngồi thẳng lưng, giữ thân trong tư thế nghỉ ngơi (các cơ hoàn toàn được xã).

    + Tâm hành: trú tâm vào “chánh niệm tĩnh giác”

    Trên đây là những cấp độ để thực hành Thiền Tứ niệm xứ. Tuy nhiên khi bước vào việc thực hành, công tác đầu tiên là phải tìm cho mình một y chỉ sư để giúp mình thực tập để đi đúng chánh pháp hầu khỏi lạc vào ma thiền.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm II · Phật pháp – Kiến thức8 bài

  1. 1Tu Phật – Học Phật

    Tham khảo thêm

    Học Phật

    • Học Phật là học hiểu lời Phật dạy qua kinh điển, qua quý Thầy, qua sách Phật học. Học có hai bước: nghe, đọc cho biết (văn) và suy nghĩ, quán xét cho hiểu (tư).

    Tu Phật

    • Tu là sửa: sửa lại thân, khẩu, ý cho tốt đẹp theo lời Phật dạy. Tu là thực hành những điều đã học vào đời sống hằng ngày (tu).
    • Ba môn học căn bản của người tu Phật là Giới, Định, Tuệ (tam vô lậu học; Pali: sīla, samādhi, paññā).

    Học và tu phải đi đôi

    • Học mà không tu thì như người đếm tiền cho người khác: biết nhiều nhưng không chuyển hóa được phiền não của mình.
    • Tu mà không học thì dễ mê tín, tu sai đường.
    • Người đoàn sinh ngành Thanh vừa học hiểu giáo lý, vừa thực hành qua: giữ giới, niệm Phật, thiền tập, làm việc thiện, sống Lục hòa trong Đoàn.

    Câu hỏi thảo luận

    • Kể một điều em đã học trong Phật pháp và em đã thực hành được ra sao.
    • Vì sao có người đi chùa lâu năm mà tính tình không thay đổi?
  2. 2Phân biệt Kinh, Chú, Kệ

    Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )

    Hình minh họa: Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )
    A. GIỚI THIỆU:

    Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.

    B. NỘI DUNG:

    I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:

    • Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
    • Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
    • Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
    II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:

    Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.

    Vậy đại ý hai thời công phu là:
    1. Thời kinh sáng:

    Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:

    • Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
    • Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
    • Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
    • Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
    • Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
    • Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
    • Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
    • Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
    • Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
    • Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
    • Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
    • Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.

    Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.

    Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.

    2. Thời kinh chiều:

    Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.

    • Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
    • Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
    • Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
    • Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
    • Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
    • Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.

    Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.

    Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.

    3. Hai thời sóc vọng:

    Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.

    C. THỰC HÀNH:

    Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.

    Câu hỏi:
    • Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
    • Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
    • Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
    • Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Phân biệt Kinh, Chú, Kệ

    Bậc Hòa

    • Kinh (sūtra): lời Phật dạy được kết tập, có nội dung giáo lý; ví dụ kinh A Di Đà, Bát Nhã Tâm Kinh.
    • Chú (dhāraṇī, mantra): những câu tiếng Phạn được giữ nguyên âm, không dịch nghĩa, tụng để nhiếp tâm; ví dụ chú Đại Bi, chú Vãng Sanh.
    • Kệ (gāthā): những bài văn vần, thường tán thán hoặc tóm ý giáo lý; ví dụ kệ khai kinh, kệ hồi hướng.
    • Xem thêm bài “Đại ý Kinh – Chú – Kệ” ở trên.
  3. 3Hệ thống tổ chức 1 đơn vị Gia Đình Phật Tử

    Tham khảo thêm

    Hệ thống tổ chức một Gia đình Phật tử

    • Cố vấn Giáo hạnh: vị Tăng, Ni hướng dẫn tinh thần, đạo hạnh cho Gia đình.
    • Gia trưởng: phụ huynh được mời làm đại diện, hỗ trợ Gia đình.
    • Ban Huynh trưởng: Liên đoàn trưởng, Liên đoàn phó (nam, nữ), Thư ký, Thủ quỹ và các Đoàn trưởng; điều hành mọi sinh hoạt của Gia đình.
    • Các ngành: Oanh Vũ (ngành Đồng), Thiếu, Thanh; mỗi ngành chia Nam, Nữ.
    • Mỗi Đoàn có Đoàn trưởng, Đoàn phó; Đoàn chia thành các Đội (Thiếu nam), Chúng (Thiếu nữ), Đàn (Oanh Vũ).

    Lưu ý

    • Chi tiết tổ chức theo Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Quy chế Huynh trưởng hiện hành.

    Gợi ý hoạt động

    • Các em vẽ sơ đồ tổ chức của chính Gia đình mình, ghi tên các anh chị trong Ban Huynh trưởng.
  4. 4Ứng dụng Bi – Trí – Dũng vào cuộc sống

    Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

    Hình minh họa: Châm ngôn : BI – TRÍ – DŨNG

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)

    I. VĂN:
    1. Nguồn gốc:

    Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là: HOÀ – TIN – VUI.

    Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG.

    2. Ý nghĩa:

    BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật.

    TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý.

    DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ.

    Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG.

    Tư:

    • Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến an vui, hạnh phúc.
    • BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính.
    • Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.
    • Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích.

    Tu:

    • Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẽ những khổ đau của người khác.
    • Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ.
    • Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp.

    Câu hỏi:

    • Châm ngôn là gì? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì?
    • Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG?
    • Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549 ) I. VĂN : 1. Nguồn gốc : Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là : HOÀ – TIN – VUI. Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG. 2. Ý nghĩa: BI là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong BI phải có TRÍ, có DŨNG. Người Phật tử sống theo châm ngôn BI không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. TRÍ là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ, nhận rõ được chân lý và sự thật, biết cách và có thể dứt trừ mọi khổ não. Người Phật tử không cam tâm chịu ngu dốt, u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý. DŨNG là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó, giải đải. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Tóm lại, đem cả cuộc đời làm mọi việc lành cho chúng sanh là BI. Dốc lòng tu tập đạo giải thoát và giúp đỡ, khai sáng cho mọi người cùng học hỏi như mình, tuỳ thời cơ mà áp dụng phương pháp diệt khổ gọi là TRÍ. Nêu cao tinh thần thực hành các pháp đối trị dục lạc, vọng tưởng, vững bước trên đường tu tập giác ngộ chính là DŨNG. II. TƯ : Châm ngôn là lời nói ngắn gọn, hay, có thể làm kim chỉ hướng cho hành động của mình trong cuộc sống để đạt đến  an vui, hạnh phúc. BI – TRÍ – DŨNG có sẵn trong tự tánh của mỗi chúng ta. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG là lên đường về nguồn, là khởi điểm mà cũng là hành trang của đạo diệt khổ, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính. Thực hành BI – TRÍ – DŨNG trên mọi lãnh vực trong cuộc sống là cải chuyển nghiệp quả, gây tạo nghiệp lành tức là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo. Xem BI – TRÍ – DŨNG như ngọn đuốc soi đường, như kim chỉ hướng cho thuyền đời thì hành trình đến bờ giác ngộ sẽ được rút ngắn và chắc chắn sẽ đến đích. III. TU : Em yêu thương tất cả mọi người, mọi loài và sẵn sàng chia sẻ những khổ đau của người khác. Em cố gắng trau giồi kiến thức, học hỏi giáo lí Phật dạy, thực hành giữ giới để phát sáng trí tuệ. Tinh tấn tu tập, luôn hành thiện pháp, giữ vững ý chí để thực hành cho được chí nguyện phụng sự đạo pháp. IV. CÂU HỎI : Châm ngôn là gì ? Trước 1964, Châm ngôn GĐPT như thế nào ? Từ năm 1964 đến nay, Châm ngôn của GĐPT gồm những gì ? Em hiểu thế nào là BI – TRÍ – DŨNG ? Hãy cho biết mối quan hệ giữa BI – TRÍ – DŨNG? Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Ứng dụng Bi – Trí – Dũng vào cuộc sống

    Ứng dụng

    • Bi: sống với lòng thương; giúp đỡ người khó khăn, không làm khổ ai bằng lời nói, việc làm; tham gia công tác xã hội của Đoàn.
    • Trí: học hành chăm chỉ; biết phân biệt đúng sai, không chạy theo đám đông; trước khi làm việc gì thì suy xét nhân quả.
    • Dũng: dám nhận trách nhiệm, dám nhận lỗi, dám từ chối điều xấu (rượu bia, cờ bạc, bạn xấu); kiên trì vượt qua khó khăn.
    • Ba đức này phải đi chung: có Bi mà thiếu Trí thì dễ thương sai cách; có Trí mà thiếu Bi thì khô khan; có Dũng mà thiếu Bi, Trí thì thành liều lĩnh.

    Thảo luận

    • Mỗi người kể một tình huống thật trong đời sống học đường, gia đình và cách ứng dụng Bi – Trí – Dũng.
  5. 5Quan niệm về bạn: ân oán, tốt xấu, thiện ác

    Kinh Thiện Sinh

    Hình minh họa: Kinh Thiện Sinh

    A. DẪN NHẬP

    Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.

    B. NỘI DUNG:
    I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:

    Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.

    II. KINH VĂN:

    Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.

    Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.

    * Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.

    * Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.

    * Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.

    Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
    • Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
    • Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
    • Tránh xa sáu nghề hao tài vì:

    + Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.

    + Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.

    + Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.

    + Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.

    + Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.

    + Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.

    Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.

    + Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.

    + Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.

    + Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.

    + Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.

    Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.

    + Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.

    + Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.

    + Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.

    + Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.

    III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG

    Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương

    • Phương Đông là cha mẹ
    • Phương Nam là thầy dạy
    • Phương Tây là vợ chồng
    • Phương Bắc là bạn bè thân thích
    • Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
    • Phương Hạ là người giúp việc.

    1. Phương Đông: Cha mẹ

    • Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
    • Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
    2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
    • Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
    • Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.

    3. Phương Tây: Vợ chồng

    • Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
    • Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.

    4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc

    • Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
    • Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.

    5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng

    • Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
    • Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.

    6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp

    • Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
    • Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên

    Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.

    C. SUY NGHIỆM:

    Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì

    D. TU TẬP:

    Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Quan niệm về bạn: ân – oán, tốt – xấu, thiện – ác

    Bạn tốt, bạn xấu

    • Trong kinh Thiện Sinh (bài ở trên), Đức Phật dạy cách nhận ra bạn giả và bạn thật. Bạn giả: người chỉ biết lấy, người chỉ nói giỏi mà không làm, người nịnh hót, người rủ rê ăn chơi. Bạn thật: người giúp đỡ, người cùng chia sẻ vui buồn, người khuyên điều lợi ích, người có lòng thương mình.
    • Gần bạn tốt (thiện tri thức) là điều rất quan trọng trên đường tu học.

    Ân – oán

    • Nhớ ơn và đền ơn người đã giúp mình.
    • Với người làm hại mình: Đức Phật dạy hận thù không thể dập tắt hận thù, chỉ có lòng từ bi mới dập tắt được hận thù (kinh Pháp Cú). Tha thứ không phải là yếu đuối mà là giải thoát cho chính mình.

    Thiện – ác

    • Thiện là điều đem lại lợi ích cho mình và người, hiện tại và về sau; ác là điều gây khổ cho mình và người.
    • Đừng vội đánh giá người khác là tốt hay xấu mãi mãi: con người có thể thay đổi; giúp bạn sửa sai thay vì xa lánh.

    Thảo luận

    • Khi bạn thân rủ làm điều sai, em xử sự thế nào để vừa giữ tình bạn vừa giữ được điều đúng?
  6. 6Nguyên tắc ứng dụng: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Lục hòa, Lục độ, Kinh Thập thiện

    Tứ Diệu Đế

    Hình minh họa: Tứ Diệu Đế

    A. GIỚI THIỆU: Nguyên nhân và thời kỳ Phật giảng Tứ Diệu Đế lần đầu tiên.

    Tứ Diệu Đế là thời Pháp thứ hai (Thời A Hàm) của Đức Thích Ca, sau khi Ngài thành đạo tại gốc cây Bồ Đề liền nghĩ đến đem giáo lý mà Ngài vừa chứng được ra truyền bá giác ngộ chúng sanh, nhưng giáo lý mà Ngài chứng thì quá cao siêu thâm diệu còn phần đông chúng sanh căn cơ thấp kém khó có thể giác ngộ nhanh như Ngài; nhưng không vì chúng sanh khó giáo hóa mà Ngài không làm tròn nhiệm vụ hóa độ.

    Do đó, Ngài đã quyết định phải tuỳ duyên và phương tiện nói Pháp Tứ Diệu Đế là để chúng sanh dễ nhiếp thọ tu hành. Phật quán sát căn cơ của năm người bạn cùng tu với Ngài trước kia là: Kiều Trần Như, Thập Lịch, Bạc Đề, Ác Bệ và Mahanam Câu Ly có thể khai ngộ diệu Pháp, Đức Phật đi đến Vườn Lộc Uyển là nơi họ đang tu tập nói Pháp Tứ Diệu Đế.

    Sau ba phen chuyển Pháp luân Tứ Diệu Đế (Thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển) đã phá vỡ được nghi hoặc và thành kiến mê lầm của năm vị này, do đó mà trí tuệ siêu thoát được xuất hiện và năm vị này chứng nhập quả vị La Hán. Kể từ đây danh nghĩa của đoàn thể tăng già được thành lập có đầy đủ ba ngôi báu: Phật – Pháp – Tăng.

