Năm I · Phật pháp – Kiến thức4 bài
1Người Phật tử tại gia
Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo

Tam bảo và quy y tam bảo
do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549)
Văn:
Tam Bảo là ba ngôi quý báu: PHẬT, PHÁP và TĂNG
1. PHẬT: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, có 3 nghĩa:
- Tự giác: Tự mình giác ngộ.
- Giác tha: Giác ngộ cho mọi người, mọi loài.
- Giác hạnh viên mãn: Hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn.
Đức Phật (BUDDHA) là người tỉnh thức tuyệt đối, toàn diện. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân tướng của vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta là một bậc tỉnh thức (giác ngộ) hoàn toàn. Người chỉ đường cho tất cả chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên người tỉnh thức.
PHẬT là NGÔI BÁU THỨ NHẤT.
2. PHÁP: (DHARMA) là chân lý, là sự thật về nhân sinh, vũ trụ. Đức Phật tìm ra và Người đã chỉ dạy cho chúng ta những điều này, đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, dẫn ta đến chân trời tự do, an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát triển trong ta. Từ bi và trí tuệ là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, tất cả lời dạy của Ngài được kiết tập lại thành Kinh, những giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia gọi là Luật. Về sau, nhằm giải thích Kinh, Luật mà tạo thành Luận. Tóm lại, Pháp gồm KINH, LUẬT, LUẬN thường được gọi chung là “Tam Tạng kinh điển”.
PHÁP là NGÔI BÁU THỨ HAI.
3. TĂNG: (SANGHA) là đoàn thể những người xuất gia tu hành, thực tập đạo tỉnh thức và cùng nhau đi trên con đường giác ngộ. Tăng gồm ít nhất 4 người trở lên, sống theo 6 phép hoà kính, giữ gìn giới luật, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ, được vui.
Các hàng Tăng chúng:
- Tì kheo: Hàng nam giới xuất gia giữ 250 giới.
- Tì kheo ni: Hàng nữ giới xuất gia giữ 350 giới.
TĂNG là NGÔI BÁU THỨ BA.
* QUY Y TAM BẢO là trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng.(Quy: trở về, Y: nương tựa)
- Trở về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời.
- Trở về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
- Trở về nương tựa Tăng, đoàn thể những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
* LỄ QUY Y:
” Trước Tam Bảo con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài. “
Những lời này được phát nguyện dưới sự chứng minh của vị thầy truyền giới. Vị này sẽ đặt pháp danh và là bổn sư của người quy y. Sau đó, người này được chính thức gọi là Phật tử.
Cần nhớ lễ quy y chỉ là hình tướng bên ngoài, chúng ta phải biết tự quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình. Phật nơi tự tâm là bản tánh sáng suốt, Pháp nơi tự tâm là bản tính từ bi, bình đẳng và Tăng nơi tự tâm là bản tánh thanh tịnh, hoà hợp. Dù đã phát nguyện quy y, người Phật tử không bao giờ cầu xin ân huệ mà chỉ tự nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để thanh lọc và thành tựu giải thoát. Phật dạy: “Con phải tinh cần nỗ lực, các Đức Như Lai chỉ là những vị thầy. “
Tư:
Biết được ý nghĩa của ba ngôi báu và quy y rồi, em phải làm sao để sống đúng theo truyền thống một Phật tử, là một người đã hướng về, nương tựa, sống theo Phật, Pháp, Tăng.
“Nhất giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai”
Lễ kính chư Phật sẽ được vô lượng công đức.
Mỗi người chúng ta đều có tính Phật hay khả năng tỉnh thức trong lòng. Vì vậy, ai cũng có thể trở thành người giác ngộ như Đức Phật. Tính Phật này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức thì chúng ta làm cho tính Phật trong ta sẽ đạt được tự do và an lạc hoàn toàn như Phật. Phật ở ngay trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta phải trở về tìm Phật ngay trong tâm ta. Đức Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.
Pháp của Đức Phật chỉ dạy cách thức TU- HÀNH, giữ giới luật để phát triển trí tuệ, hiểu biết chân lý của cuộc đời. Đức Phật dạy chúng ta phải tự cứu mình bằng cách làm theo phương pháp Phật chỉ dạy.
Muốn tu tập đạo giải thoát, ta phải nương tựa vào Tăng đoàn. Một mình đơn độc sẽ gặp nhiều khó khăn trong sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Người xuất gia cũng như người tại gia phải biết về nương tựa nơi Tăng để có thể đi xa trên con đường tu tập.
Tu:
Tin không chưa đủ, em phải tu nghĩa là tự sửa mình. Mặc dù Đức Phật nói “Chúng sanh là Phật sẽ thành” nhưng nếu không tu tập, hành trì giáo pháp thì mãi mãi, chữ “sẽ” chỉ là tương lai không vươn tới được.
Vậy sau khi Quy Y Tam Bảo, hằng ngày, ta phải năng lễ Phật, tu dưỡng bản thân để tiến tới làm người giác ngộ.
Tu dưỡng nghĩa là bồi dưỡng và chuyển đổi.
- Về tình cảm: chuyển đổi tham lam, giận hờn thành yêu thương và hoà thuận, đem vui cứu khổ.
- Về lý trí: chuyển đổi si mê, lầm lạc thành sáng suốt, hiểu biết chân chánh.
- Về ý chí: chuyển đổi hèn nhát, thụ động thành tinh tấn, hỷ xả và dũng cảm.
Làm vậy tức là em đã Quy y Tam Bảo một cách đúng đắn và tích cực. Song song với việc tu dưỡng bản thân, em phải noi gương Đức Phật và các vị Tăng, Ni, khuyến khích, giúp đỡ mọi người sống tốt, hướng thiện và hướng thượng.
Cuộc sống chỉ có thể tốt đẹp khi tập thể chúng ta tốt đẹp. Một con én không làm nên được mùa xuân nên ta phải quan tâm đến mọi người, cùng nhau tu dưỡng thì xã hội sẽ tốt đẹp vì đó là tập thể những người tốt. Từ đó, cuộc sống riêng và chung sẽ được an lành, hạnh phúc.
IV.CÂU HỎI:
- Định nghĩa ba ngôi báu?
- Thế nào gọi là Quy y Tam Bảo?
- Tại sao muốn có an lạc và hạnh phúc phải tu dưỡng bản thân và giúp đỡ mọi người cùng tu? Cho ví dụ cụ thể?
- Làm sao biết được Phật là bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
- Em hiểu thế nào là sự quy y và lý quy y?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Ngũ giới
I. VĂN:
Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.
Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.
- Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
- Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
- Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
- Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
- Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.
Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.
II. TƯ:
Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:
- Thành thật với chính mình.
- Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
III. TU:
Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
- Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.
Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:
- Không giết hại mà còn phóng sanh.
- Không trộm cướp mà còn bố thí.
- Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.
Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:
- Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
- Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
- Không khởi ác niệm đối với người khác.
Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.
Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.
IV. CÂU HỎI:
- Giới là gì? Nội dung của năm giới?
- Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
- Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
- Ích lợi của năm giới?
- Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
- Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Người Phật tử tại gia
Người Phật tử tại gia là ai
- Là người tin theo Phật, đã quy y Tam Bảo, giữ giới, tu học và làm việc thiện trong khi vẫn sống với gia đình, có nghề nghiệp ngoài xã hội. Nam gọi là Ưu bà tắc (upāsaka), nữ gọi là Ưu bà di (upāsikā).
Bổn phận
- Đối với bản thân: giữ năm giới, siêng năng tu học, sống chánh mạng.
- Đối với gia đình: hiếu thảo, chung thủy, thương yêu, giáo dục con cái theo chánh pháp.
- Đối với Tam Bảo: hộ trì Tam Bảo, cúng dường, góp sức vào Phật sự.
- Đối với xã hội: làm công dân tốt, giúp đỡ người khó khăn, góp phần xây dựng xã hội an lành.
Thảo luận
- Người Phật tử tại gia có thể tu tập giữa đời sống bận rộn bằng cách nào?