    B. nội dung:

    I. ĐỊNH NGHĨA:
    • Tứ Diệu Đế là 4 chân lý của nhà Phật, còn gọi là Tứ Thánh đế, Tứ chân đế hay Tứ đế gồm có: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vì lý là chân chính nên gọi là Chân đế và là sở kiến của các bậc Thánh giả nên gọi là Thánh đế (*).
    • Đế tiếng Palị là Satya; tiếng Phạn là Sacca; có nghĩa là chân thật không hư dối. Đây là 4 chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo chân thật không hư dối. Bốn chân lý nầy là chỗ thấy biết của bậc Thánh nên gọi là Tứ Thánh đế. Về mặt đại thể Tứ Đế là sự quy nạp thuyết “Thập nhị duyên khởi” mà Phật giáo dùng để giải thích các hiện tượng trong vũ trụ, là đại cương của giáo nghĩa nguyên thủy. Tứ đế theo thứ lớp được gọi là Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế, hoặc là Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, Khổ diệt đạo thánh đế hoặc Khổ đế, Khổ tập đế, khổ tận đế, Khổ xuất yếu đế hoặc Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Chân thánh đế, Đạo thánh đế. Trong đó Khổ và Tập biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới mê vọng, còn Diệt và Đạo biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới chứng ngộ. Tức Quả hữu lậu thế gian là Khổ đế, Nhân hữu lậu thế gian là Tập đế. Quả vô lậu xuất thế là Diệt đế, Nhân vô lậu xuất thế là Đạo đế (**).
    II. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ ĐẾ:
    1. Khổ Đế (Tiếng Palị là Duhkha-satya; tiếng Phạn là Duhkha-sacca):

    Chỉ chung cho trạng thái thân tâm bị bức bách khổ não, chỉ rõ mọi giả tướng của thế gian đều là khổ, và cuộc đời là một bể khổ mênh mông. Đây chính là chân đế về “sinh tử quả thật là khổ” là các sự thật Về các khổ hữu lậu trong 3 cõi.

    a. Nhị khổ:
    • Nội khổ: khổ của thân tâm.
    • Ngọai khổ: Khổ do sự tác động từ bên ngoài như giặc cướp, chiến tranh, thiên tai.

    b. Tam khổ: Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ.

    • Khổ khổ: Đối với cảnh bất như ý mà cảm thụ sự khổ.
    • Hoại khổ: Đối với sự tan vở, hủy hoại của cái mình yêu mến mà cảm thụ khổ.
    • Hành khổ: Thấy tất cả thế gian đều vô thường mà cảm thụ khổ.

    c. Bát khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Ái biệt ly, Oán tăng hội, Cầu bất đắc và Ngũ ấm xí thạnh khổ.

    d. Thập bát khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh.

    e. Tam khổ về thân và tâm:
    • Về thân: Lão, bệnh, tử.
    • Về tâm: Tham, sân, si.

    Từ Sanh đến Oán tăng hội thuộc về Khổ khổ: là tự tướng của Khổ.

    Ái biết ly, Cầu bất đắc thuộc Hoại khổ: là tự tướng của Hoại.

    Tất cả những khổ thuộc về năm thủ uẩn thì thuộc hai vô thường: là tướng của Hành.

    Từ sinh khổ đến cầu bất đắc khổ là khổ thuộc về Thế tục đế, vì đó là cảnh giới trí thế gian.

    Tất cả các khổ thuộc về năm thủ uẩn là khổ thuộc về Thắng nghĩa đế.

    2. Tập Đế (Tiếng Palị là Samudaya-satya; tiếng Phạn là Samudaya-ariya sacca):

    Nguyên nhân sự khổ do tích luỹ từ nhiều đời, nhiều kiếp cũng có và mới tạo tác cũng có, các phiền não ẩn chứa tập họp lại từ nhiều kiếp thì gọi là Tập nhân phiền não. Đây chính là chân đế về sự sinh khởi và nguồn gốc của các khổ mà con người ở thế gian phải chịu.

    Sự khổ đã không cùng thì nguyên nhân sinh khổ cũng vô tận. Phân tích và tổng hợp lại không ngoài mười nguyên nhân sau: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến.

    Tính chất của các nguyên nhân: Mười nguyên nhân sinh khổ não còn có tên là mười kiết sử. Kiết có nghĩa là trói buộc; sử là sai khiến. Mười phiền não này (kiết sử) chúng có mãnh lực trói buộc loài hữu tình không cho thoát ra khỏi ba cõi và sai sử chúng sanh lăn trôi trong sinh tử luân hồi chịu trầm luân khổ ải. Kiết sử có thứ chậm lụt nhưng có gốc lớn sâu dày, khó tu sửa. Có thứ thì ở khơi khơi, thuộc phần ý thức. Thứ gốc rễ sâu dày gọi là độn sử, gồm năm kiết sử đầu. Thứ kiết sử ở phần động của ý thức nên nhanh nhẹn, nhưng nếu được người khai đạo thì nó tự tiêu trừ, gồm năm kiết sử sau, còn gọi là lợi sử.

    • Mười kiết sử xuất hiện trong Tứ Đế thăng giáng ở ba cõi tạo thành 88 món kiến hoặc và 81 món tự hoặc.
    • Kiến hoặc là những nhận biết sai lầm ý thức, khi được khai phóng tức có thể xả ly đoạn diệt.
    • Tư hoặc thì phải đến bậc Tu Đạo, nghĩa là thứ lớp chứng đắc mới có thể chứng được.
    3. Diệt Đế (Tiếng Palị là Nirodha-satya):

    Diệt là tịch diệt, xét rõ sự thật và đoạn trừ cội gốc các khổ cùng ái dục thì được khổ diệt, nhập vào cảnh giới Niết bàn (diệt ở đây có nghĩa là diệt vô minh, dục vọng, phiền não. Khi diệt xong các loạn tặc ấy, chắc chánh hành giả sẽ vĩnh viễn ly sinh tử luân hồi, được tự tại an vui tịch lạc). Diệt đế chính là chân đế về sự diệt tận Khổ vả Tập.

    a. Thứ lớp đoạn hoặc: Tập nhân phiền não rất phức tạp, có thứ nông cạn dễ dứt trừ, có thứ sâu kín khó dứt. Do vậy có hai thứ lớp đoạn hoặc:

    • Kiến đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm thuộc 5 kiết sử đầu, khi hành giả tu tập thấy được Chánh Pháp (ngộ đạo) thì mới đoạn diệt được.
    • Tu đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm sâu kín ăn sâu vào gốc rễ của Tâm thức, biến thành thói quen như sự chấp ngã, sự say đắm nhục dục, tham, giận, kiêu mạn v.v… hành giả phải tinh tấn tu hành phát huy trí tuệ, xả ly tham ái thì mới đoạn trừ được 5 Kiết sử sau.

    b. Các tầng bậc tu chứng: có bốn bậc tu chứng từ thấp đến cao như sau:

    1b.- Tứ Gia Hạnh: Hành giả phải qua bốn gia hạnh sau mới đoạn trừ được 88 món kiến sử hoặc:

    • “Noãn vị”: Noãn là hơi nóng; vị là địa vị. Người xưa muốn có lửa thì phải dùng hai thanh tre cọ sát cho có sức nóng thì lửa sẽ phát ra. Người tu đạo muốn có lửa trí tuệ cũng phải qua giai đoạn tạo ra hơi nóng. Tuy nhiên hơi nóng lửa trí tuệ chưa đốt cháy được củi phiền não; hành giả cần phải tu tập trải qua giai đoạn “Noãn vị”.
    • “Đảnh vị”: Đảnh là chóp cao; vị là địa vị. Thấy biết được gốc của mê lầm, nhưng chưa giải trừ được. Người tu đã bước lên đến chóp đỉnh cao của mê lầm, nhưng chân chưa rời khỏi chóp núi mê lầm.
    • “Nhẫn vị”: Các Pháp sanh diệt chạy nhảy lăng xăng, rất nhiều vi tế phiền não nổi lên nhưng ta đều kham nhẫn, giữ được tín tâm, không thối xuất. Trí giác ngộ gần sáng tỏ, tâm giữ được sự tĩnh lặng không dao động chao đảo mặc dù các Pháp ẩn lăng xăng nên gọi là nhẫn.
    • “Thế đệ nhất vị”: Tu quả vị này là bậc cao quý nhất trong đời, là công phu rất to tát, chỉ còn phá bỏ phần kiến hoặc, cái lầm của Phi phi tưởng thì thoát khỏi Dục giới, được quả Tu Đà Hoàn, quả vị đầu tiên của Thanh Văn Thừa.

    2b.-Tu Đà Hoàn: Hán dịch là dự lưu quả (dự vào dòng Thánh). Đã đoạn được “kiến hoặc”, không còn mê lầm, ý thức đã sáng suốt nhưng thất thức còn chấp ngã, nên phải qua bảy lần sanh lại Dục giới mới gọt sạch các kiết sử phiền não thầm kín, nằm nép trong tâm thức để chứng A La Hán quả.

    3b.- Tư Đà Hàm: Hán dịch là Nhất lai, nghĩa là còn một phen sanh lại cõi Dục để tu hành và dứt cho sạch phần mê lầm để đoạn trừ “tư hoặc”, mới tiến đến bực A-la-hán.

    4b.- A Na Hàm: Hán dịch là Bất Lai nghĩa là không còn sinh tại cõi Dục nữa, mà sinh về cõi trời Ngũ tịnh cư thuộc, tại đây phải tu luyện để dứt sạch “vi tế hoặc”mới chứng đắc A La Hán quả.

    5b.- A La Hán: Đây là quả vị cao nhất trong hàng Thanh văn. Hán dịch có ba nghĩa:

    • Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí tuệ hơn cả, đáng làm phước điền cho chúng sanh cúng dường.
    • Phá ác: Vị nầy đã phá tan những phiền não tội ác, không còn bị chúng khuấy phá sai sử trói buộc nữa.
    • Bất sanh: Vị nầy không còn xoay vần trong sanh tử luân hồi, vì đã phá trừ được phiền não là yếu tố của sanh tử luân hồi.
    A la hán có 2 bực (tùy theo căn cơ chậm lụt):
    • Bất hồi tâm độn A la Hán: là vị A la hán trầm không trệ tịch, tự thỏa chí vào địa vị đã chứng, chứ không phát tâm xoay về Đại thừa.
    • Hồi tâm đại A la hán: là vị A la hán lợi căn, lợi trí, phát tâm xoay về Đại thừa rộng lớn chứ không tử mãn ở địa vị đã chứng.
    c. Giá trị của Tứ quả Thanh Văn:

    Đây là kết quả của công phu tu tập mà quả vị chứng được do việc đoạn trừ mê lầm nhiều hay ít ngay khi còn sống đã chứng đắc, chứ không phải chết mới chứng đạt. Như ở quả vị Tu Đà Hoàn thì gọi là “kiến đạo sở đoạn” nghĩa là ý thức đã đã tương đương với “Huệ tâm sơ”, sáng suốt, trực nhận đạo lý một cách rõ ràng. Còn các vị sau, thuộc về “Tu đạo sở đoạn”, nghĩa là sau khi gột rửa các chủng tử mê lầm (tư hoặc) của thức A lại da mới chứng được. Tuy thế do sự dứt trừ phiền não sâu hay cạn, mà diệu dụng của mỗi quả vị khác nhau. Vì thế mà ngay ở địa vị “Kiến đạo sở đoạn” là đã thành tựu năm phép thần thông. Từ đây chỉ còn chứng Lậu tận thông nữa là vào A La Hán Quả.

    4. Đạo Đế (Tiếng Palị là Mãrga-satya):

    Con đường chân thật đưa đến cảnh giới diệt khổ, tức là giáo thuyết lý luận và con đường tu tập để vượt qua sự quan hệ nhân quả thế gian “khổ”, “tập” mà đạt được Niết bàn tịch tĩnh xuất thế gian. Theo kinh A Hàm của Phật giáo Nguyên thủy, Đạo đế chính là Bát Chánh đạo, nhưng theo Luận Đại Trì độ, luận Thành Thật và luận Tứ Đế thì cho rằng Đạo đế bao gồm 37 phẩm trợ đạo, tóm lược như sau:

    a. Tứ niệm xứ:
    Bốn lãnh vực quán niệm để nhìn thấy thật tướng của vạn Pháp:

    1. Quán thân bất tịnh.

    2. Quán cảm thọ là khổ.

    3. Quán tâm vô thường.

    4. Quán Pháp vô ngã.

    b. Tứ Chánh Cần:
    Bốn điều chân chánh mà Phật tử phải siêng năng tu trì:

    1. Dứt trừ các điều ác đã phát sinh.

    2. Ngăn chặn các điều ác chưa phát sinh.

    3. Phát triển những việc thiện đã làm.

    4. Cố gắng làm thêm nhiều những việc thiện mới.

    c. Tứ như ý túc:

    1. Dục như ý túc.

    2. Nhất tâm như ý túc.

    3. Tinh tấn như ý túc.

    4. Quán như ý túc.

    d. Ngũ căn:

    Năm đức tính căn bản Phật tử phải hành trì tu tập.

    1. Tín căn.

    2. Tấn căn

    3. Niệm căn

    4. Định căn

    5. Tuệ căn

    e. Ngũ lực:

    Năm sức mạnh dùng để đối trị với tâm bất định, tâm tán loạn và bất chánh tri, tức sự hiểu biết không đúng chánh Pháp.

    1. Tín lực: sức mạnh của đức tin

    2. Tấn lực: sức mạnh của tinh tấn

    3. Niệm lực: sức mạnh của quán niệm

    4. Định lực: sức mạnh của Thiền Định

    5. Tuệ lực: sức mạnh của trí tuệ.

    f. Thất Bồ Đề phần:

    Có sách gọi là Thất giác chi, tức bảy yếu tố giác ngộ.