2Phát triển hạnh phúc, nghề nghiệp và kỹ thuật theo quan niệm luân hồi, lý nhân quả, lý nhân duyên
Luân hồi

A. giới thiệu:
Sự sống chết, mất còn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với con người, từ xưa đến nay con người vẫn luôn băn khoăn thắc mắc lo âu và vấn đề này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức nghiên cứu nhằm tìm kiếm một đáp án để lý giải một cách hợp lý hầu giải tỏa sự âu lo và thắc mắc của con người về sự sống còn mất.
Tuy nhiên càng truy tìm nghiên cứu, con người lại càng đưa ra những quan niệm sai lầm hơn, mà tiêu biểu là hai thuyết “Chấp thường và chấp đoạn” khi cho rằng con người chết rồi thì mất hẳn không còn gì tồn tại sau đó và khi chết rồi thì chỉ có thân xác bị tiêu hoại, nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi: để được hưởng những lạc thú an vui hay chịu cực hình đau khổ.
Hai thuyết “Chấp thường” và “Chấp đoạn” trên đây đã có sự tương phản với nhau đều không hợp lý. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không hề bị đoạn diệt cũng không phải thường còn, theo cái nhìn và quán chiếu của đạo Phật vào thế giới hiện tượng là không có vật gì mới được sinh ra, cũng không vật gì bị mất hẳn, vạn vật đều do có sự tương quan nhân duyên kết hợp mà thấy có sự biến dị hoặc hoại diệt.
B. nội dung:
I. ĐỊNH NGHĨA:
Luân hồi dịch ở chữ (Samsãra) trong tiếng Phạn. Theo từ Hán còn gọi là Tăng-sa-lạc. Cũng còn gọi là: Sinh tử, sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục (Tự điển Phật học Huệ Quang-Tập 3.
Luân là bánh xe; Hồi là quay tròn; Luân hồi là quay tròn như bánh xe.
Tóm lại Luân hồi là: Chúng sinh tạo nghiệp, chết ở kiếp nầy rồi lại sinh vào kiếp khác, cứ quay vòng như vậy mãi mãi trong 3 cõi sáu đường.
Và nếu muốn diệt trừ sự khổ của luân hồi lục đạo thì trước phải dứt nhân tham, sân, si vì đây là nguyên nhân khiến chúng sinh luân hồi trong tam giới lục đạo. Khi nào cắt đứt được ngã chấp và tham, sân, si thì cái khổ luân hồi cũng chấm dứt.
II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI:
Định luật Thành, Trụ, Hoại, Không: chi phối toàn thể vận hành của vạn vật chúng sanh, trong vũ trụ tất cả sự vật, từ nhỏ đến lớn đều không thể nào vượt thoát ra ngoài.
1. Đất luân hồi:
Như cái bình trước mặt chúng ta, nguyên liệu để thực hiện chính là “Đất”, qua thao tác của người thợ với nhiều công đoạn nó trở thành cái bình, trải qua thời gian sử dụng, cái bình bể nát và trở về với trạng thái nguyên thủy là đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn để nuôi sống cây cỏ, cây cỏ lớn lên tàn rụi để trở thành phân bón cho các cây khác hoặc làm thực phẩm cho các loại động vật. Động vật ăn cây cỏ vào, rồi bài tiết ra hoặc sau khi già nua chết đi lại trở về với đất cát. Bao nhiêu lần thay đổi hình dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, nhưng đất cát nó cũng lại trở về với đất cát, tùy theo vòng luân chuyển dài hay ngắn.
2. Nước luân hồi:
Nước ở sông hồ, biển cả bị sức nóng của mặt trời bốc thành hơi; hơi nước bay lên không trung gặp khí lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao, hồ, sông biển, hoặc gặp vùng lạnh quá thì đóng lại thành băng. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần xoay vòng mãi mãi, nhưng rồi nước vẫn là nước. Điều này chứng tỏ hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước thì vẫn không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.
3. Gió luân hồi:
Không khí bị sức nóng của mặt trời giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù lấp vào những khoảng trống đó, không khí những nơi khác chạy tới điền vào. Sự luân chuyển liên tục của không khí tạo thành gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, nhanh thì gió mạnh và nhanh hơn thì trở thành bão, nhưng rồi dù có thay đổi trạng thái nhanh hay chậm, thì bản chất của gió vẫn là không khí.
4. Lửa luân hồi:
Lửa là một sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chẳng thấy có sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát nhau thật mạnh một hồi thì lửa liền được bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt cháy cả hai thanh củi, khi cháy thì một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí. Những cây khác dùng rễ mình để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia khi hồi đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Điều này chứng tỏ lửa chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải đứt đoạn hay mất hẳn.
5. Cảnh giới luân hồi:
Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Quả thật vậy, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra khỏi đinh luật Thành, Trụ, Họai, Không. Mỗi phút giây đều có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác xuất hiện, như làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nối tiếp, làm nhân, làm quả cho nhau, tiếp nối không bao giờ dứt.
6. Thân người luân hồi:
Thân người do tứ đại hợp thành mà tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Với chất cứng dẽo như gia thịt, gân xương của con người chính là Đất; những chất lỏng nhữ máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, nhịp đập của trái tim, buồng phổi, cử động lên xuống, qua lại của tay chân là thuộc về Gió; hơi nóng trong con người thuộc về Lửa. Như trên ta đã rõ, tứ đại đều luân hồi thì con người vì lệ thuộc vào tứ đại nên cũng luân hồi theo vì khi thân nầy chết thì tất cả đều trả về cho tứ đại, và cứ thế vòng quay mãi mãi tiếp tục.
7. Tinh thần luân hồi:
Con người không phải chỉ có tứ đại mà còn có phần tâm lý hay nói một cách tổng quát đó chính là tinh thần, bao gồm tất cả mà đạo Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm có tứ đại là đất, nước, gió, lửa đạo Phật gọi là Sắc. Tứ đại là phần tạo nên sắc thân không hề tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì Tâm thức hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà cũng chỉ biến chuyển xoay vần theo nghiệp.
Vậy nghiệp là một năng lực chứ nghiệp không phải là linh hồn, nghiệp có năng lực dẫn dắt hành động của mỗi chúng sanh. Do tính chất riêng ấy (biệt nghiệp) mà nghiệp lực mới dẫn dắt vào hình thức này hay hình thức khác do luật hấp dẫn (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu) mà chịu xuôi theo vòng luân hồi sanh tử.
III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ:
Khi mọi người đã hiểu luật nhân quả và tin vào luật nhân quả thì mọi người không thể không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi cũng chỉ là một chuỗi nhân quả có tính cách liên tục nhưng vì nó khi ẩn khi hiện, khi thăng khi giáng, khi mất khi còn, biến đổi dị dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.
Chúng sanh vì mê mờ nên đã tạo tác ác nghiệp: hành động, tham lam, sân hận, si mê, nghi mạn, ác kiến … đó là những nhân ác thì phải gặt quả ác. Và chúng sanh tu học theo chánh Pháp: Tu năm giới và thập thiện, thường làm việc phước đức, làm những điều lợi lạc cứu khổ độ sinh, hộ trì Tam bảo … đó là tạo tác nhân lành thì gặt hái được quả lành, an lạc giải thoát, được sanh về các cảnh giới tịnh lạc và phước báo của chư thiên. Do sự tạo tác lành, dữ, thiện, ác mà chúng sanh phải luân hồi vào trong ba cõi, sáu đường theo luật nhân quả chắc chắn không sai.
C. suy nghiệm:
Giáo lý Luân hồi đã lý giải cho chúng ta được hiểu biết rõ về sinh diệt, còn mất của con người và vạn vật trong vũ trụ. Giúp cho con người hiểu rõ được thiện ác nghiệp báo theo luật nhân quả và giáo lý luân hồi cũng đem lại cho con người nhiều điều lợi ích:
- Phá trừ được “đoạn kiến” sai lầm làm con người sinh ra chán nản, vì nghĩ rằng dù ta có cố gắng ăn hiền ở lành, sống đạo đức rồi cuối cùng chẳng đem theo được gì cả, chẳng hưởng được gì một khi chết đi thân thể bị tiêu hoại.
- Phá trừ được “thường kiến” sai lầm làm cho con người tin rằng con người khi chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phước hay tạo tội cũng vậy. Do đó mà con người sống với nhau không có tình người, không thương yêu giúp đỡ nhau mà còn bóc lột cướp giật, hại nhân, gây tội ác …
- Với giáo lý Luân hồi đem cho con người một niềm tin chân chính hợp lý: con người khi chết rồi không phải là mất hẳn mà chắc chắn có liên quan ảnh hưởng về nhân quả đối với kiếp sống hiện tại. Sống lành hay dữ, thiện hay ác, tạo tội hay phước, tức là tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp thì khi chết nghiệp lực đó sẽ dắt dẫn sinh vào trong vòng luân hồi của ba cõi sáu đường theo luật luân hồi nhân quả để chịu nghiệp. Giáo lý luân hồi cho con người tự tin là ta là chủ nhân của đời ta, ta tạo nghiệp nhân gì thì ta chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai thương hay ghét hoặc có quyền ban phước hay giáng họa cho ta cả.
D. thực hành:
Người Phật tử đã biết được ý nghĩa và giá trị của giáo lý luân hồi thì nên cố gắng tu tập theo đúng Chánh pháp, cải thiện thân tâm, tạo thiện nghiệp, tẩy sạch các nghiệp hữu lậu để gặt hái được quả lành để không còn trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử; nguyện được giải thoát sanh về các cảnh giới tịnh lạc bất sanh bất diệt của các vị A-La-Hán và chư Bồ Tát hay Chư Phật.
Theo lời Phật dạy:“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng giác ngộ và giải thoát”
Em quyết tâm tinh tấn tu tập theo Chánh Pháp:
- Thường xuyên niệm Phật để tâm được an trú trong chánh niệm.
- Xa lìa ác Pháp, hành động hướng theo các thiện Pháp đem lại lợi lạc cho chúng sinh để chuyển hóa khổ đau thành an vui.
- Tu tập giới Định Tuệ để diệt trừ Tham ái, Sân si, Mạn, Nghi, Cố chấp và thù hận để được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường và thanh tựu được Phật quả.
Chú thích:
* Ba cõi: gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới:
- Dục giới: là thế giới của ái dục, nơi đó chúng sinh còn tâm tham ái, dâm dục nên mỗi loài còn có phân biệt nam nữ, đực cái, trống mái. Thân thể được cấu tạo bằng ngũ uẩn.
- Sắc giới: gồm những cõi mà chúng sinh đã thoát ly được tham dâm và tham thực, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh.
- Vô sắc giới: gồm những cõi đã ly dục, không còn sắc thân vật chất, chỉ có tâm cảm với nghiệp lực.
* Sáu đường: gồm có Địa ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, loài Người và cõi Trời:
1) Địa ngục: do tạo nhân độc ác, làm nhiều điều tội lỗi, giết hại mạng sống, gây đau khổ cho chúng sinh, nên phải chịu luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ ải.
2) Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, giúp người, từ tài vật đến ngôn ngữ và hành động. Trái lại còn mưu sâu và độc kế cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.
3) Súc sanh: Tạo nhân si mê sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu sắc, tài khí, không biết hay dở, tốt xấu, thiện ác, chết rồi luân hồi làm súc sanh.
4) A-Tu-La: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính khí hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A-Tu-La, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.
5) Loài Người: Do tu nhân Ngũ giới: không sát hại mạng sống, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu say sưa thì đời sau sẽ trở lại làm người cao quý, an nhàn.
6) Cõi Trời: Tránh mười điều ác tu nhân Thập Thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên biết rằng cõi Trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, vẫn còn chịu nhân quả sanh tử luân hồi. Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử luân hồi và đến bốn cõi Thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật thì phải tu nhân giải thoát (tu Pháp xuất thế gian).
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Nhân quả

Văn:
Đối với dân tộc Việt Nam, có lẽ không mấy ai là không tin nhân quả. Đối với các em là con nhà Phật, thì Luật Nhân Quả các em đã được nghe qua lời dạy của các bậc cha mẹ từ lúc mới lên 5, lên 6. Hôm nay các em học lại cho kỹ để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Phật thuyết kinh Nhân Quả để giải thích cho chúng ta hiểu tại sao chúng sanh lại gồm có nhiều loài, ở trên không, dưới nước, cầm thú côn trùng, nhân thiên, A tu la. Mỗi loài đều có kẻ đẹp, người xấu, thân thể toàn vẹn hay tật nguyền đều do nhân quả mà ra.
A. ĐỊNH NGHĨA:
NHÂN là nguyên nhân, QUẢ là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không có Quả thì biết không có Nhân.
B. NHỮNG ĐĂC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Nhân Quả là định luật hiện thật: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý Nhân Quả, Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên đời sống thực tế để thuyết giảng Lý Nhân Quả cho chúng ta hiểu.
2. Nhân Quả chi phối tất cả: sở dĩ mọi thứ trên đời khác nhau vì được câu tạo bởi nghiệp nhân khác nhau. Vì thế định luật Nhân Quả chi phối tất cả sự vật. Định luật Nhân Quả không thiên vị, không bênh vực một ai. Không ai có thể phủ nhận hoặc sửa đổi định lý tất nhiên này.
3. Nhân Quả là một Định luật rất phức tạp; Lý Nhân Quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên hệ, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả thường tạo nên phức tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, những ai có sự hiểu biết thấp, thường khó nhận thức được sự chính xác của Lý Nhân Quả và gây nên những ngộ nhận về Lý Nhân Quả.
C. SƯ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ:
Đức Phật dùng đạo lý Nhân Quả để giải thích sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan này rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó nhận định.
1. Một Nhân tự nó không thể sinh ra Quả: Sự vật được hình thành giữa vũ trụ này đều do sự tổng hợp của nhiều nhân duyên. Một nhân không thể nào tự nó phát sinh ra quả được. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa tạo thành mà cần phải có các nhân khác giúp vào như đất, nước, ánh sáng mặt trời, phân bón… thì hạt lúa mới nẩy mầm được.
2. Nhân nào Quả nấy: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy chứ không bao giờ tương phản, mâu thuẩn nhau. Nếu ta muốn có quả cam thì phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói cách khác, Nhân với Quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.
3. Trong Nhân có Quả, trong Quả có Nhân: Nhân, chính nó cũng là quả đồng thời của sự thuần thục của nhiều nhân duyên trước nó. Quả, chính nó cũng là nhân đồng thời cho sự phát sinh của quả khác. Ví dụ: tốt nghiệp đại học là kết quả của nhiều năm tháng học hành nhưng sự tốt nghiệp đó cũng là nhân chính cho sự tìm kiếm việc làm và ngược lại.
D. SỰ LIÊN HỆ GIỮA NHÂN VÀ QUẢ QUA THỜI GIAN:
1. Nhân Quả một thời: Nhân quả nối liền nhau. Nghĩa là vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng, như khi hai luồng điện âm dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian mới thuần thục.
2. Nhân Quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này. Như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.
3. Nhân Quả trong hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới có kết quả, nhân tạo đời này đến đời sau mới có kết quả; nghĩa là cần một thời gian khá lâu quả mới thuần thục. Ví dụ, trong đời sông hiện tại biết bố thí cúng dường thì đời sau sẽ được giàu sang.
4. Nhân Quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới có kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến nhiều đời sau mới có kết quả. Ví dụ, muôn thoát khỏi sanh tử luân hồi phải cần trải qua nhiều kiếp tu hành.
* Những ví du về Nhân Quả:
1- Nhân Quả nơi hiện Cảnh: Rừng rậm (Quả) là kết quả của nhiều cây hợp lại (Nhân). Sự tàn phá rừng (Nhân) sẽ gây ra lũ lụt tàn phá nhà cửa ruộng vườn (Quả).