    1. Niệm: Quán niệm

    2. Trạch Pháp: Chọn lựa Pháp môn – Quán chiếu vạn Pháp

    3. Tinh tấn: Tinh cần, siêng năng, không giải đãi

    4. Hỷ lạc: (Hỷ lạc xuất thế) vui vẻ và an lạc

    5. Khinh an: Nhẹ nhàng an lạc

    6. Định: Thiền định

    7. Hành xả: buông bỏ những đối tượng ảo vọng không có thực thể, tức vô nguyên, vô tác.

    g. Bát Chánh Đạo:
    Con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố:

    1. Chánh Kiến: Cái thấy biết chân chánh.

    2. Chánh tư duy: Nếp tư duy chân chánh.

    3. Chánh ngữ: Lời nói chân chánh.

    4. Chánh nghiệp: Hành động, việc làm chân chánh có lợi cho mình và lợi ích cho chúng sanh.

    5. Chánh mạng: Nghề nghiệp để sinh sống chánh đáng, lương thiện, không bạo tàn, hèn mạt.

    6. Chánh tinh tấn: Chuyên cần trong nẻo chánh.

    7. Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh để hành sử mọi lẽ và mọi việc lành đúng thiện Pháp.

    8. Chánh định: Thiền định đúng chánh Pháp.

    C. suy nghiệm:

    Với ba lần chuyển thời Tứ Đế:
    1- Lần thứ nhất là: THỊ CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ phải biết.
    • Đây là nguyên nhân khổ phải trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ phải tu.
    • Đây là Niết Bàn phải chứng.
    2- Lần thứ hai: KHUYẾN CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ nên biết.
    • Đây là nguyên nhân sự khổ nên trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ nên tu.
    • Đây là Niết Bàn nên chứng.
    3- Lần thứ ba là: CHỨNG CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ ta đã diệt.
    • Đây là nguyên nhân sự khổ ta đã trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ ta đã tu.
    • Đây là Niết Bàn tịch diệt ta đã chứng.
    Tứ Thánh Đế xứng đáng là thời sơ chuyển Pháp luân, vì:
    • Tứ Thánh Đế giải thích cặn kẽ chân thật tánh của các Pháp.
    • Những vấn đề nhân sinh vũ trụ đều được giải thích hết sức rõ ràng khoa học.
    • Lý luận khúc chiết, đường hướng tu tập rõ ràng, dễ nhớ dễ tu. Tiến trình tu tập từ thấp đến cao, dễ dàng áp dụng cho mọi tầng lớp trong xã hội.

    Như vậy Tứ Thánh Đế là bài học căn bản mà bất cứ Phật Tử nào cũng phải chiêm nghiệm suy xét để thực hành trong đời sống hàng ngày. Có như vậy thì gọi là tu để chuyển khổ đau thành an lạc, phiền não thành Bồ Đề.

    D. ứng dụng và tu tập:

    Để ứng dụng cho bản thân các em vào trong cuộc sống, các em cần học cho thật kỷ, suy nghĩ cho chín chắn và nhất là các em cần phải kiên trì từng bước thực hành theo bài học có như vậy chúng ta mới bỏ ác theo thiện đúng như 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.

    Chú thích:

    (*) Theo Tự điển Phật học Hán Việt của Phân viên Nghiên cứu Phật học – NXB. Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1998.

    (**) Theo Tự điển Phật học Huệ Quang – Tập 5 – Trang 4772- Nhà XB TP.HCM 2005

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Bát Chánh Đạo

    Hình minh họa: Bát Chánh Đạo
    A. GIỚI THIỆU:

    Lúc chuyển pháp luân Đức Thế Tôn thuyết về việc xa lìa 2 bên dục lạc và khổ hạnh, đi theo con đường Trung đạo tức chỉ cho Bát Chánh đạo này. Và trong thời pháp Tứ Đế do Đức Bổn sư thuyết giảng cho 5 anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, Bát Chánh Đạo lại được Đức Thế Tôn nêu lên như là tám con đường tu học chân chánh, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Bát Chánh Đạo là con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố mà con người cần phải tự mình tuân thủ mới đem lại lợi lạc trên con đường tu tập cho chính bản thân cũng như xã hội, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Là pháp môn thực tiển đại biểu nhất trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Phật giáo, tức là 8 phương pháp hoặc 8 đường tắc chính xác hướng thẳng đến Niết bàn giải thoát.

    Theo kinh “Phân biệt Thánh Đế”, “Trung A hàm 7”, “Luận Tứ đế 4”, “Luận Đại Tì-bà-sa 9” thì Bát Chính đạo còn gọi là Bát Thánh đạo, Bát chi thánh đạo, Bát thánh đạo phần, Bát đạo hạnh, Bát trực hạnh, Bát chính, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, Bát lộ. Là Tám thứ chính đạo cầu Niết bàn.

    II. HÀNH TƯỚNG CỦA BÁT CHÁNH ĐẠO:
    1. Chánh Kiến (Chánh tri kiến):

    Là kiến thức chân chánh. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý như:

    • Nhận thức được những lý duyên sinh, vô thường, vô ngã.
    • Nhận thức được những quả báo của hành động, của thân, ý.
    • Nhận thức được sự sống của mình, của người có liên hệ mật thiết với nhau, với cả toàn bộ vũ trụ rộng lớn.
    • Nhận thức được các pháp thiện, bất thiện ……
    Trái với Chánh Kiến là Tà Kiến, là nhận thức sai lầm:
    • Cho sự hiện hữu của tự thân và hoàn cảnh đều là tự nhiên không có quả báo cùng nhiều duyên khác tập hợp.
    • Chấp có thượng đế tạo vật rồi phủ nhận nhân quả nghiệp báo.
    • Chủ trương định mệnh rồi phủ nhận kết quả hạnh nghiệp.
    • Quan niệm giai cấp làm gián cách giữa người và người, giữa người và muôn vật.
    • Cố chấp thành kiến quan niệm, phân biệt phải trái.
    • Chấp theo thần thoại mê tín dị đoan.
    2. Chánh Tư Duy:

    Suy nghĩ chân chánh. Nghĩa là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người:

    • Suy nghĩ với định huệ để tu tập giải thoát.
    • Suy nghĩ nguyên nhân đau khổ của chúng sanh để giải thoát và khuyến tu.
    • Suy nghĩ những hành vi lỗi lầm và tâm niệm xấu xa để sám hối cải đổi.

    Chánh tư duy cũng gọi là chánh dục, nghĩa là mong muốn chân chánh, trái lại là tà tư duy và tà dục vọng:

    • Suy nghĩ tà thuật để làm mê hoặc lòng người.
    • Suy nghĩ những phương cách sâu độc, để đi ám hại mọi người, mọi loài.
    • Suy nghĩ mưu cơ để trả thù, trả oán.
    • Suy nghĩ về tài sắc, danh vọng.
    3. Chánh Ngữ:
    Lời nói chân chính ngay thật, có lợi ích chính đáng:
    • Lời nói thành thật và sáng suốt.
    • Lời nói ngay thẳng, hợp lý không thiên vị.
    • Lời nói hoà nhã, rõ ràng và giãn dị.
    • Nói lời lợi ích, dung hòa, gây cảm thông giữa mọi người, khuyến tấn và duy nhất.

    Trái với Chánh Ngữ là Tà Ngữ, là lời nói không chánh đáng, có tổn hại đến đời sống cùng danh dự mọi người:

    • Nói dối trá, máy móc không đúng sự thật.
    • Nói không ngay thẳng, thiên vị, dua nịnh, xuyên tạc, ngụy biện.
    • Nói sâu độc, đay nghiến, nguyền rủa, nhiếc mắng vu họa và thô tục.
    • Nói chia rẽ có di hại.
    4. Chánh Nghiệp:

    Hành động chân chính, nghĩa là hành vi động tác cần phải sáng suốt chân chánh có lợi ích:

    • Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống và hạnh phúc chung của mọi người và mọi loài.
    • Tôn trọng nghề nghiệp và tài sản của mọi người không lăng đoạt xâm phạm.
    • Giữ hạnh thanh tịnh chân chánh, không đàng điếm trác táng.
    • Biết phục vụ chức nghiệp và tận tâm với việc làm.
    • Biết hy sinh chánh đáng để giải thoát nổi khổ cho mình và cho mọi người.

    Trái với Chánh Nghiệp là Tà Nghiệp như sát sanh, trộm cắp, lừa đảo….

    • Sát hại, tàn bạo.
    • Sống xa hoa, trác táng.
    • Trộm cắp xâm đoạt.
    • Sáng chế khí cụ mãnh lợi để sát hại.
    • Chế hóa vật giá để dối gạt người.
    • Lợi dụng văn nghệ để kích thích sự đàng điếm ăn chơi trác táng.
    5. Chánh Mạng:

    Phương thức mưu sinh chân chánh, nghĩa là làm những nghề lương thiện, không bạo tàn, không dối gạc xảo trá, hèn mạc ……

    • Tận lực làm việc để sinh sống, nhưng không tổn hại đến người và vật.
    • Đem tài năng chân chính để sinh sống chứ không giả dối, máy móc, lường gạt mọi người.
    • Sống thanh cao không lòn cúi vô lý.
    • Sống đúng chánh giáo không mê tín dị đoan.
    Trái với Chánh Mạng là Tà Mạng:
    • Cày cuốc ruộng vườn nhưng coi thường sinh mạng chúng sinh (người xuất gia không nên làm).
    • Xem sao tính vận và ướt đạt thời tiết thay đổi, tinh tú thiết di để sinh sống.
    • Chiều chuộng quyền quý, dùng miệng lưỡi làm trung gian giao dịch để sinh sống.
    6. Chánh Tinh Tấn:

    Siêng năng tu học, làm những việc chân chính có lợi cho mình và cho người:

    • Thấy mình có tội ác siêng năng sám hối trừ bỏ.
    • Tội ác và lỗi lầm chưa sanh, siêng năng tu tập các pháp lành để giữ gìn ngăn đón.
    • Thấy mình chưa có phước nghiệp, siêng năng và cố gắng đào tạo phước nghiệp.
    • Đã có phước nghiệp, siêng năng tu trì để tiến triển thêm lên.

    Trái với Chánh Tinh Tấn là Tà Tinh Tấn như siêng đi bài bạc, rượu chè ……

    • Siêng năng đi sát hại.
    • Siêng năng gian xảo trộm cắp.
    • Siêng năng đàng điếm.
    • Siêng năng dối trá, hiểm độc, xuyên tạc và dua nịnh.
    • Siêng năng rượu chè, cờ bạc, ca kỹ.
    7. Chánh Niệm:

    Nhớ nghĩ Chân Chánh. Có hai thứ nhớ nghĩ: Chánh Ức Niệm là nhớ nghĩ đến cảnh quá khứ; Chánh quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và sắp đặt, tưởng tượng cảnh tương lai.

    * Ức niệm có 2:
    a. Ức niệm chân chính:
    • Nhớ ơn cha mẹ, thầy tổ để báo đáp.
    • Nhớ ơn nước nhà để phụng sự sáng suốt.
    • Nhớ ơn chúng sanh giúp dỡ để đền trả.
    • Nhớ ơn Tam bảo để tu hành.
    • Nhớ lỗi lầm xưa để sám hối lại mà cải đỏi.
    b.Ức niệm không chân chính:
    • Nhớ lại khuyết điểm của người để phê bình chế diễu.
    • Nhớ lại oán hận cũ để phục thù.
    • Nhớ lại dục cảnh xưa để hoan lạc, thỏa thích và bồi trợ dục tâm.
    • Nhớ lại hành động xảo trá và tàn bạo vừa qua để hảnh diện, tự đắc.
    * Quán niệm có 2:
    a. Quán niệm chân chính:
    • Quán niệm từ bi: cảnh đời tật bệnh, khổ, cô quả và tối tăm của chúng sanh, trong hiện tại và cả tương lai vô số tai nạn xảy ra, sanh tâm thương xót, giúp đỡ và tìm phương đề phòng che chỡ.
    • Quán niệm trí tuệ: nguyên nhân sanh hóa của vũ trụ vạn vật, hữu tình, vô tình oán thân, tốt, xấu v.v….để tu và khuyến giáo được rõ ràng, thuận lợi, giải thoát.
    b. Quán niệm không chân chánh:
    • Nhớ nghĩ tài sản, danh vọng.
    • Nhớ nghĩ phương tiện sát hại.
    • Nhớ nghĩ độc kế, thâm mưu.
    • Nhớ nghĩ văn từ xảo trá.
    • Nhớ nghĩ cao lương mỹ vị.
    8. Chánh Định:
    Tu đúng theo giáo pháp Phật dạy, phải thọ giáo với minh sư:
    • Bất tịnh quán: quán sát các pháp không thanh tịnh để trừ tham dục si ái,...
    • Từ bi quán: quán sát tất cả hữu tình chúng sanh đồng một chân tâm bình đẳng, không khác, để tăng trưởng kính tâm và thương xót cứu độ đoạn trừ tâm hận thù.
    • Nhân duyên quán: quán sát tất cả các pháp hữu hình như sự vật, vô hình như tâm niệm, lớn như núi sông, nhỏ như vi trần nếu có một pháp riêng đều là giả hợp duyên sanh không chân thật, trường tồn, để đoạn trừ ngu si, thiên chấp.
    • Giới phân biệt quán: phân biệt và quán sát sự giả lập của 18 giới (6 căn + 6 trần + 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp, mục đích trừ ngã chấp và phá chấp.
    • Sổ tức quán: quán hơi thở ra vào để đối trị với tâm tán động, ly loạn.
    Trái với Chánh định là Tà định:
    • Tu diệt tận định (diệt hết 7 hiện hành của thức) cầu chứng quả Niết bàn giả danh.
    • Tu Vô tưởng định (diệt hết hiện hành của 6 thức trước) cầu an vui các cõi trời ngoại đạo.
    • Tu thuyền định để luyện đơn, vận khí... cầu thần thông, trường sanh, pháp lạ, tu, tiên ngoại đạo.
    C. SUY NGHIỆM:

    Bát Chánh đạo là pháp môn chính yếu được Đức Thế Tôn nhắc nhở đến nhiều nhất trong các kinh, trong thuyết Tứ Đế, Bát Chánh đạo là phần căn bản của Đạo đế. Đặt tính của Bát Chánh đạo là quy định những nguyên tắc phổ quát cho mọi tầng lớp dân chúng và nó phù hợp căn cơ của mọi người, mọi thời đại, phương sở. Trong Bát Chánh đạo đã bao quát hết tất cả mọi pháp khác bao gồm ba nguyên tắc căn bản Giới, Định, Tuệ: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thuộc về Giới. Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định và Chánh Kiến, Chánh Tư Duy thuộc về Tuệ.

    Ngoài ra Bát Chánh đạo còn vượt lên trên những ước thúc của giới luật, nhằm phát huy mọi diệu dụng, theo với mọi phương tiện sinh họat để vươn thẳng tới chủ đích giải thoát. Vì vậy mà Bát Chánh đạo trở thành một pháp môn thực tiển có thể thực hành trong hoàn cảnh xã hội của thời đại chúng ta hiện nay.

    D. ỨNG DỤNG VÀTU TẬP:

    Thấy rằng thực hành Bát Chánh Đạo là cải thiện tự thân và từ đó cải thiện xã hội để thực hiện lý tưởng Gia Đình Phật Tử nên em quyết tâm thực hành pháp tu này.

    Trước hết thực hành trong từng lời nói, ý nghĩ và hành động của mình. Đắn đo trước khi nói, kiểm soát từng ý nghĩ coi thử đã chánh chưa? Hễ thấy tà một chút, ngụy một chút thì phải nghiêm khắc kiểm soát mình, tự phê bình và thành tâm sám hối. Việc làm này không phải mỗi ngày 1, 2 lần mà phải gần như luôn luôn. Nguyện luôn luôn giữ gìn Chánh Niệm, luôn luôn tỉnh thức để biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì… những ý nghĩ, lời nói, hành động ấy có đúng chánh pháp chưa?

    Khi vào đời, áp dụng Bát Chánh Đạo vào bình diện lớn là chính cuộc sống của bản thân mình. Từ nghề nghiệp, cách xử thế, cách chọn bạn… đã đi vào 8 con đường chân chánh chưa? Chỗ nào chưa phải chỉnh lại, nếu không, sai một ly sẽ đi một dặm, ảnh hưởng tới sự tu học hướng thượng của mình.

    Thực hành Bát Chánh đạo để cải tạo tự thân, làm nhân địa để cải tạo hoàn cảnh xã hội, thực hiện lý tưởng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

    Câu hỏi

    • Định nghĩa Bát Chánh Đạo và nói nội dung?
    • Trong Bát Chánh Đạo, “Chánh” nào là quan trọng và can thiết nhất? Tại sao?
    • Tại sao nói Bát Chánh Đạo là pháp môn tu dựa trên cơ sở Giới, Định, Tuệ?
    • Tại sao thực hành Bát Chánh Đạo thì có thể cải thiện tự thân và hoàn cảnh xã hội nữa?
    • Em có nghe: “Bát Thánh Đạo” không? Có phải nội dung như Bát Chánh Đạo ta đang học ở đây? Nhưng tại sao gọi là “Bát Thánh Đạo”?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Lục hòa

    Hình minh họa: Lục hòa
    I. VĂN:

    Hồi đức Phật còn tại thế, tại tu viện Ghosira (Cùsưla) thuộc thành phố Kosambi Vương quốc Vamsa, đã xảy ra một vụ tranh chấp giữ một vị Kinh sư và một vị Luật sư. (Kinh sư là những vị chuyên giảng dạy và ôn tụng những lời Phật dạy, Luật sư là những vị chuyên lo trì tụng về giới luật).

    Nguyên nhân của sự tranh chấp thật là bé nhỏ, nhưng vì lòng tự ái của một số các thầy mà vụ tranh chấp đã gây nên chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị Kinh sư vì vô ý đã không đổ nước trong chậu sau khi dùng, vị Luật sư cho đó là phạm luật. Vị Kinh sư nghĩ là vì không cố tình nên không có tội. Thế là cuộc tranh chấp leo thang.

    Cuối cùng là vị Luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị Kinh sư đã phạm giới, và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham dự các buổi Bố tát, tụng giới…Tình trạng trở nên căng thẳng và những lời qua tiếng lại nầy cũng tai hại như những mũi tên độc. Các vị Khất sĩ chia làm hai phe, và may mắn là cũng có những vị không theo bên nào. Khi đức Phật được biết chuyện, Ngài liền đi tìm Luật sư và nói: “Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm của chúng ta mà phải lắng nghe và chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong đại chúng”. Rồi Ngài đi tìm vị Kinh sư, cũng nói với những lời trên đây, hy vọng sẽ đi tới sự hòa giải. Nhưng không có hiệu quả. Quý vị Tu sĩ ở giữa không đủ sức dàn xếp một cuộc hoà giải.

    Thế là nội vụ đã tới tai giới Cư sĩ tại gia, và chẳng bao lâu các Giáo phái bên ngoài đều biết. Đức Phật triệu tập đại chúng và nói: “Xin quý vị hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ Giáo đoàn, xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật sự, chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận hờn và chia rẽ nữa”.

    Mặc dù đức Phật đã nói vậy nhưng sự hoà hợp không được tái lập, tình trạng chia rẽ ở đây vẫn còn. Phật lặng lẽ từ bỏ Kosambi, đi về phía công viên Đông Trúc Lâm, nơi có các đệ tử Phật tu học. Người đến đó hỏi thăm các vị đệ tử: “Các thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học, khất thực và hành hoá có được dễ dàng không?”.

    Các thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây an ổn, khung cảnh an tịnh, và việc khất thực, hành hoá cũng dễ dàng. Chúng con đã đạt nhiều tiến bộ trong tu học”.

    Phật hỏi:
    • Các thầy có thương mến nhau hoà hợp với nhau không?
    • Thưa, chúng con rất thương mến và hoà hợp nhau. Chúng con biết chia sẽ cho nhau đồng đều mọi thứ, từ chỗ ăn, chỗ ngủ đến kiến thức và kinh nghiệm tu học, chúng con đều chia sẽ cho nhau.
    Phật khen:
    • Tốt lắm, ta rất hài lòng thấy các thầy đối xử với nhau như vậy. Có sự hoà hợp đó, một đoàn thể mới thực sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thực sự tỉnh thức cho nên mới thực hiện được sự hoà hợp đó.
    Trước khi từ giã các thầy ở đây, Phật nói:
    • Các thầy: Bản chất của một tăng đoàn là sự hoà hợp. Theo tôi, ta có thể minh định sự hoà hợp đó như sau:

    1. Thân hoà đồng trú: Cùng chia sẽ với nhau một nơi tu học, một khu rừng, hay một mái nhà. Nên hiểu là thân hành từ ái, khiêm cung, trìu mến.

    2. Khẩu hoà vô tranh: Tránh những lời nói có thể gây ra thắc mắc, chia rẽ. Nên hiểu là khẩu hoà từ ái.

    3. Ý hoà đồng duyệt: Các ý kiến khác nhau sẽ được trao đổi, tạo sự vui vẻ, hoà hợp trong tập thể, không bắt buộc người khác theo ý kiến riêng của mình, phải khéo léo để tất cả cùng đi đến ý chung, đúng đắn nhất.

    4. Kiến hoà đồng giải: Trao đổi, chia sẽ những hiểu biết, kinh nghiệm cho nhau.

    5. Lợi hoà đồng quân: Cùng chia sẽ đồng đều những tiện nghi cuộc sống.

    6. Giới hoà đồng tu: Cùng hành trì với nhau những giới luật đã được truyền thọ.

    Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên tắc hoà hợp này mà sống với nhau.

    Về việc tranh chấp giữa hai vị Kinh sư và Luật sư: Tại tu viện Cấp Cô Độc, với sự dàn xếp của Ngài Xá Lợi Phất, hai bên đã thành tâm sám hối trước Phật, trước Tăng Đoàn. Được Phật, đại chúng chứng minh, hai vị đã có giới thể trở lại thanh tịnh.

    II. TƯ:

    Qua câu chuyện trên, em thấy rằng pháp Lục Hòa này không những cần cho Tăng đoàn mà cần cho mọi tập thể, cụ thể là đoàn, đội, chúng, … trong GĐPT, cả gia đình nhỏ của chúng ta nữa.

    Bất cứ cuộc tranh chấp nào dù lớn hay nhỏ cũng đem lại sự tổn thất cho cả hai bên, nhất là làm ảnh hưởng cả những người “vô can”. Do đo, ta phải chấm dứt mọi sự tranh chấp khi nó vừa xảy ra và ngăn ngừa không cho nó xảy ra.

    Sự cãi cọ và gây chia rẽ là chất độc giết chết sự hòa hợp của tập thể và tín tâm tu học của mọi thành viên trong tập thể. Ngoài ra, Đức Phật dạy: “Nó là biểu hiện sự thiếu tu học thật sự”.

    III. TU:

    Em sống trong những tập thể nhỏ khác nhau: gia đình, lớp học, đoàn, đội, chúng, … Trong GĐPT cũng như trong lớp học, … em quyết thấm nhuần tinh thần lục hòa và sống cho hợp khung cảnh để phổ biến cho những thành viên trong tập thể của em.

    Em tự soi rọi lại mình trong cách cư xử với mọi người trên căn bản lục hòa (một phần hay toàn phần). Nếu em là một đoàn, đội hay lớp trưởng, em càng phải soi rọi lại mình nhiều hơn mới duy trì được sự hòa hợp của tập thể mình.

    IV. CÂU HỎI:
    • Nguyên nhân Phật dạy Pháp Lục hòa?
    • Em hãy triển khai từng nguyên tắc, bằng cách cho ví dụ minh họa?
    • Theo em cái gì là nguyên nhân chính đã làm cho một vụ tranh chấp bé nhỏ bị xé ra to? Em hãy kể lại một trường hợp nào mà em đã kinh nghiệm hoặc em biết đã xảy ra và kết thúc câu chuyện được dàn xếp như thế nào?
    • Từ bài học lục hòa, em hãy dựa theo và thành lập một nội quy cho anh, chị, em của em (giả sử em có bốn, năm anh, chị, em trong gia đình mà em không phải là con trưởng hay con út để tránh gây gỗ và tạo sự hòa thuận làm vui lòng cha, mẹ).
    • Tinh thần Lục hoà có thể áp dụng một cách rốt ráo đối với người tại gia hay không? Vì sao? Thế nhưng tại sao người tại gia lại vận dụng “Lục hoà” trong cuộc sống tập thể, gia đình cũng như xã hội?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Lục độ

    Hình minh họa: Lục độ

    A. DẪN NHẬP

    Lục độ là pháp môn tu đặc thù, pháp môn cao nhất trong sự hành trì của đạo Phật, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm vào cái không tính của chân như, cái trạng thái mà kinh Kim Cang đã dạy “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Khi tu theo pháp môn này hành giả không còn khái niệm phân biệt “Nhân, ngã, bĩ, thử” mà hòa đồng vào cái lý mầu nhiệm, giải thoát của đạo Phật, cái thể tính chân không của vạn hữu.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Độ tiếng Phạn là Ba-La-Mật (Pãramitã) có nghĩa là vượt qua, từ mê mờ qua giác ngộ, từ đau khổ qua cảnh giới an vui, từ sanh tử qua Niết bàn.

    Lục độ là 6 hạnh có thể đưa hành giả và chúng sanh vượt qua mê mờ đau khổ thẳng tới cảnh giới an vui thanh tịnh. Sáu hạnh là: Bố thí Ba La Mật, trì giới Ba La Mật, nhẫn nhục Ba La Mật, tinh tấn Ba La Mật, thiền định Ba La Mật và trí tuệ Ba La Mật.

    II. HÀNH TƯỚNG:
    1. Bố thí Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Bố là cùng khắp; Thí là cho, trao tặng. Bố thí là đem của tư hữu của mình đem cho cùng khắp tất cả mọi người không phân biệt giới hạn người hay vật, thân hay sơ. Hễ thấy ai còn thiếu thốn vật gì, nếu sẵn có, đều bình đẵng giúp tất cả không luyến tiếc.

    b. Thành phần của Bố thí Ba La Mật:
    Gồm có 3 phương thức sau đây:
    • Tài thí: tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí cũng có 2 phương thức:

    + Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình như thân mạng, có nghĩa là khi cần thiết vẫn xã thân mình để cứu giúp người khác không kể sự nguy hiểm đến thân mạng nếu có. Đây là phương pháp bố thí cao nhất mà chỉ có những người giàu lòng từ bi, mới làm được (trong các câu chuyện tiền thân của Đức Thế tôn)

    + Ngoại tài: là những vật thường dùng trong đời sống của mình như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc..

    • Pháp thí: là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy của chư Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác, hoặc y theo giới luật của Phật để hành trì trong đời sống hằng ngày nhằm làm khuôn mẫu cho mọi người bắt chước bỏ ác làm thiện. Pháp thí là một phương thức bố thí có một giá trị lớn lao, nó có tác dụng huân tập về mặt tinh thần mang đến nhân lành không những cho kiếp này mà cả những kiếp sau, không kể nghèo khó hay giàu sang, lao động hay trí thức.
    • Vô uý thí: Trong cuộc sống, sự sợ hải trước bao nhiêu điều đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra là một tâm lý khổ đau nhất, chiếm hết quá phân nữa thời gian của kiếp người. Do đó khi thực hiện Vô úy thí là mang lại cho họ sự bình tĩnh tuyệt đối trước mọi sự kiện bằng chính hành động của bản thân, nhằm tạo cho họ một tâm an tịnh hầu xử dụng lý trí suy xét của từng sự kiện, phù hợp với tinh thần khế lý khế cơ của đức Phật. Để qua các giáo lý thích hợp đó tâm họ không còn xao động và bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Tóm lại tu hạnh vô úy thí khi hành giả đi đến đâu cũng đem đến một sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật.
    c. Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:

    Nói đến hạnh Bố thí Ba la mật cần phải nhận rõ 2 điểm sau đây: Bố thí chấp tướng và Bố thí không chấp tướng:

    + Bố thí chấp tướng: là bố thí với một dụng tâm không trong sạch (cầu danh, cầu tài lợi, vì ganh đua, vì muốn làm nhục và khinh rẽ người, vì sự lừa lọc, bất công, thiên vị). Đây chính là bố thí thuộc về hữu lậu kết quả rất mong manh như mây nỗi giữa hư không gặp gió thổi thì tan biến.