2- Nhân Quả nơi tự Thân: Ăn uống điều độ, thường tập thể dục (Nhân) sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng (Quả).
3- Nhân Quả nơi tự Tâm: Tánh tình, tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự chi phối của Luật Nhân Quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục. Học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.
E. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ:
Luật Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu. Không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đặt trọng tâm vào “nhân quả đối với con người”.
1. Về phương diện thể chất:
Thân tứ đại là do bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, và đo hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ như thế tiếp nôi mãi. Nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.
2. Về phương diện tinh thần:
Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta một tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình trong nếp sống hiện tại là quả. Tính tình và nếp sông này lại làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
Để nhận rõ phần tinh thần này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.
F. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN:
1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
- Tham: Thấy tiền của người khác nổi lồng tham lam sinh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân, bị chủ đánh đập phải tàn tật hay bị nhà chức trách bắt giam, đánh đập tra tấn là quả.
- Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con, phá hoại nhà là nhân, khi hết giận đau đớn nhìn thấy vợ con bệnh hoạn, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.
- Si: Người si mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không còn biết sự hay dở, phải trái là nhân, làm cho gia đình lụn bại, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.
2. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:
Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi xấu tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thế nào, thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những kết quả sáng lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.
Người không có tính tham lam, bỏn xẻn, thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thời. Người không nóng giận tức được sông trong cảnh hiền hòa, gia đình êm âm. Người không si mê theo sắc dục thì được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện.
Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, người ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy.
G. LƠI ÍCH ĐEM LAI CHO CHÚNG TA DO SƯ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ:
1. Luật nhân quả tránh cho chúng ta những mê tín di đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:
Luật nhân quả cho chúng ta thấy được những thực trạng của sự vật, không có gì là mơ hồ bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận thuyết chủ trương “Vạn pháp do một vị thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.
2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính mình:
Khi đã biết cuộc đời của mình là do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở nơi ai nữa? Lòng tin tưởng ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả tốt đẹp.
3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách mốc:
Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là vì đã cỏ thói quen ỷ lại kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã hiểu rõ tất cả hoàn cảnh mình đang hưởng thọ đều do chính mình gây ra. Người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại hay nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc, chỉ lo tự cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện để được hưởng kết quả tốt đẹp, thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, tránh tạo giông ác để khỏi mang quả ác.
4. Người hiểu Luật Nhân Quả chỉ lo tạo Nhân lành và nghĩ đến kết quả trước khi hành đông:
Đã hiểu rõ những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ, nếu muôn được kết quả tốt đẹp trong tương lai thì hiện tại cần phải siêng năng làm những hành động có lợi cho mình, cho người, cho chúng sanh đúng theo lời Phật dạy.
Tư:
Chúng ta đã biết rõ giá trị của Luật Nhân Quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Em suy nghĩ: có người cả đời hiền từ mà gặp lắm tai nạn khổ sở, trái lại có người hung ác sao lại vẫn được bình an?
Trong kinh Nhân Qủa có nói: Muốn biết nhân đời trước thì phải nhìn kết quả hiện tại đang thọ hưởng, muốn biết quả tương lai thì hãy xem nhân gây ra trong hiện tại.
Vậy có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền lành, còn nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau họ sẽ chịu quả báo. Ví dụ như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ, thì do năm rồi họ làm có tiền của để dành. Còn cái nhân ăn chơi, không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.
Có người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn khổ sở, là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả an vui. Ví dụ có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là do nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm tới họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó cổ nhân có câu:
“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”
(Việc lành hay việc dữ đều có quả báo
Chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).
Do đó khi làm một việc gì, phái nghĩ đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ đừng làm liều, nói liều để phải chịu hậu quả đau khổ trong tương lai. Nếu chúng ta làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành ngày càng tăng trưởng. Và do sự gieo nhân lành toàn diện đó, từ địa vị Người, chúng ta có thể tiến dần đến quả vị Thánh hiền, được giải thoát giác ngộ.
Tu:
- Em ăn chay mỗi tháng ít nhất là hai ngày, vì đó là gieo nhân lành, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì quả phúc sẽ tròn đầy.
- Xa lìa các việc ác, dù là việc ác nhỏ cũng không làm.
- Luôn làm những việc thiện, dù là việc thiện nhỏ cũng không bỏ qua.
- Hàng ngày thường xuyên niệm Phật, luôn nghĩ đến trí tuệ của chư Phật, các hạnh lành của chư vị Bồ tát một cách thiết tha để noi theo những hạnh lành ấy, đó là cách thực hành tốt đẹp nhất.
Câu hỏi:
- Hãy định nghĩa hai chữ NHÂN và QUẢ?
- Hãy nêu đặc tính của Luật Nhân Quả?
- Hãy nêu một ví dụ về Nhân Quả nơi tự tâm của mình?
- Em hiểu thế nào câu nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”?
- Hiểu biết Luật Nhân Quả đem lại lợi ích gì?
- Đã hiểu rõ Luật Nhân Quả, em áp dụng vào đời sống như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Phát triển hạnh phúc, nghề nghiệp và kỹ thuật theo lý luân hồi, nhân quả, nhân duyên
Ứng dụng lý nhân quả
- Thành công hôm nay là kết quả của sự cố gắng hôm qua: muốn có nghề giỏi phải gieo nhân học tập, rèn luyện; muốn có hạnh phúc phải gieo nhân thương yêu, chung thủy.
Ứng dụng lý nhân duyên
- Không việc gì tự có một mình: một sản phẩm, một công trình là kết quả của nhiều người, nhiều điều kiện. Biết trân trọng đồng nghiệp, biết hợp tác, biết tạo đủ duyên lành để công việc thành tựu.
Ứng dụng lý luân hồi
- Cuộc đời là một dòng tiếp nối; việc làm hôm nay ảnh hưởng đến tương lai của mình và thế hệ sau. Vì vậy chọn nghề không làm hại người, hại môi trường.
Chánh mạng
- Bát Chánh Đạo dạy chánh mạng: sống bằng nghề chân chánh. Kinh điển nêu các nghề người Phật tử nên tránh như buôn bán vũ khí, buôn bán người, buôn bán thịt (giết hại), rượu và chất say, chất độc.
Thảo luận
- Mỗi người chia sẻ dự định nghề nghiệp của mình và xét xem nghề đó phù hợp với chánh mạng như thế nào.
3Ngũ minh pháp

A. DẪN NHẬP:
Cách đây 2549 năm để có đủ những phương thức hoằng pháp thích hợp với từng hoàn cảnh, địa dư, phong thổ, tập quán của mỗi quốc độ, Đức Phật đã chỉ dạy cho các đệ tử năm kiến thức cần phải có của một người hoằng pháp. Và nhất là trong thế giới phức tạp ngày nay, khi mà con người bị chi phối rất nhiều vì những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa, thì năm kiến thức đó lại cần phát huy mới có thể đáp ứng kịp thời để thích hợp với xã hội mới, vì không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xã hội, thì đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai trò lãnh đạo của mình nữa.
B. NỘI DUNG:
1. Hành tướng của Ngũ Minh Pháp:
Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết, để đem đạo vào đời. Đó là những kiến thức về nội minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.
a. Nội minh:
Nội minh l kiến thức thông suốt và kinh nghiệm thực hành về nội điển Phật giáo.
Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, thì trước tiên mình phải tự tìm hiểu giáo lý của đạo Phật. Chúng ta đã biết rằng không hiểu giáo lý, thì không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những tình trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng vì người hành đạo thiếu sự am tường giáo lý nội điển. Vì không biết rõ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mả, giết hại sinh vật để tế Thần, tế Thánh, cúng kiến ông bà.
Muốn cho tình trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự mình thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lý cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nội giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ “nhứt manh dẫn quần manh” ấy.
Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lý đã dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lý. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo.
Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đình Phật tử chẳng hạn.
Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội điển. Phải tìm hiểu giáo lý hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lý cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rõ ràng:
a) Hệ thống Bát nhã: Giáo lý chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lý tánh chân không.
b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lý Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác.
c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lý pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.
Về mỗi hệ thống giáo lý, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lý và các pháp môn phương tiện để có thể xem ra ứng tiếp với xã hội cho hợp thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậc nhất.
b. Nhân minh:
Am tường giáo lý chưa đủ. Muốn trình bày giáo lý ấy một cách rỏ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lý; phương pháp luận lý ấy gọi là nhân minh.
Nhân minh là gì? Là một môn luận lý học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng “Nhân”, nghĩa là bằng cách suy cứu đến lý do.
Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.
Một lập luận đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: TÔN, NHÂN, DỤ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của mình. Nhân là lý do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ:
Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.
Nhân: Vì ông Nguyễn Văn A đã có lúc bị sanh ra.
Dụ: Phàm cái gì đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v…(đông dụ). Trái lại, phàm cái gì không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v.
Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Di dụ là những thí dụ khác loại (không sinh thì không chết).
Ta thêm một ví dụ khác:
Tôn: Trò B sẽ bị phạt
Nhân: Vì trò B học bài không thuộc.
Dụ: Phàm, ai không thuộc bài thì đều bị phạt cả, như trò C, trò D (đồng dụ).
Phàm, ai thuộc bài thì đều không bị phạt như trò Mít, trò Ổi.
Ta nhận thấy môn luận lý nhân minh có hơi giống với luận lý học hình thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lý học này, vì nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp.
Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối không có tính cách của dị dụ. Còn dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển Phật Học Phổ Thông khóa IX).
Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi vì các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia.
c. Thanh minh:
Môn học về ngữ văn tự, về âm thanh và về văn học.
Sự truyền giáo cũng đã rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng rãi vậy.
Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lý tu tập; người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu.
Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đã phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đã phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lý lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng ri vậy.
Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đòi hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ý đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn.
d. Công xảo minh:
Môn học về công nghệ và kỹ thuật:
Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện lòng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo rộng rãi trong phạm vi xã hội nhân sinh.
Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, thì không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, thì gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi vì chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đã là một sự đe dọa ghê ghớm.
Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo lòng vị tha và bác ái muốn cho muôn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hoạ do dục vọng gây nên.
e. Y phương minh:
Môn học về các phương pháp chữa bệnh.
Các Đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, Đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đã đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thực hành một công tác xã hội rất thích hợp với lòng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật tử thì đã có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.
Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm nom, và mỗi một ngôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.
C. KẾT LUẬN:
Trong thời đại hiện tại, xã hội đòi hỏi một phương thức hoằng pháp rộng rãi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phàm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xã hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được hoài bảo cứu tế to rộng của Đức Bổn sư.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
4Phật giáo với đời sống con người
Tham khảo thêm
Phật giáo đem lại gì cho đời sống
- Đạo đức: năm giới, mười điều thiện làm nền tảng cho gia đình hạnh phúc, xã hội an ninh.
- Tâm lý: chánh niệm, thiền định giúp con người bình an, làm chủ cảm xúc.
- Trí tuệ: hiểu vô thường, nhân quả để sống sáng suốt, bớt khổ đau.
- Văn hóa: Phật giáo đã gắn bó với dân tộc Việt Nam gần hai ngàn năm, thấm vào phong tục, văn học, kiến trúc, lòng từ bi của người Việt.
Phật giáo không xa rời cuộc đời
- Tinh thần “Phật pháp bất ly thế gian giác”: giác ngộ ngay trong đời sống, không tách khỏi cuộc đời.
Thảo luận
- Kể một ảnh hưởng của Phật giáo mà em thấy trong đời sống gia đình, làng xóm mình.
Năm I · Nhận thức6 bài
1Phật giáo với Tôn giáo, Khoa học, Triết học
Tham khảo thêm
Phật giáo và tôn giáo
- Phật giáo có niềm tin, nghi lễ, tăng đoàn như một tôn giáo; nhưng Đức Phật không tự xưng là đấng sáng tạo hay ban phước giáng họa. Con người tự chịu trách nhiệm về nghiệp của mình, tự giải thoát bằng con đường tu tập; niềm tin trong Phật giáo đi đôi với trí tuệ và kiểm nghiệm (kinh Kālāma).
Phật giáo và khoa học
- Phật giáo khuyến khích quan sát, suy xét, kiểm chứng; nhiều nhà khoa học quan tâm đến thiền và tâm lý học Phật giáo.
- Tuy nhiên khoa học nghiên cứu thế giới vật chất bằng thực nghiệm, còn Phật giáo hướng đến giải thoát khổ đau; không nên đồng nhất hay gượng ép so sánh.
Phật giáo và triết học
- Phật giáo có hệ thống tư tưởng sâu sắc về con người và vũ trụ (duyên khởi, vô thường, vô ngã), nên thường được nghiên cứu như một triết học.
- Nhưng Phật giáo không dừng ở lý luận: mục đích là thực hành để chuyển hóa khổ đau. Đức Phật từng không trả lời những câu hỏi siêu hình không giúp ích cho giải thoát.
Thảo luận
- Có người nói “Phật giáo chỉ là triết học”. Em nghĩ sao?
2Đại thừa và Tiểu thừa
Tham khảo thêm
Nguồn gốc tên gọi
- Sau khi Đức Phật nhập diệt, Tăng đoàn dần chia thành nhiều bộ phái. Khoảng đầu Công nguyên, phong trào Đại thừa (Mahāyāna – cỗ xe lớn) phát triển, đề cao lý tưởng Bồ-tát độ khắp chúng sinh, gọi các truyền thống trước đó là Tiểu thừa (Hīnayāna – cỗ xe nhỏ).
- Ngày nay, để tôn trọng nhau, nên dùng tên Phật giáo Nam truyền (Theravāda – Nam tông, phổ biến ở Sri Lanka, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia) và Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông, phổ biến ở Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng).
Điểm chung
- Cùng tôn thờ Đức Phật Thích Ca, cùng giáo lý căn bản: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tam pháp ấn, Duyên khởi, Giới – Định – Tuệ.
Điểm khác nhau chính
- Lý tưởng: Nam truyền nhấn mạnh quả vị A la hán; Bắc truyền đề cao hạnh Bồ-tát, thành Phật.
- Kinh điển: Nam truyền dùng Tam tạng Pali; Bắc truyền dùng kinh điển Hán tạng, Tạng ngữ, có thêm các kinh Đại thừa (Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bát Nhã…).
Ở Việt Nam
- Có cả Bắc tông, Nam tông và hệ phái Khất sĩ, cùng sinh hoạt trong Giáo hội.
3Nhân sinh quan – Vũ trụ quan Phật giáo
Tham khảo thêm
Nhân sinh quan (cái nhìn về con người)
- Con người là sự hợp thành của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức); không có cái ta cố định, bất biến (vô ngã – anātman).
- Con người chịu sự chi phối của nghiệp, trôi lăn trong luân hồi do vô minh và ái dục; nhưng có khả năng giác ngộ (Phật tánh), tự mình chuyển hóa.
- Cuộc đời có khổ, nhưng khổ có nguyên nhân và có thể chấm dứt (Tứ Diệu Đế).
Vũ trụ quan (cái nhìn về vũ trụ)
- Mọi sự vật do nhân duyên hợp thành (duyên khởi – pratītyasamutpāda), không do một đấng tạo hóa sinh ra.
- Mọi sự vật đều vô thường, luôn biến đổi theo tiến trình thành – trụ – hoại – không.
- Vũ trụ rộng lớn vô cùng, có vô số thế giới.
Liên hệ bài đã học
- Xem lại các bài Ngũ uẩn, Luân hồi, Tứ Diệu Đế (bậc Trung Thiện), Mười hai nhân duyên (bậc Chánh Thiện).