    + Bố thí không chấp tướng: là bố thí Ba la mật: với một dụng ý trong sạch, đúng với ý nghĩa của nó, bố thí với tâm từ bi bình đẳng, bố thí với tâm không thấy kẽ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.

    Ngoài ra bố thí thì phát sanh các công năng sau đây:

    + Diệt lòng tham lam ích kỷ

    + Đem lại ấm no

    + Phát triễn chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.

    + Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.

    2. Trì giới Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Trì giới Ba la mật là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.

    b. Thành phần của giới luật:

    Có thể chia ra làm 3

    • Giới tại gia: là những giới dành cho những người cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
    • Giới xuất gia: là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:

    + Sa di và Sa di ni giữ 10 giới

    + Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.

    + Tỳ kheo giữ 250 giới.

    + Tỳ kheo ni giữ 348 giới.

    • Giới Đạo và Tục thông hành: là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới:

    + Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác): là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.

    + Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.

    + Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh): làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi., hỷ, xả.

    c. Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
    Cũng như hạnh Bố thí cũng có 2 loại:

    + Trì giới chấp tướng: là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.

    + Trì giới không chấp tướng: là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật: không chấp có sự tướng.

    Ngoài ra tu hạnh trì giới có các công năng:

    + Ba nghiệp thanh tịnh: không sanh các tà niệm

    + Các thiện công đức phát sanh.

    + Nêu cao giá trị: không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.

    + Người và vật kính yêu: không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.

    3. Nhẫn nhục Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.

    b. Thành phần của nhẫn nhục:
    Có 3 thành phần:

    + Thân nhẫn: đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.

    + Khẩu nhẫn: Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chửi, phàn nàn, nguyền rủa.

    + Ý nhẫn: Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.

    Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như:

    • Thuận sanh nhẫn: Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
    • Nghịch sanh nhẫn: Không bực tức thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập.
    • Nội pháp nhẫn: Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
    • Ngọai pháp nhẫn: Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phần uất.
    Và 2 loại nhẫn nhục:

    + Nhẫn nhục có chấp tướng: là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.

    + Nhẫn nhục không chấp tướng: là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.

    c. Công năng của Nhẫn nhục:

    + Không làm những việc vô ý thức

    + Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.

    + Không trụy lạc theo năm dục.

    4. Tinh tấn Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tinh tấn là không ô nhiểm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.

    b. Thành phần của Tứ chánh cần:
    Gồm có 4 điều:

    + Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.

    + Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.

    + Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.

    Tinh tấn có 2 lọai:

    + Tinh tấn có chấp tướng: là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng..

    + Tinh tấn không chấp tướng: là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.

    c. Công năng của hạnh Tinh tấn:

    + Dũng mãnh hăng hái: diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.

    + Không thối xuất: Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.

    + Tiến gần đến đạo giải thoát.

    5. Thiền định Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)

    b. Các loại thiền định:

    + Quán hởi thở: Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dỏi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.

    + Quán hạnh từ bi: Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.

    + Quán sự không thanh tịnh: Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.

    + Quán về pháp nhân duyên: Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.

    + Quán theo niệm Phật: Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.

    Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.

    c. Công năng của pháp môn Thiền định:

    + Loại trừ bớt lòng tham dục: nhờ quán thanh tịnh.

    + Trừ nóng giận: nhờ quán từ bi

    + Phá si mê: nhờ quán nhân duyên

    + Ngăn các phiền não: nhờ quán niệm Phật

    + Diệt loạn tâm: nhờ quán hơi thở.

    + Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật

    6. Trí huệ Ba La Mật:
    a. Định danh:

    Là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.

    Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì: Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.

    b. Các loại trí huệ:

    Về cơ cấu thì trí huệ có 2 lọai

    • Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
    • Hậu đắc trí: là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:

    + Đại viên cảnh trí: Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.

    + Bình đẵng tánh trí: Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã

    + Diệu quan sát trí: Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.

    + Thành sở tác trí: Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiết, thân).

    Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhật với các tên gọi:

    + Văn huệ: là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.

    + Tư huệ: là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.

    +Tu huệ: là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.

    c. Công năng của trí huệ

    + Diệt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.

    + Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.

    + Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.

    C. SUYNGHIỆM:

    Trừ mê diệt khổ là nguyên vọng duy nhất của người con Phật. Muốn đạt được nguyện vọng ấy cần phải cương quyết thực hành sáu hạnh độ, chỉ vì chỉ có 6 hạnh độ mới có đủ công năng đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.

    Với chúng ta những con người thuộc hàng sơ cơ, nên khó có thể hành trì ngay tức thời 6 hạnh độ, tuy thế phải ghi nhớ lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, do đó mình cũng có khả năng giải thoát và giác ngộ, nếu tự mình chí tâm thì có thể tu hành để phát triễn khả năng giải thoát và giác ngộ sẵn có của mình để từ đó dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải khổ cho tất cả chúng sanh.

    D. TU TẬP:

    Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách:

    1. Phát Bồ đề tâm:
    Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn:

    + Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.

    + Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.

    + Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.

    + Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.

    2. Xem thường tài sản và tính mạng:

    Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.

    3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ:

    Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm: chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Mười điều thiện

    Hình minh họa: Mười điều thiện

    Văn:

    Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.

    Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.

    ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.

    Nghiệp là gì?

    Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).

    Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý

    1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:

    a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh

    b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.

    c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.

    2. Nh ữ ng nghiệp dữ:

    Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.

    A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:

    1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:

    Tất cả chúng sanh đều kính mến
    Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
    Trừ sạch thói quen giận hờn
    Thân thể thường được khỏe mạnh
    Tuổi thọ được lâu dài
    Thường được thiên thần hổ trợ
    Ngủ ngon giấc và không ác mộng
    Trừ hết các mối oán thù
    Không đọa vào ba đường ác

    10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.

    2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:

    1. Được nhiều người tin cậy.

    2. Không bị lừa dối gạt gẫm.

    3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.

    4. Lòng được an ổn.

    5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.

    6. Khi chết được sanh lên cõi trời.

    3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích

    • Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
    • Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
    • Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
    • Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
    B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:

    1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.

    Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.

    Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:

    • Miệng thường thơm sạch.
    • Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
    • Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
    • Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
    • Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.

    2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:

    • Được người trí thức yêu mến.
    • Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
    • Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.

    3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:

    • Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
    • Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
    • Đức tin bất hoại.
    • Pháp hạnh bất hoại.

    4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:

    • Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
    • Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
    • Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
    C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:

    1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:

    • Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
    • Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
    • Phúc đức tự tại.
    • Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

    2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.

    Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:

    • Tâm không khổ não.
    • Tâm không giận hờn.
    • Tâm không tranh giành.
    • Tâm nhu hòa ngay thẳng.
    • Tâm từ bi như Phật.
    • Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
    • Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
    • Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.

    3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.

    Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.

    Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:

    Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
    • Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
    • Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
    • Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
    • Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
    • Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
    • Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
    • Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
    • Ở yên vào nơi chánh kiến.

    10. Không bị nạn dữ.

    * Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.

    Tư:

    Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
    • Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
    • Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
    • Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
    • Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.

    Tu:

    Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.

    Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.

    • Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
    • Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
    • Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.

    Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.

    Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.

    Câu hỏi:

    • Mười điều thiện là gì?
    • Nghiệp là gì?
    • Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
    • Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Nguyên tắc ứng dụng: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Lục hòa, Lục độ, Thập thiện

    Ứng dụng vào đời sống người thanh niên

    • Tứ Diệu Đế (catvāri āryasatyāni): khi gặp khó khăn, tìm hiểu rõ vấn đề (Khổ), nguyên nhân (Tập), mục tiêu (Diệt) và cách giải quyết (Đạo) – một phương pháp giải quyết vấn đề sáng suốt.
    • Bát Chánh Đạo (āryāṣṭāṅgamārga): thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống bằng nghề chân chánh, siêng năng đúng, nhớ nghĩ đúng, tâm định đúng – kim chỉ nam cho học tập, nghề nghiệp, quan hệ.
    • Lục hòa: nguyên tắc sống chung trong gia đình, Đoàn, lớp học, nơi làm việc.
    • Lục độ (ṣaṭ pāramitā): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ – sáu hạnh để hoàn thiện bản thân và phục vụ người khác.
    • Thập thiện: mười điều lành của thân, khẩu, ý – thước đo đạo đức hằng ngày.

    Thực hành

    • Mỗi tuần chọn một nguyên tắc để thực hành và ghi nhận kết quả vào sổ tu học.
  7. 7Huy hiệu, Phù hiệu và Cấp hiệu trong Gia Đình Phật Tử

    Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Hình minh họa: Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Văn:

    1. Giới thiệu:

    Trong giai đoạn tái sinh hoạt của tổ chức giáo dục của Phật giáo vào năm 1948, Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hoá Phổ gởi Tổng Hội một tờ trình xin lấy huy hiệu thống nhất cho tổ chức Gia Đình Phật Hoá Phổ là Hoa Sen trắng 8 cánh, nằm trong vòng tròn trắng, trên nền xanh lá mạ.

    Sau khi xem xét và duyệt thuận, bảng tham luận được trình qua Tổng Trị Sự Hội Phật Học Việt Nam công nhận, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã long trọng gắn huy hiệu này cho các anh chị Huynh trưởng và quý vị Tăng già cố vấn đỡ đầu cho tổ chức trong buổi lể ra mắt tái sinh hoạt chính thức của tổ chức này vào ngày 08.12 năm Mậu Tý nhằm ngày 06.01.1949 tại chùa Từ Đàm – Huế.

    2. Ý nghĩa:

    Hoa sen là biểu tượng của tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh.

    Ở trong bùn trong nước, hay ở trên không đều không bị ô nhiểm bởi bùn nước dù cho hình thức và hương sắc có khác nhau.

    • Vòng tròn trắng tượng trưng cho hào quang của chư Phật viên dung vô ngại, dung nhiếp tất cả mọi thể tướng của chúng sanh.
    • Nền xanh lá mạ là biểu tượng đầy hy vọng của tuổi trẻ có thể thành tựu đạo nghiệp trong môi trường được hào quang chư Phật toả chiếu.
    • Hoa sen tám cánh:

    + Ba cánh dưới tượng trưng cho Phật (giữa), Pháp (trái), Tăng (phải), là điểm nương tựa cho tất cả chúng sanh.

    + Năm cánh trên tượng trưng cho năm hạnh của người Phật Tử. Cánh chính giữa to cao, tượng trưng cho hạnh tinh tấn – Đức Phật tiêu biểu cho hạnh này là Đức Bổn Sư Thích Ca; Cánh kế bên phải (từ ngoài nhìn vào) tượng trưng cho hạnh thanh tịnh – tiêu biểu là Đức Phật A Di Đà; Cánh kế bên trái tượng trưng cho hạnh hỷ xã – tiêu biểu là Đức Phật Di Lặc; Cánh cạnh hạnh hỷ xả (trái ngoài) tượng trưng cho hạnh trí tuệ – tiêu tiêu biểu là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát; Cánh cạnh hạnh thanh tịnh là từ bi (phải ngoài) – tiêu biểu là Đức Quán Thế Âm Bồ tát.

    3. Cách vẽ:
    • Vẽ một vòng tròn tâm O, đường kính là AB theo trục thẳng đứng, chia đường kính ra làm ba, vẽ một dây cung C1 C2 vuông góc với đường kính này ở điểm C (bằng1/3 AB).Như hình dưới đây:
    • Vẽ đường tròn đường kính 1/3 AB ở tâm O3, đó là cánh giữa ở dưới, hai bên là cánh Pháp và Tăng (theo hình).
    • Vẽ một vòng tròn tâm O1 đường kính CA1(2/3 AB), vẽ một dây cung tại điểm A2 cách đỉnh một đoạn bằng 1/3 của O1A1, tại điểm A3 cách đỉnh một đoạn bằng 2/3 O1 A 1 (dùng làm đỉnh 2 cánh ngoài).

    Tư:

    1. Hoa sen thật là một biểu tượng cao quý cho cả hai mặt nhập thế và xuất thế:

    1.1 Hoa sen đã đi vào ca dao, vào sách giáo khoa thư: “Trong đầm gì đẹp bằng sen … Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

    1.2 Chính khi mới chứng thành đạo quả, Đức Bổn Sư cũng đã quán chiếu một hồ sen để thấy được căn tánh của chúng sanh mà quyết định việc nói Pháp và cũng có thời Pháp là “Diệu Pháp Liên Hoa”.

    1.3 Và cũng chính trong một pháp hội, Đức Từ Phụ cầm hoa sen vàng đưa lên, chỉ một mình ngài Ca Diếp mỉm cười (Niêm hoa vi tiếu) để lãnh hội Chánh Pháp nhãn Tạng, làm vị Tổ đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

    2. Tinh tấn là yếu tố căn bản để thành tựu mọi việc.

    3. Thanh tịnh và hỷ xả là hai đức tính đặc thù của đấng Giác ngộ.

    4. Từ bi và trí tuệ là đức tính căn bản thành tựu nhân cách để tiến đến thành quả.

    5. Giữ giới là yếu tố căn bản để thực hiện hạnh, không rời giới mà hành động thì hạnh sanh. Hành thâm giới hạnh thì đức phát khởi.

    6. Ngày nay, huy hiệu hoa sen được coi là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo, in ngay đầu trong các văn kiện của giáo hội.