4Các tông phái: Luật tông, Tịnh độ tông, Thiền tông, Pháp tướng tông, Mật tông, Thiên Thai hay Pháp Hoa tông, Hoa Nghiêm tông, Tam luận tông, Câu Xá tông, Thành thật tông

I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC TÔNG PHÁI:
Sau khi Phật nhập Niết Bàn một trăm ngày, có 500 vị Thượng Toạ trưởng lão (Sthavias) tổ chức cuộc kết tập lần đầu trong hang Saltapanni rừng nigradha cử Tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Thủ tọa, ngài A Nan trùng tuyên những lời Phật dạy làm thành tạnh kinh, cử Ngài Ưu Ba Li đọc lại các điều răn của Phật để kết tập Luật tạng, tôn giả đại Ca Diếp đứng đầu coi việc giải thích đạo lý trong Kinh, làm thành bộ Luận tạng. Gọi chung là Tam Tạng (Tripitaka).
Một trăm năm sau, trong giáo đoàn có sự tranh luận về cách giữ giới luật và cách hành đạo. Các vị trưởng lão Thượng toạ triệu tập cuộc kết tập lần thứ hai ở thành Xá Vệ, đề cử Thượng Toạ Yaca làm Thủ toạ. Kết quả phái Thượng toạ trưởng lão vẫn giữ phương thức bảo thủ, phái đại chúng giữ phương thức Tiến Thủ. Nhưng cả hai không rời tôn chỉ của Phật.
Vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua Asoka (ADục Vương 227 – 274 trước Tây lịch) triệu tập cuộc kết tập lần thứ ba ở thành Pataliputra.
Vào khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt (thế kỷ I sau Tây Lịch) vua xứ Nhục Chi là Kanisnka, giữ bá quyền vùng Tây Bắc Ấn Độ, rất sùng đạo, triệu tập cuộc kết tập lần thứ tư ở thành Jalandhara, do hai Thượng Toạ Pârcya và Vasumitra làm Thủ toạ, đây là cuộc kết tập lần cuối cùng.
Từ đó trong Phật giáo có hai tông phái lớn là: Tiểu Thừa và Đại Thừa, hai bên tuy phân biệt ra như thế nhưng vẫn theo tôn chỉ của Phật. Đại Thừa thì theo tinh thần Phật dạy mà tiến hóa hợp hợp khế cơ. Tiểu Thừa thì một mực trì thủ lời Phật trong các kinh chứ không thay đổi.
Hiện nay theo các kinh của Hán Tạng thì có 11 tông phái đang hoàng pháp.
II. CÁC TÔNG PHÁI:
* 02 Tông Phái Tiểu Thừa:
1. Câu Xá Tông:
Do ngài Thế Thân Bồ Tát lấy ý nghĩa trong kinh Đại Tỳ Bà Sa (Mahahvibhasacastra) viết thành bộ Câu Xá Luận, được Ngài Trần Châu dịch rồi truyền sang Trung Hoa rất sớm nhung sau đó thất truyền. Đến khi Ngài Huyền Trang sau chuyến Tây du thỉnh kinh mới đem về dịch lại bộ luật này, rồi đệ tử Ngài là Phổ Quang dựa vào mà làm nên “Câu Xá thuật ký” và Ngài Pháp Bảo làm bộ “Câu Xá luận sớ” thì Câu xá mới thành một tông phái là Tông Câu Xá nhưng chỉ thịnh hành đến cuối thế kỷ thứ IX thì suy vong và nhường chỗ cho các tông phái Đại thừa.
Câu Xá Tông chia vạn hữu ra thành Vô Vi Pháp và Hữu Vi Pháp. Vô Vi Pháp chỉ về cảnh giới thường trụ không sinh không diệt, tức là lý thể. Hữu Vi Pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới sinh diệt vô thường.
Căn bản giải thoát dùng Giới, Định, Tuệ để hiểu rõ lý nhân quả của Tứ Diệu Đế. Dùng tam học ấy mà đi tới giải thoát tức là vào Niết bàn.
2. Thành Thực Tông:
Tông này đồng thời với Câu Xá Tông, do ngài Ha Lê Bạt Ma (Harivarma) y vào ý nghĩa Bộ Thành Thật Luận mà lập ra vào khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt.
Thành Thực Tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế giới môn và đệ nhất nghĩa môn.
Tông này chủ trương “Nhân không và Pháp không”. Người và Pháp cả hai đều không. Thi hành Diệt đế, chân lý thứ 3 trong Tứ Diệu đế cũng đủ an lạc, giải thoát lục đạo.
* 02 TôngPhái vừa Tiểu Thừa vừa Đại thừa:
1. Luật tông:
Tông này lấy giới luật làm căn bản. Đến đời Đường, Ngài Trí Thủ luận sư chú giải những bộ luật (Thập tụng luật, Tứ phần luật, Ngũ phần luật, Tăng kỷ luật) và đệ tử của Ngài, Đạo Tuyên luận sư nhận thấy có 68 bộ Luật tứ phần hợp với căn cơ của người Trung Hoa nên đã căn cứ vào bộ luật nầy mà lập “Luật tông”.
Luật tông chủ trương lấy tu rồi sẽ hiểu, hãy giữ giới cho nghiêm tịnh thì tâm sẽ định tĩnh thanh tịnh và trí tuệ sẽ phát sinh, chân tâm sẽ hiển bày, Phật tánh sẽ hiển lộ.
2. Thiền Tông:
Tông nầy nguyên thuỷ thuộc về Không Bộ bên Tiểu Thừa. Thiền Tông không bàn luận về vũ trụ, căn bản là ngộ đạo mà thôi (giải thoát), là một tông phái lấy tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.
Thiền Tông chủ trương “bất lập văn tự”, chỉ cốt “tâm truyền tâm”, thực tướng của vũ trụ thuộc về trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất cả sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thực tướng được. Phi tọa thiền và trực giác thì không sao biết được thực tướng.
* Sáu Tông Đại Thừa:
1. Pháp Tướng tông:
Tông này lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc, tại Ấn độ do Ngài Thế Thân phát triển và tại Trung Hoa do Ngài Huyền Trang truyền bá sau chuyến Tây du thỉnh kinh trở về.
Chủ trương vạn Pháp đều do thức biến ra. (Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức) Thức có 8: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức. Trong 8 thức thì A Lại Gia Thức là căn bản, vì chứa hết thảy Chủng Tử để sinh khởi nhất thiết chư Pháp.
2. Tam Luận Tông:
Tông này lấy Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận của Ngài Long Thọ Bồ Tát và Bách Luận của Ngài Đề Bà làm căn bản, chủ trương là phá chấp nêu bày chánh lý với phương pháp tu hành là phá sự chấp trước của ngọai đạo để chứng ngộ chân lý bằng cách quán pháp “Bát bất trung đạo”.
Về phương diện đạo lý, Tam Luận tông giống như cửa ải muốn tiến bước trên con đường giải thoát phải buông bỏ “Chấp trước”, nếu không muốn bị phát hiện món hàng quốc cấm đó khi qua ải.
3. Thiên Thai Tông (Pháp hoa tông)
Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do ngài Huệ Văn Thiền Sư đời Trần và đời Tuỳ (vào khoảng thế kỷ thứ 6) theo ý nghĩa bộ Trí Độ Luận tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa luận và lấy Pháp Hoa Kinh làm gốc, nên còn gọi là Pháp Hoa Tông.
Thiên Thai chủ trương thuyết “Chư Pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ Tát, Phật sinh tử hay Niết Bàn cũng ở nơi tâm ấy. Khi đã thấu suốt chân lý là chân lý là giải thoát lý chấp trước. Cuối cùng phải triệt ngộ thật tướng của vũ trụ. Do vô vi, do niệm đạt tới sự hoạt động của đại ngã, đại vi.
4. Hoa Nghiêm Tông (hay Hiền Thủ tông):
Tông này cũng phát khởi ở Trung Hoa căn cứ ở Hoa Nghiêm Kinh do Đỗ Thuận và Trí Nghiêm Hoà Thượng ở đời Tuỳ và Đường lập ra, người có công kế thừa và xiển dương là là Ngài Pháp tạng còn gọi là Hiền Thủ.