    Tu:

    1. Đeo Hoa Sen đúng cách: nam giữa đường sóng của đường túi áo phía trái; Nữ dưới hạt nút thứ hai từ cổ tính ra của áo dài.

    2. Giữ gìn quý trọng Hoa Sen như giữ gìn thân mạng, tư duy của mình như ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen.

    3. Không vứt bỏ huy hiệu Hoa Sen bừa bãi cũng như không buông lung tâm trí, làm việc sai quấy.

    4. Vẽ huy hiệu Hoa Sen vào trang đầu sổ tu học.

    Câu hỏi:

    • Huy hiệu Hoa Sen được hòa thượng Pháp chủ chính thức công nhận từ ngày, tháng, năm nào?
    • Ai là tác giả của huy hiệu Hoa Sen?
    • Huy hiệu Hoa Sen vì sao chỉ có 8 cánh?
    • Em hãy nói ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen?
    • Em phải có bổn phận như thế nào đối với chiếc huy hiệu Hoa Sen đã được trao? Tại sao?
    • Người Phật tử phải coi huy hiệu Hoa Sen như là một biểu tượng tinh thần thiêng liêng. Đúng hay sai? Tại sao?

    (Tham khảo cách vẽ Huy hiệu Hoa sen do Huynh trưởng Nhuận Pháp – Trần Nguyễn Nhị Lâm thực hiện)

    Hình minh họa: Ý nghĩa và cách vẽ Huy hiệu Hoa Sen.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Huy hiệu, Phù hiệu và Cấp hiệu trong Gia Đình Phật Tử

    Phân biệt

    • Huy hiệu: biểu tượng chung của tổ chức GĐPT Việt Nam là Hoa sen (8 cánh trắng trên nền xanh lá mạ, viền vòng tròn trắng); mọi đoàn sinh, Huynh trưởng đều đeo sau lễ phát nguyện.
    • Phù hiệu: dấu hiệu cho biết người đeo thuộc đơn vị, ngành, bậc học hoặc khóa trại nào (ví dụ phù hiệu các bậc học, phù hiệu trại huấn luyện).
    • Cấp hiệu: dấu hiệu cho biết chức vụ, cấp bậc (Đầu Đàn, Đội, Chúng trưởng, Đoàn trưởng, các cấp Huynh trưởng Tập, Tín, Tấn, Dũng).

    Lưu ý

    • Hình dáng, màu sắc, vị trí đeo của từng phù hiệu, cấp hiệu được quy định trong Nội quy GĐPT Việt Nam và Quy chế Huynh trưởng; anh chị trưởng giới thiệu theo văn bản chính thức.
    • Đeo đúng quy định, giữ gìn sạch đẹp, tôn trọng ý nghĩa của từng biểu tượng.
  8. 8Ý nghĩa pháp khí trong đạo Phật
    Hình minh họa: Ý nghĩa Pháp khí – Pháp cụ trong đạo Phật

    Văn:

    Chuông, Báo chúng, Khánh, Linh, Trống, Mõ, Bảng, Tích trượng, Bình bát… Mỗi vật có một ý nghĩa riêng, cũng như có một âm thanh riêng. Vì thế khi sử dụng, cần bảo trì một cách cẩn trọng.

    1. CHUÔNG

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: “Mỗi khi tiếng chuông chùa ngân lên, mọi hình phạt trong chốn ác đạo đều tạm thời dừng nghỉ. Muôn loài chúng sinh đang chịu cực hình cũng được tạm thời an vui”.

    Trong Cảm Thông truyện có chép: “Ngày xưa, khi Đức Phật Câu Lưu Tôn ở tại viện Tu Đa La xứ Càng Trúc có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường đánh vào lúc mặt trời vừa mọc. Tiếng chuông ngân lên, liền trong ánh mặt trời có các vị Phật hoá hiện ra diễn nói mười hai bộ kinh, làm cho người nghe chứng được chánh quả không kể xiết”.

    Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo La Hầu La đánh chuông để diễn giảng giáo lý Viên thường cho A Nan và đại chúng nghe.

    Như vậy, Chuông đã có từ thời quá khứ các đức Phật còn tại tiền.

    Trong bộ Bách Trượng Thanh Quy (trang 68, quyển 87) có chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng Đế đời nhà Đường nghe lời sàm tâu của nịnh thần Tống Tề Khúc giết lầm tôi trung là Hoà Châu, nên khi lâm chung bị đọa vào địa ngục, bị gông cùm kềm kẹp, khảo tra đánh đập rất khổ sở. May nhờ hồn người Bao Tự lạc đến, vua than thở nhờ hồn người Bao Tự đúc chuông cúng dường, làm việc phước thiện. Khi trở lại dương thế, người Bao Tự y lời nhắn gởi tâu lên Hậu chúa, Hậu Chúa thân hành đến chùa Thanh Lượng phát nguyện đúc một quả chuông, lập đàn cầu siêu bạt độ và cúng dường chuông, hồi hướng công đức cho vua Cao Hoàng”.

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Trong các chùa, Phật Học viện thường dùng 3 loại chuộng:

    * Đại Hồng Chung (Chuông): Là loại chuông lớn, cũng thường gọi là chuông u Minh; thường đánh vào đầu hôm, cuối đêm tối và khuya, có ý nhắc nhỡ mọi người tinh tấn tu hành để mau ra khỏi luân hồi. Chuông thường đánh 108 tiếng, tiêu biểu tiêu trừ 108 phiền não của chúng sanh. Vì vậy, trong bài kệ chuông có câu: “Mỗi khi nghe tiếng chuông, lòng phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, tâm giác ngộ sanh …”

    * Gia Trì Chuông: Là loại chuông thường dùng trong các khóa lễ, đánh như chấm câu trong bài Kinh, Sám hay báo hiệu khi bắt đầu hoặc chấm dứt buổi lễ, đồng thời cũng để điều hoà buổi lễ nhịp nhàng, trang nghiêm, hướng hành giả vào chỗ chí tâm thành kính.

    * Báo Chúng Chuông: Là loại chuông báo tin cho chúng Tăng nhóm họp, thọ trai, chuẩn bị khóa lễ, khai chung … trong các tự viện.

    2. TRỐNG

    a. Xuất xứ:

    Kinh Kim Quang Minh chép: “Một hôm Ngài Tin Tướng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống lớn bằng vàng chiếu hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang hiện vô số Phật ngồi trên tòa Lưu Ly, dưới những gốc cây báu, thuyết pháp cho vô số vị đệ tử ngồi quanh chăm chú lắng nghe. Rồi một vị giáo sĩ Bà La Môn cầm dùi đánh mạnh vào trống vàng. Tiếng trống rền vang nghe như lời sám hối. Lúc tỉnh mộng, Ngài đem giấc mộng trình lên Đức Thế Tôn”.

    Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy A Nan: “Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, và tiếng chuông mỗi khi họp Đại chứng trong Tinh xá Kỳ Đà nầy”.

    Như vậy, trống cũng đã có từ thời Phật còn tại thế.

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Trống có hai loại:
    * Đai cổ (trống lớn): được đánh lên vào các lúc:
    • Trước khi đánh chuông u Minh, vào đầu hôm và cuối đêm (chuyển trống) mang ý nghĩa, vì tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp, chúng sanh khi được nghe tiếng trống chánh pháp thì nghiệp chướng tiêu trừ, thoát ly luân hồi sinh tử.
    • Khỉ thăng tòa thuyết pháp, đánh ba hồi trống lớn (trống phổ cáo) để triệu tập Thánh chúng.
    • Khi cử hành các lễ lớn như: Thỉnh Tam bảo, khai kinh, cúng ngọ … thì đánh chuông trống Bát Nhã.

    KỆ TRỐNG BÁT NHÃ

    Bát nhã hội (3 lần) x xx

    Thỉnh Phật thượng đường xx xx (1 lần)

    Đại chúng đồng văn xx xx

    Bát nhã âm x xx

    Phổ nguyện pháp giới xx xx

    Đẳng hữu tình x xx

    Nhập bát nhã x xx

    Ba la mật môn xx xx

    xx xx

    * Tiểu cổ (trống nhỏ): dùng đánh trong lúc tụng Kinh, bài Sám và các trai đàn lớn, nên còn gọi là trống Kinh.

    3. MÕ

    a. Xuất xứ:

    Trong sách sắc Tu Thanh Quy Pháp khí có ghi lời tuyên truyền: Loài cá luôn luôn thức không ngủ, rất tỉnh táo và linh hoạt bất cứ lúc nào. Vậy chạm mõ theo hình cá với ý nghĩa đánh thức mọi sự mê muội.

    Sách Chính Môn đời Đường chép: có một cư sĩ hỏi một trưởng lão ở Thiên Trúc “Sao các Tăng xá đều có treo mõ?” Sư đáp: “Tiếng mõ cảnh tỉnh chúng Tăng.

    Hình con cá, là loài ngủ không nhắm mắt, luôn cảnh tỉnh. Ý muốn người tu hành ít ngủ, cảnh tỉnh tu hành, sau được đạo quả

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:
    Mõ có hai loại:

    * Loại hình bầu dục có chạm hình đầu con cá dùng để đánh khi tụng niệm

    * Loại mõ chạm hình con cá nằm dài, hình điểu treo ở nhà trù, để báo tin giờ thọ trai.

    Người đánh mõ gọi là Duyệt chúng (làm đẹp lòng chúng). Trong khi tụng niệm, cố đánh mõ đều đặn, nhịp nhàng mới hướng người tụng nhất tâm thành kính, làm buổi lễ trang nghiêm. Duyệt chúng phải ăn nhịp với Duy Na (người đánh chuông).

    4. BẢNG – KHÁNH

    a. Xuất xứ:

    Theo sách Tượng Khí Tiêu có chép: Hình Bảng giống như đám mây chế bằng đồng hoặc sắt, nên gọi là Vân bảng. Ngài Tục Thư Hoà thượng thì dạy: Vua Thái Tổ cho rằng tiếng trống làng làm giật mình người ngu nên vua cho thiết Khánh Vân Bảng. Bảng có thể chế bằng đá cẩm thạch. Trong luật còn gọi là Kiền Chùy (Vân Kiền Chùy thinh, tức đương chỉnh y phục).

    b. Ý nghĩa và cách sử dung:

    Bảng – Khánh dùng để báo tin giờ tu học, chấp tác, thiền tọa, tụng kinh, thọ trai, trong các Tòng lâm, Tu viện, Phật Học viện …

    5. BÌNH BÁT

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Phật Bản Hạnh có chép: Sau khi Phật thành đạo có hai thương gia tên là Đề Lê Phú Bà (Tripussa) và Bạc Lê Ca (Bhallika) cúng dường. Trời Tứ Thiên Vương vội xuất hiện dâng bình bát để Phật nhận đồ tín cúng.

    b. Ý nghĩa và cách sử dụng:

    Bình bát tiếng Phạn là Baydaka, Tàu dịch là ứng Lượng Khí, là đồ dùng đựng thức ăn vừa đủ cho một người dùng. Bát chỉ được làm bằng đá, sành sứ, không dùng các kim khí quý. Bằng gỗ là bát của Bà La Môn.

    Ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy, chư Tăng thường đi khất thực, trì bình nên luôn luôn dùng bát. Chư Tăng Bắc Tông thì dùng bình bát trong ba tháng hạ để thọ trai (lúc Qua đường).

    6. TÍCH TRƯỢNG

    a. Xuất xứ:

    Trong kinh Tích trượng có chép, Phật dạy: Nầy các tỳ kheo, các Thầy nên thọ trì Tích trượng, vì đó là món pháp khí mà ba đời các Đức Như Lai đều có thọ trì.

    b. Ý nghĩa và cách sử dụng:

    Kinh Tích trượng có đoạn, Ngài Ca Diếp bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tích trượng?

    Tích trượng gồm có các nghĩa sau: Khinh – Minh – Tĩnh – Sơ, tức là nhờ có chiếc gậy đức hạnh nầy mà: Phiền não được khinh bạt ra khỏi ba cõi của sinh tử; Trí tuệ được minh mẫn (Minh); Tỉnh ngộ được Khổ Không Vô thường (Tĩnh); Sơ là không còn say đắm ngũ dục.

    Tích trượng là chữ Tàu, dịch từ tiếng Phạn Nghiệt Đa La, tức là chiếc gậy của tỳ kheo đi đường, cũng có nghĩa là Trí Tượng, Đức Tượng.

    Tích trượng to vừa tầm tay người cầm, cao không quá đầu. Trên đầu Tích trượng có bốn vòng (Tứ đế) và mười hai khoen nhỏ (12 nhân duyên) bằng đổng do Đức Thích Ca chế tác. Có loại Tích trượng do Đức cổ Phật Ca Diếp truyền thừa thì trên đầu có hai vòng Chơn và Tục đế cộng với sáu khoen (6 pháp lục độ).

    Tư:

    Trong đạo Phật, Pháp khí là phương tiện để thúc liễm thân tâm, để điều chúng tạo sự nhịp nhàng khi tụng niệm đông người và cũng là phương tiện đưa chúng sanh đến giải thoát.

    l. Người Phật tử là người quyết dứt bỏ nẽo sanh tử, phiền não, phải vâng lời Phật dạy.

    2. Học và hiểu sâu sắc ỷ nghĩa các pháp khí, pháp cụ để giới thiệu và trình bày cho bất cứ ai khi đến chùa, tháp, tham quan tìm hiểu những nét đặc thù của Phật giáo.

    Tu:

    1. Ngồi dậy khi nghe tiếng chuông, tiếng trống, giữ thân tâm thanh tịnh, dõi theo âm thanh, quán tưởng về những nẽo bất thiện đang khổ não, được pháp âm soi thâu mà được an tịnh.