Tông này theo chủ trương “Pháp giới duyên khởi” Vạn hữu có tam đối lục tướng là do thập huyền môn, thập huyền diệu, lý duyên khởi và lục tướng viên dung mà phát sinh lý “Sự sự vô ngại”. Đây là cái đặc sắc của giáo lý Hoa Nghiêm Tông.
Theo Tông này thì phân biệt chân vọng dứt trừ điên đảo. Để tâm thanh tịnh cùng thực tại Nhất Như là giải thoát.
5. Mật tông (hay Chân Ngôn Tông):
Tông này căn cứ ở Đại Nhật Kinh, lấy bí mật Chân Ngôn làm Tông chỉ, nên cũng gọi là Mật Tông.
Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cương Tát Đỏa, Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không đem qua trung Hoa vào khoảng đời Đường. Chân Ngôn Tông chủ trương thuyết Lục đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức. Cho lục đại là thực của vũ trụ.
Sự giải thoát của Tông nầy là do tự thân thành Phật, cho nên bỏ hết chấp trước mà theo cái hoạt động của Đại ngã với phương thức Tam mật (Thân, Khẩu, Ý).
6. Tịnh Độ Tông:
Tông nầy lấy việc quy y tịnh độ làm mục đích, chuyên trì tụng các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà. Tịnh Độ Tông phát khởi từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong kinh điển ghi các vị Bồ Tát Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân khuyên mọi người nên tu Tịnh Độ. Tịnh Độ Tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật, vì ở thế gian phiền não nên cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương. Vì tự lực khó đạt nên càu tha lực Đức Phật A Di Đà.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5Khái lược lịch sử Phật giáo từ thời du nhập đến Trịnh – Nguyễn
Khái lược lịch sử Phật giáo Việt Nam thời du nhập
Đai cương:
Lịch sử Phật giáo Việt Nam không những chỉ cống hiến sự lợi ích về tìm hiểu lịch sử Phật giáo đơn thuần mà cồn nối lên tình cảm tôn giáo của dân tộc nữa.
Việc tìm hiểu Phật giáo Việt Nam thời du nhập thì có nhiều tài liệu sai khác về thời gian, địa điểm khai phá và nhân vật lịch sử.
Có 3 thuyết bàn về niên đại du nhập:
* Phật giáo được truyền trực tiếp vào Việt Nam trước Trung Hoa (Cổ Châu Pháp Vân, Phật bản hành ngũ lục).
* Phật giáo được truyền vào Việt Nam đồng một lúc với việc truyền vào Trung Hoa (Nam Phong tạp chí 1928).
* Phật giáo được truyền vào Việt Nam theo ngã Trung Hoa (Thuyết Chavannes).
Phật giáo du nhập vào việt nam:
1. Con đường du nhập:
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam bằng con đường trực tiếp từ Ấn Độ, do các thương nhân Ân đem vào, trước khi truyền vào Trung Hoa, nhưng vào thời gian nào thì chưa được xác định và tín ngưỡng Ấn Độ đã Việt hóa trước Công nguyên rất nhiều. Tuy nhiên nếu dựa vào các nhân chứng lịch sử thì Phật giáo được truyền vào Việt Nam cuối đời Linh Đế (Trung Hoa 168 – 189) do Ma Ha Kỳ Vực và Khâu Đà La trực tiếp đem vào Việt Nam (PGVN.TVG.Trg 59).
2. Nhân vật lịch sử:
a. MA HA KỲ VƯC: (hay còn gọi là Ma Ha Kỳ Thành Marajivaka – hay Jivaka).
Nguyên quán Tây Trúc vân du khắp nơi, không trụ bất cứ chỗ nào, có các hành động mà các đệ tử không thể nào biết được. Vào Việt Nam năm 189 sau công nguyên. Ngài đi từ Ân Độ đến Phù Nam, rồi đi dọc bờ biển đến Giao Châu (Việt Nam). Sau chống tích trượng qua Trung Hoa.
Phép lạ: Một lần đến bến sông Tương Dương, Ngài muốn đi đò qua sông, nhưng người lái đó thấy Ngài quần áo rách tả tơi, khinh bỉ không cho Ngài xuống thuyền. Nhưng thật kỳ lạ Ngài lại quá sông trước con thuyền. Đến khỏang năm 306 Ngài về lại Ấn Độ.
b. KHÂU ĐÀ LA:
Ngài người Ấn Độ vân du hoằng hóa vào Việt Nam khỏang năm 189 sau công nguyên. Ngài cùng với cư sĩ Tu Định (Man Tu Định) người Cao Miên ở tại làng Cổ Châu lập chùa Dâu tu tập (Huyện Siêu Loại, Phủ Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh). Ngài Khâu Đà La còn có tên là Cà La Chà Lê. (Kà Ka Cà Rya hay Hắc Sư). Khâu Đà La tu Mật tông.
Một hôm Ngài tụng một bài kệ rồi biến mất, người ta nghe tiếng nói của Ngài vang trên đỉnh núi phía Tây, rồi tìm kiếm Ngài nhưng vô hiệu, nên không rõ rồi Ngài ra sao.
c. KHƯƠNG TĂNG HỘI:
Theo Lương Cao Tăng truyện do Huệ Hạo soạn 519, Ngài dòng dõi người Khang Cư (Sogdian) thuộc giống người Transoxiane lập cư tại Thiên Trúc. Nhưng Khương Tăng Hội theo cha vào Việt Nam từ lúc còn rất nhỏ (khỏang 189) Ngài xuất gia lúc 10 hay 13 tuổi. Ngài là một người trác tuyệt có biệt tài học thức và rộng lượng, thấu suốt tam tạng kinh điển.
d. CHI CƯƠNG LƯƠNG: (Kàlaruci) tên ngài có nhiều nghi vân:
- Cương Lương Tiếp (Kiang – Leang – Isie).
- Cương Lương Lâu (Kiang – Leang – Loa).
- Chi Cương Lương (Kiang – Leang – Leon Lehe Kàlaruci) nghĩa là Chân Hỷ.
Kàla nghĩa là đen, Ruci nghĩa là vui vẽ như vậy không thể dịch Kala là Chân được. Phạn văn KaLiana có nghĩa là tốt hay đẹp. Vậy Chi Cương Lương phải là Kalianaruci mới đúng.
Ngài người xứ Lục Chi, vào Việt Nam năm 255 ở lại giảng đạo khoảng 10 năm, đến năm 266 qua Quảng Châu và dịch kinh Thập Nhị Du kinh.
e. MÂU BẮC: tức là Mâu Tử.
Ngài sinh ở Thương Ngô (nay là Ngô Châu) bên cạnh sông Tây Giang. Khoảng năm 165 hay 170 Ngài đến Việt Nam cùng với Mâu Thân trước năm 189 sau trở về Thương Ngô, lúc 25 tuổi và lập gia đình ở đây khoảng năm 194 đến 195 Mâu Tử theo Phật giáo và nhiều người Trung Hoa ở Việt Nam bấy giờ cũng theo đạo Phật giống Ngài.
3. Những nhà sư du hành:
a. Đoàn thứ nhất: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ tư gồm Pháp Sư Minh Viễn, Thiền sư Huệ Mạng, Thiền sư Vô Hành (Bát Nhã Đề Bà).
b. Đoàn thứ hai: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ V đến thứ VII gồm: Thiền sư Đàm Nhuận, luật sư Trí Hoằng, Tăng Cà Bát Ma.
c. Đoàn thứ ba: đến Việt Nam khoảng thế kỷ thứ VIII đến thứ X gồm: Sư Vận Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Pháp sư Khương Xuy, Pháp sư Huệ Diện, Pháp sư Trí Thành, Thiền sư Đại Thành Đăng.
Kết luân:
Thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy ở Việt Nam có vị trí thuận lợi, nơi giao tiếp giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.