    2. Không sử dụng phi thời các pháp khí, phải bảo vệ cẩn trọng vì đây là Pháp Phương tiện độ đời.

    3. Em tập cách đánh chuông U Minh, kệ văn, danh hiệu, hạnh nguyện của các vị Bồ tát Thánh chúng.

    4. Em tập đánh mõ, chuông, trống Bát Nhã.

    5. Em bảo vệ Pháp khí như hộ trì Già Lam, bảo tồn Đạo pháp.

    Câu hỏi:

    • Hãy kể các loại Pháp khí, Pháp cụ trong chùa?
    • Hãy phân biệt Đại hồng chung và chuông gia trì?
    • Trống lớn (đại cổ) được đánh lên vào lúc nào?
    • Hãy nêu lên xuất xứ của cái Mõ?
    • Em phải sử dụng Pháp khí trong chùa như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm II · Nhận thức4 bài

  1. 1Ý nghĩa, giá trị của nghi lễ
    Hình minh họa: Ý nghĩa và giá trị của nghi lễ
    A. GIỚI THIỆU:

    Nghi lễ là một pháp môn hay phương tiện dẫn dắt đời sống tinh thần con người đạt đến nguồn chánh tín cứu cánh, hoằng hoá lợi sanh để đưa con người vào Đạo một cách dễ dàng.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    * Nghi: là những phương thức biểu lộ sự cung kính một cách trang nghiêm đối với Tam bảo hay để truy tiến báo ân đối với các đấng cao cả mà mình tôn thờ.

    * Lễ: là một hình thức sinh họat truyền thống có giá trị tâm linh nhằm đánh dấu những thời điểm quan trọng trong cuộc đời tu tập và sinh hoạt của một Đoàn sinh và Huynh trưởng trong tổ chức.

    Tóm lại: Nghi lễ là chỉ chung cho nghi thức tụng niệm, cũng như phương thức hành lễ sinh hoạt trong phạm vi tín ngưỡng của một tôn giáo.

    II. GIÁ TRỊ VÀ MỤC ĐÍCH:

    Bất cứ một tôn giáo nào cũng phải có những hình thức nghi lễ để tiêu biểu tinh thần đạo vị của mình, mặc dù trên hình thức âm điệu của mỗi đạo giáo có phần sai khác nhưng mục đích vẫn là chí thành cầu nguyện, tán thán vị giáo chủ mà mình đã quy ngưỡng tôn thờ.

    Đạo Phật không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ, nhưng là bước đầu của quy hướng, nhờ có nghi lễ mà đưa người vào Đạo một cách dễ dàng.

    Vậy nghi lễ là một pháp môn hoằng đạo rất đắc lực, do pháp môn này nhiên hậu chúng ta lần lượt đưa con người vào chỗ hiểu đúng giá trị cao siêu, lợi ích rộng lớn của Đạo Phật.

    III. PHƯƠNG TIỆN HỖ TƯƠNG TRONG NGHI LỄ:

    Mỗi khi hành lễ, muốn được hoà điệu âm thanh nhịp nhàng, tăng phần trang nghiêm cảm ứng, đưa người trở về trong tâm thức của ý nghĩa “Đạo Giáo nan tư nghì”. Đó là sự giao cảm thiêng liêng giữa chúng sanh và chư Phật. Chúng ta cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hỗ tương trong những khoá lễ như Đại hồng chung, chuông mỏ, khánh, linh. v.v..

    IV. TƯ CÁCH CỦA NGƯỜI HÀNH LỄ VÀ KHI HÀNH LỄ:
    1. Người chủ lễ và đại chúng:

    Phải thành kính trong khi hành lễ, THÀNH và KÍNH là hai yếu tố cần phải có trong một buổi lễ. Phải thận trọng trong cử chỉ và hành động, tâm phải chuyên chú hướng lên chân dung đức Phật, để tạo sự trang nghiêm trong đạo tràng, mới không làm mọi người chung quanh tán loạn và mất tín tâm.

    2. Nghi thức hành lễ đúng quy định:

    Gia Đình Phật Tử áp dụng nghi lễ thống nhất, do đó chúng ta phải theo đúng nghi thức mà Ban Hướng Dẫn Trung Ương đã quy định, tuỳ theo buổi lễ. Không xáo trộn và thêm bớt những bài tán tụng không đúng quy định hoặc không nói lên tinh thần của buổi lễ. Dù là một buổi lễ đơn giản, điều cần thiết là phải nói lên được tinh thần buổi lễ và tín tâm chí thành của mọi người chung quanh.

    V. NHỮNG HÌNH THỨC NGHI LỄ CẦN BIẾT:

    Hình thức nghi lễ đối với Phật Giáo rất nhiều, nhưng có thể tóm lược và quy định trong những hình thức như sau:

    1. Trang trí thờ Phật:

    Mục đích trang trí thờ Phật là để kính ngưỡng. Đức Phật là hình ảnh nhiếp thiện. Người Phật Tử thờ Phật là để tri ân và noi gương sáng của Ngài. Không nên quan niệm thờ Phật là để ỷ lại thần quyền ban ơn giáng hoạ, để cầu cạnh van xin trái với chánh Pháp. Cho nên chỉ thờ Phật và các vị Bồ Tát đầy đủ đức tướng từ bi, hỷ xả, không thờ những hình tượng thánh thần mông lung vô ý nghĩa. Tôn trí bàn thờ nơi trang nghiêm. Tại tư gia nên thờ ở căn giữa, người Phật tử còn phải thờ ông bà cha mẹ. (Tiền Phật hậu linh) với quan niệm tri ân báo hiếu, Pháp khí thờ tự đơn giản, tránh hình thức lố lăng.

    2. Sự cúng kính:

    Thờ Phật tất phải có cúng dường Phật là để tỏ lòng thành chứ không phải để cầu đảo van xin ban phước. Vì thế sự cúng kính cần phải chí thành và lễ phẩm cốt đơn giản, thanh khiết. Sự dâng lễ cúng dường gồm có 3 phần:

    * Lễ phục: Y phục sạch sẽ trang nghiêm với tâm hướng thiện để tỏ lòng thành kính khi đối trước Tam Bảo (giữ trong sạch từ thể chất đến tinh thần). Lễ phục cốt trang nghiêm để tỏ lòng thành kính. Không nên dùng lễ phục hoa hoè, màu sắc rực rỡ. Nếu không có áo tràng có thể dùng y phục Á Đông. Riêng Gia Đình Phật Tử, vì để được đồng phục và phù hợp với tuổi trẻ nên có thể mặc đồng phục GĐPT tượng trưng cho y phục lễ.

    * Lễ phẩm: Gồm hương, hoa, tịnh thuỷ, trái cây tươi tốt để cúng dường chủ yếu là ở chất lượng nơi lễ phẩm cúng dường với lòng thành, dâng cúng không nhất thiết phải có đa mâm, đa lễ như trong kinh đã dạy (Hương hoa tịnh thuỷ biến sái Tam Thiên).

    * Lễ nhạc: Sử dụng các thứ Pháp khí và âm nhạc là để cúng dường, mục đích nhạc lễ là để nương theo âm điệu hoà với tiếng kinh để nhiếp tâm chánh niệm và nhất tâm. Không nên tạp âm thanh quá náo nhiệt ồn ào gây nên loạn tâm và mất thanh tịnh, trang nghiêm của buổi lễ.

    VI. NHỮNG NGHI THỨC VÀ LỄ LƯỢC HIỆN NAY GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ĐANG ÁP DỤNG:

    1. Nghi thức:

    Gồm có 07

    • Nghi Tinh độ
    • Nghi Cầu Siêu
    • Nghi Cầu An
    • Nghi Khánh Đản
    • Nghi Vu Lan
    • Nghi Thành Đạo
    • Nghi Phổ thông.
    2. Lễ lược:
    • Lễ sinh nhật Đội, Chúng, Đàn và Đoàn: Kỹ niệm ngày thành lập.
    • Lễ Chu niên: Kỹ niệm ngày thành lập cấp Đơn vị Gia đình trở lên.
    • Lễ Phát nguyện: kết nạp Đoàn sinh để công nhận là Đoàn sinh chính thức của GĐPT Việt Nam.
    • Lễ Lên Đoàn: Từ oanh vũ lên ngành Thiếu và từ ngành Thiếu lên ngành Thanh.
    • Lễ gắn cấp hiệu bậc học cho Đoàn sinh: sau khi có quyết định trúng cách bậc học.
    • Lễ Thọ cấp cho Huynh trưởng.
    • Lễ Truyền Đăng: Tổ chức cho các Trại Huấn luyện trước khi bế mạc trại.
    C. KẾT LUẬN:

    Nói tóm lại, chúng ta là Phật tử, lại là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử thì chúng ta phải luôn luôn tinh tấn tụng niệm để sám hối, cầu an, cầu siêu với mục đích cuối cùng là hướng dẫn con người trở về cảnh giới an vui giải thoát. Do đó học và hiểu rõ ý nghĩa giá trị nghi lễ, để áp dụng đúng với ý nghĩa của nó, ngoài ra còn phải hiểu rõ được các nghi thức cũng như lễ lược đặc thù của tổ chức Gia Đình Phật Tử tức là đã áp dụng một phương tiện tốt đẹp cho công việc tu dưỡng bản thân, và cảm hoá mọi người, đưa mọi người vào đạo một cách tốt đẹp, cũng như làm cho tổ chức ngày một thăng tiến.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Phật giáo Việt Nam cận đại

    Tham khảo thêm

    Các tập đoàn Phật giáo Nam – Trung – Bắc

    Phong trào chấn hưng Phật giáo

    • Từ những năm 1920, Phật giáo Việt Nam có phong trào chấn hưng: lập hội, mở trường Phật học, ra báo, dịch kinh sách sang chữ quốc ngữ.

    Các hội Phật học ba miền

    • Miền Nam: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (thành lập năm 1931 tại Sài Gòn).
    • Miền Trung: An Nam Phật học hội (thành lập năm 1932 tại Huế); cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám có công lớn, cũng là người khai sinh tổ chức Gia đình Phật hóa phổ, tiền thân của GĐPT.
    • Miền Bắc: Bắc Kỳ Phật giáo hội (thành lập năm 1934 tại Hà Nội).

    Tổng hội Phật giáo Việt Nam

    • Năm 1951, đại biểu Phật giáo ba miền họp tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam; cũng trong năm này danh xưng Gia Đình Phật Tử chính thức được dùng.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng tìm hiểu một hội và vẽ bảng thời gian (dòng sự kiện) chung của Đoàn.

    Tham khảo thêm

    Cuộc vận động Phật giáo năm 1963

    Diễn tiến chính

    • Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật Đản, trong khi các tôn giáo khác vẫn được treo cờ.
    • Đêm 8/5/1963 (Phật Đản), tại Đài phát thanh Huế, lực lượng chính quyền đàn áp đồng bào Phật tử tụ tập, làm nhiều người thiệt mạng, phần lớn là các em thiếu nhi.
    • Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng, đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo; phong trào lan rộng khắp miền Nam.
    • Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để bảo vệ đạo pháp, gây chấn động thế giới.
    • Tháng 8/1963, chính quyền tấn công nhiều chùa, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử.
    • Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.

    Gia Đình Phật Tử trong cuộc vận động

    • Nhiều Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT đã tham gia bảo vệ đạo pháp, một số đã hy sinh; tổ chức tôn vinh các vị là Thánh tử đạo.

    Ý nghĩa

    • Thể hiện tinh thần vô úy, hy sinh vì đạo pháp và tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt Nam.
    • Dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (năm 1964).

    Lưu ý

    • Anh chị trưởng nên dùng thêm tài liệu lịch sử của Ban Hướng Dẫn để giảng dạy chi tiết, đặc biệt danh sách các vị Thánh tử đạo.

    Tham khảo thêm

    Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

    Thành lập

    • Sau cuộc vận động năm 1963, các hệ phái, tổ chức Phật giáo (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ…) họp Đại hội thống nhất; đầu năm 1964 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với bản Hiến chương.

    Tổ chức

    • Hai viện chính: Viện Tăng Thống (lãnh đạo tinh thần, giới luật) và Viện Hóa Đạo (điều hành Phật sự).
    • Đức Đệ nhất Tăng thống là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
    • Gia Đình Phật Tử là tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trực thuộc Giáo hội.

    Sau này

    • Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước.

    Lưu ý

    • Đây là đề tài lịch sử tổ chức; anh chị trưởng giảng theo tài liệu chính thức của Ban Hướng Dẫn.
  3. 3An trú trong hiện tại (có thực tập)

    Tham khảo thêm

    Em cần biết

    • An trú trong hiện tại là sống trọn vẹn với giây phút đang có: đang ăn biết mình đang ăn, đang đi biết mình đang đi, không để tâm chạy theo những chuyện đã qua hay lo lắng chuyện chưa tới.
    • Đức Phật dạy không nên mải tiếc nuối quá khứ, không nên mong cầu viển vông tương lai; quán chiếu kỹ những gì đang xảy ra trong hiện tại. Lời dạy này có trong kinh Nhất dạ hiền giả.
    • An trú hiện tại không phải là không lo cho tương lai, mà là làm tốt việc của hôm nay chính là chuẩn bị cho ngày mai.

    Thực tập

    • Thở chánh niệm: hít vào biết mình đang hít vào, thở ra biết mình đang thở ra.
    • Đi thiền: bước chậm, mỗi bước chân phối hợp với hơi thở.
    • Ăn trong chánh niệm: ăn chậm, nhai kỹ, biết ơn thức ăn.
    • Nghe chuông chánh niệm: nghe tiếng chuông thì dừng lại, thở ba hơi.

    Gợi ý hoạt động

    • Tổ chức một buổi “ngày chánh niệm” cho Chúng, Đội: thiền ngồi, thiền đi, ăn cơm trong im lặng, chia sẻ cảm nhận.
  4. 4Kinh Báo Hiếu
    Hình minh họa: Kinh báo hiếu
    A. GIỚI THIỆU:

    Nhân một buổi đi hoằng hoá của Đức Thế Tôn và các đại chúng, đoàn người dừng lại trước một đống xương khô chất cao như núi, Đức Thế Tôn sụp xuống lạy, tôn giả A-Nan hỏi nguyên nhân Phật lạy đống xương này. Phật giải thích: lạy đây là lạy ông, bà, cha, mẹ, các thân trước của ngài, A-Nan và toàn thể đại chúng xúc động mãnh liệt trước lòng hiếu thảo ấy và xin Phật dạy cách nào báo đáp ân sâu của cha, mẹ. Phật đồng ý thuyết giảng kinh và dặn lấy tên kinh là “ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN KINH” (Kinh báo đáp ân nặng của cha mẹ).

    B. NỘI DUNG:

    Nội dung Phật dạy về ân đức của cha mẹ, từ khi mới mang thai đến con trưởng thành … và cách báo đáp. Có mấy nội dung chính sau.

    1. Sự hình thành của thai nhi, tuần tự trong 9 tháng khi nằm trong bụng mẹ:

    • Tháng thứ nhất: như hạt sương.
    • Tháng thứ hai: như giọt sữa đặc
    • Tháng thứ ba: là giọt máu đông đặc.
    • Tháng thứ tư: bắt đầu tượng hình người.
    • Tháng thứ năm: chân tay đầu óc đầy đủ.
    • Tháng thứ sáu: đủ sáu căn.
    • Tháng thứ bảy: 360 đốt xương, 84 ngàn chân lông.
    • Tháng thứ tám: phủ tạng, ý chí + 9 khiếu.
    • Tháng thứ chín: trọn đủ chuẩn bị ra đời

    2. Nếu là con hiếu nghĩa ra êm xuôi, không làm đau mẹ, nếu là con bạc nghĩa sinh ngược phải mổ xẻ.

    3. Mười ân của từ mẫu phải lo báo đáp:
    • Mang nặng hơn 9 tháng.
    • Đau đớn tột cùng lúc gần sinh.
    • Khi sinh, sống chết khó lường.
    • Ăn đắng nhả ngọt.
    • Chịu ướt, nhường khô.
    • Bú mớm, nuôi nấng.
    • Tắm gội giặt giũ.
    • Đi xa lòng mẹ nhớ thương.
    • Tạo bao ác nghiệp do thương con.
    • Trọn đời yêu thương con dù con có lớn khôn đến bao nhiêu …
    4. Những điều bất hiếu của đứa con:
    • Khi đang còn trong gia đình: cãi lẩy hung hăng …
    • Khi đã có gia đình riêng: chỉ lo cho gia đình riêng mình, nghe vợ hoặc chồng con cháu riêng mình, mà xúc phạm đến cha mẹ.
    5. Cách báo ân:

    Phật dạy “Dù làm thân trâu ngựa trong nhiều kiếp cũng không xứng được với ân của cha mẹ”. Cách báo ân hữu hiệu nhất là:

    • Chép sao kinh Báo ân phổ biến cho nhiều người xem, đọc tụng.
    • Bản thân cũng đọc tụng để ghi nhớ ân sâu của cha, mẹ.
    • Sám hối, làm chay, hồi hướng công đức cầu siêu cho cha mẹ bảy đời của mình.
    • Cúng dường tam bảo.
    • Giữ giới, bố thí, làm mọi điều lành.
    6. Tội bất hiếu:

    Phải đoạ Địa ngục A-Tỳ, chịu muôn ngàn đau khổ. Cho nên Phật dạy: “Trong tất cả các tội, tội bất hiếu là lớn nhất, trong tất cả các hạnh, hạnh hiếu thảo là cao nhất”.

    C. SUY NGHIỆM:

    Cũng như đại chúng, khi Phật còn tại thế, em xúc động mãnh liệt thật sự khi đọc kinh báo hiếu. Em suy nghiệm lời Phật dạy và ngày càng thấm thía, hơn cả thiên kinh vạn quyển sách thế gian nói về ơn cha mẹ. Cái khác biệt nữa là, em biết không phải em chỉ có cha mẹ, các anh, chị, các em … của em cũng có thể là cha mẹ trong một kiếp nào đó của em.

    Từ đó em sinh lòng biết ơn mọi người, muốn làm điều lành để báo ơn họ.

    Những người con bất hiếu như chửi cha mắng me, khi cha mẹ trăm tuổi rồi, không tìm lại được nữa, bấy giờ người ấy sẽ đau khổ tận cùng, khi nghĩ lại những điêu không phải của mình. Đó phải chăng là Địa ngục A-Tỳ ngay tại đây!

    D. THỰC HÀNH

    Bài học cho em nhiều điều thú vị: Phật nhãn quá siêu phàm, cách đây hơn 2500 năm Thế Tôn đã thấy những điều mà khoa học ngày nay phải dùng đến những phương tiện, kỹ thuật thiện xảo mới thấy được. (thai nhi trong bụng mẹ).

    Em vô cùng ngưỡng mộ Đức Phật, nguyện làm theo lời ngài dạy:
    • Nguyện không quên ơn ai, dù họ làm cho mình mọi việc tốt nhỏ và xem mọi người như là cha mẹ của mình trong nhiều kiếp.
    • Với song thân hiện tại, nguyện ghi nhớ thâm ân, báo đáp bằng cách tu thân và khuyên cha mẹ quy y tam bảo (nếu chưa).
    • Không bao giờ phủ nhận công ơn sinh thành bằng cách nghĩ rằng: “Tôi ra đời không do tôi muốn mà do ông bà muốn sinh tôi”. Chớ nói tới câu nói vô ơn bạc nghĩa đáng đọa Địa ngục A-Tỳ ấy.
    • Mở rộng lòng thương đến muôn loài, vì biết đâu một kiếp nào đó, mình ở loài súc sinh: con mèo, con chó mình đang nuôi đây đã từng là cha, là mẹ mình … Từ đây trong em phát khởi lòng khiêm cung đối với tất cả, không mắng nhiệt ai, hạ nhục ai …
    • Em nguyện không sao lãng việc báo hiếu trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động của em.
    Câu hỏi:
    • Nguyên nhân Phật nói kinh báo hiếu?
    • Em hãy kể những điều bất hiếu mà con cái vấp phải khi còn ở trong gia đình với cha mẹ và anh chị em?
    • Em hãy kể một mẫu chuyện tiền thân hay một mẫu chuyện Đạo, trong đó người con hiếu thảo đã róc thịt, móc mắt… để báo ân cha mẹ?
    • Em có phải là người con hiếu không? Cụ thể em đã làm gì để báo trọng ân của cha mẹ?
    • Hãy kể chuyện Bồ tát Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ là bà Thanh Đề, và nói ý nghĩa của câu chuyện ấy?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Năm II · Tu dưỡng2 bài

  1. 1Thiền trong đời sống
    I. GIỚI THIỆU:

    Thiền là gì? Cửa Thiền là cửa chùa, thiền gia là nhà chùa… Như vậy là đã hiểu chữ thiền một cách đơn giản. Có thể nói: Sống đạo là sống Thiền, làm quen với cuộc sống của nhà chùa là thực tập sống Thiền, là làm quen với giáo dục Thiền vậy.

    Hằng tuần ta dành 10 hay 15 phút ngồi tĩnh tâm (Thiền tọa hay ngồi thiền) đó là ta đã thực tập thiền, đã bước đầu chập chững đi vào giáo dục Thiền của GĐPT.

    Ngồi Thiền là một trong những tư thế đẹp nhất của con người nói chung và của người Phật tử nói riêng. Ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa đã đạt đến nhơn phẩm cao nhất của con người trong tư thế ngồi đó dưới cội Bồ Đề.

    II. GHI NHỚ:

    Tới giờ ngồi Thiền ta ngồi Kiết già hay Bán già, mắt lim dim nhìn tới phía trước trong khoảng một mét, lưng thẳng, hai vai ngang nhau, bàn tay phải đặt thoải mái lên bàn tay trái (hay ngược lại) và buông thả tất cả các bắp thịt trong toàn thân, giữ cho sống lưng luôn thẳng, duy trì chánh niệm. Theo dõi hơi thở ra vào, đọc nhẩm bài kệ:

    Trong tư thế thiền tọa

    Đoá hoa nhân phẩm nở

    Hoa Ưu Đàm muôn thuở

    Vẫn toả ngát hương thơm.

    Đó là bài kệ điều thân, xong chuyển sang điều chỉnh hơi thở, thở ra cho hết không khí cũ trong phổi, rồi hít vào cho đầy buồng phổi bằng không khí tươi mát mới mẻ…. Để hết tâm ý vào hơi thở vào ra… làm thế nào để hơi thở luôn luôn được nhẹ nhàng khoan thai và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong cát mịn. Hơi thở càng nhẹ nhàng bao nhiêu thì thân và tâm dễ dàng thanh tịnh bấy nhiêu.

    Trong khi thở vào, ta biết ta đang thở vào, ta thấy: Hơi thở đang đi vào trong từng tế bào cơ thể và đem tới sự an lạc cho từng tế bào ấy, vì dưỡng khí ôxy lọc máu và thực sự đi theo máu về tận các tế bào của cơ thể. Trong khi điều chỉnh hơi thở, theo dõi hơi thở…có thể đọc thầm bài kệ sau:

    Thở vào tâm tĩnh lặng

    Thở ra miệng mỉm cười

    An trú trong hiện tại

    Giờ phút đẹp tuyệt vời.

    Vừa theo dõi hơi thở, vừa thực tập bài kệ trên. Ví dụ dành 5 hay 10 phút để thực tập 2 câu đầu của bài kệ, rồi cũng dùng 5 hay 10 phút cho 2 câu sau của bài kệ. Tất nhiên trước khi ngồi thiền là đã thuộc nằm lòng các bài kệ trên.

    Phương Pháp này cho ta sự thanh tịnh và an lạc ngay trong giờ phút đang ngồi thiền. Vì yếu chỉ của Thiền là “Chỉ” và “Quán”. Chỉ là dừng, là chấm dứt. Chấm dứt là chấm dứt tình trạng tạp loạn của thân ý, trở về tình trạng chuyên nhất và tập trung đó chính là “Định”.

    Quán là nhìn rõ thấy kỹ. Quán hơi thở vào ra, quán sự vô thường của cuộc sống, quán sự mong manh của một hơi thở: hơi thở mà không có ra hay ra mà không có vào, thế là hết, mạng sống chấm dứt, đó là vô thường của cuộc sống này, Vô thường không chờ ai, không sợ ai, không trừ cho một ai cả…

    Do đó mà ta quý từng giây, từng phút của cuộc sống này, phải thấy rằng hơi thở ngắn ngủi, cuộc sống có thể mất đi bất cứ lúc nào, nên phải tinh tấn làm tất cả các thiện Pháp, xa các ác Pháp, để khi trút hơi thở cuối cùng không còn gì phải hối tiếc, vì đã lãng phí thời gian có mặt trên đời này.

    Ngoài việc tọa thiền, Phật còn dạy: “Thiền hành”. Đó là thực hành thiền trong khi đi bách bộ, đi dạo ở một con đường vắng bên dòng sông hay trong vườn chùa… vừa đi vừa theo dõi hơi thở vào ra và duy trì chánh niệm. Khi đã quen với giáo dục thiền, có thể thực hành Thiền hành giữa hai buổi thiền toạ.

    III. TU TẬP:

    Bước đầu làm quen với giáo dục Thiền, em thấy thật sự an lạc trong giờ ngồi thiền sau buổi lễ Phật hàng tuần, và niềm an lạc ấy theo em về đến nhà, ra phố, đến trường, trong những giờ kế tiếp. Vì vậy em quyết tâm thực hành.

    1.- Mỗi sáng sau khi thức dậy, em ngồi tĩnh tâm trên giường từ 5 đến 10 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ, em cũng ngồi tĩnh tâm 5 – 10 phút như vậy và có thể tăng dần thời gian lên.

    2.- Những lúc có dịp đi dạo một mình, hay có dịp ngắm trăng, nhìn một dòng sông, ngắm cảnh bình minh hay hoàng hôn … Nói chung, là khi có dịp em cũng thực hành Thiền, hoặc đi, hoặc ngồi tuỳ theo hoàn cảnh và ý thích của em trong lúc đó.

    Em theo dõi hơi thở, duy trì chánh niệm, như vậy em sẽ có một ngày an lạc, một giấc ngủ ngon lành, không mộng mị, một buổi du ngoạn đầy ý nghĩa, dù một mình vẫn không thấy mình bị quấy nhiễu … Từ đó em có một cuộc sống hạnh phúc an lạc không bệnh hoạn ốm đau, em khoẻ mạnh cả thân lẫn tâm vậy.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Phật giáo với vấn đề tu dưỡng thanh niên

    Tham khảo thêm

    Thanh niên hôm nay

    • Tuổi thanh niên có nhiều sức sống, ước mơ, nhưng cũng nhiều cám dỗ: mạng xã hội, game, rượu bia, ma túy, áp lực học hành, nghề nghiệp, tình cảm.

    Phật giáo giúp thanh niên tu dưỡng

    • Giới: giữ năm giới để tránh xa tệ nạn, sống trong sạch, được người tin cậy.
    • Định: tập thiền, chánh niệm để làm chủ cảm xúc, bớt căng thẳng, tập trung học tập.
    • Tuệ: học hỏi, suy xét nhân quả để tự quyết định đúng đắn cho cuộc đời mình.
    • Chọn bạn tốt, sống có lý tưởng phục vụ; Gia Đình Phật Tử là môi trường để rèn luyện.

    Thực hành

    • Mỗi người đặt cho mình một mục tiêu tu dưỡng cụ thể trong 3 tháng (bỏ một thói quen xấu, tập một thói quen tốt) và chia sẻ kết quả với Đoàn.