Mặc dù Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ân Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khởi, xuyên qua các dữ kiện lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa. Do đó người Việt Nam thời bấy giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận chuyển tư tưởng nói trên.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Khái lược Phật giáo Việt Nam thời đại : Đinh – Lê – Lý – Trần

I. KHÁI LƯỢC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ DÂN TỘC:
Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn độc lập của dân tộc Việt Nam,kéo dài 431 năm, từ năm Đinh Tiên Hòang xưng đế đến năm Trần Thuận Tông nhường ngôi cho Trần Thiếu Đế(Thái Tử An) rồi bị Quý Ly cướp ngôi,(1400) chia ra như sau:
- Nhà Đinh từ 968 đến 980 cai trị 12 năm.
- Nhà Lê từ 980 đến 1009 cai trị 29 năm.
- Nhà Lý từ 1010 đến 1225 cai trị 215 năm.
- Nhà Trần từ 1225 đến 1400 cai trị 175 năm.
II. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO:
Trong bốn triều đại đó, Phật giáo gắn liền với lịch sử dân tộc, do các vị cao Tăng tài đức đương thời luôn luôn tham gia quốc chánh.
Giai đoạn lịch sử này là giai đoạn thăng hoa của lịch sử Phật giáo. Hệ tư tưởng Phật giáo, nhân tài theo Đạo Phật, đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc, có nhiều giai đọan quyết định cả vận mạng dân tộc lúc bấy giờ.
(Tham khảo tập sử liệu “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới triều đại nhà Hậu Lê (Lê Lợi) ta thấy rất rõ nét những sự việc của Phật Giáo xen lẫn với các sự việc của đất nước. Điều đó nói lên hệ tư tưởng Phật Giáo chỉ đạo cho đời sống của dân tộc trong giai đoạn này. Đó là đem Đạo, giáo hóa đời và ngược lại đem đời nhập hóa vào Đạo).
Trong phần này chia làm 4 giai đoạn phù hợp với 4 triều đại lịch sử dân tộc cho dễ hiểu.
1. Phật giáo thời đại nhà Đinh:
Trong triều đại nhà Đinh Phật Giáo được quan tâm là do sức đóng góp của các danh Tăng. Vua Đinh định phẩm trật cho hàng Tăng Sĩ, đó cũng là thời kỳ đầu tiên hàng giáo phẩm Phật Giáo Việt Nam có danh vị: vào năm Tân Mùi (971) vua Đinh Tiên Hoàng chế định chức sắc hàng quan lại triều dình, kể cả hàng Tăng sĩ lỗi lạc của Phật giáo, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Pháp Sư Trương Ma Ni làm Tăng Lục, giới văn nhân trong nước hầu hết ở trong hàng Tăng Sĩ.
2. Phật giáo triều đại nhà Lê:
Vua Lê Đại Hành lên ngôi, cho dù việc chính trị trong nước có thay đổi, nhưng Phật Giáo cứ phát triển mạnh hơn. Vua Đại Hành tiếp tục phong Ngài Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, và bất cứ việc gì trong nước Vua đều hỏi ý kiến Tăng Thống.
Năm 963 Vua Đại Hành sai sứ đi thông hiếu với nhà Tống, đã thỉnh 2 bộ kinh về truyền bá trong nước, đó là Cửu Kinh và Đại Tạng Kinh.
Trong giai đoạn này, Tăng Sĩ Phật Giáo còn một vị nổi danh nữa là Pháp Sư Đỗ Thuận. Pháp sư được làm sứ giả đón tiếp sứ thần nước ngoài (Chuyện Lý Giác) và hổ trợ cho Vua Lê Đại Hành trong việc “vận trù định sách” với trách nhiệm chính trong vai trò đối ngoại của triều đình.
3. Phật Giáo triều đại nhà Lý:
Vua Lý Thái Tổ là con nuôi Sư Lý Khánh Văn, là học trò Sư Vạn Hạnh, do đó bản thân nhà vua là một Phật tử thuần thành. Người xây dựng triều Lý đã đem học thuật và tư tưởng Phật Giáo vận dụng vào việc cai trị đất nước, vì vậy Phật Giáo vào thời nầy trở thành Quốc giáo.
Vua Lý Thái Tổ đặt nền móng phát triển đạo Phật, xây chùa tạc tượng, đúc chuông, truyền bá chánh pháp cho con cháu đời đời noi theo.
Suốt 215 năm Lý trị vì đất nước, Phật Giáo cũng sản sinh nhiều Tăng tài nổi danh nhờ các cống hiến to lớn như của các nhà sư như: Thiền Sư Vạn Hạnh, Thoại Linh, Viên Chiếu… Các dòng Thiền được hình thành và phát triển như: Dòng Thiền thứ nhất của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (560). Dòng Thiền thứ hai của Ngài Vô Ngôn Thông (820), phái Thảo Đường (1060)…
Năm 1224, vua Lý Huệ Tôn xuất gia ở chùa Chân Giáo lấy hiệu là Huệ Quang Đại sư.
Suốt triều Đại nhà Lý hơn 2 thế kỷ, Phật giáo hòa nhập trọn vẹn trong đời sống của toàn dân.
4. Phật giáo triều đại nhà Trần:
Đó là thời kỳ vẻ vang và phát triển rất mạnh. Đâu cũng có chùa, có Phật để tín đồ chiêm bái. Tăng đoàn mạnh đến nỗi triều đình phải tổ chức các khoa thi để loại bớt. Phật Giáo chấn hưng khoảng 100 năm đầu, rồi dừng lại, bởi sự phát triển quá đà nên mê tín dị đoan và thoái bộ.
Trong thời đại này, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được xiển dương. Vua Trần Thái Tôn đã mở đầu bằng “Thiền môn chỉ mãn” và “Khóa Hư” để rồi vua Trần Nhân Tông xuất gia khai sáng phái Trúc Lâm. Phật Giáo đời Trần sản sinh nhiều danh Tăng và cư sĩ tên tuổi như: Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tảng), Pháp Loa, Huyền Quang..
Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được xưng tụng là Trúc Lâm Tam Tổ.
III. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐƯƠNG THỜI:
1. Tư tưởng dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi:
Qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần, dòng Thiền thứ nhất Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển. Hệ tư tưởng chính của phái nầy là:
a. Bản chất của Giác Ngộ là Bồ Đề, Kinh căn bản của Thiền Tông đương thời:
- Quán nội giới của thân là không.
- Quán ngoại giới của thân là không.
- Không bị chấp trước vào Nhất Thiết Trí.
- Không chấp trước vào phương tiện tu hành.
- Không bị chấp trước vào các địa vị tu chứng của các vị Hiền Thánh.
- Không chấp trước vào sự thanh tịnh đạt được do hành đạo lâu ngày.
- An trú Bát Nhã Ba La Mật.
- Không bị chấp trước vào công việc giảng luận giáo hóa.
- Quán các chúng sanh phát khởi Từ bi và lòng lân mẫn.
b. Tư tưởng Phật giáo:
Qua Kinh Tổng Trì, Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một trong những Thiền sư lừng danh từ Tâm An sớm nhất trong lịch sử thiền. Kinh mật giáo “Đại Phật” nói: Đối với mọi lời giáo huấn của Phật, không gì là không nắm được tinh yếu, nếu có thể giữ gìn được tâm ấn ấy để mở rộng tất cả pháp môn, đó gọi là người thông đạt được cả Tam Thừa. Tâm ấn ở đây là tinh yếu mật ý của Mật tông.
Theo mật giáo, trong vũ trụ có làng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên, thì có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi phải tuần tự từng bước. Sự giác ngộ có thể thành đạt ngay giờ phút hiện tại. Sử dụng các thế lực thần linh, sử dụng thần chú ấn quyết các hình ảnh Mandàla có thể hỗ trợ đắc lực cho sự thiền quán hành đạo.
Chính vì khuynh hướng nầy của Mật Giáo mà Phật Giáo đã bao trùm tín ngưỡng dân gian Việt Nam đương thời.
2. Tư tưởng dòng Thiền Vô Ngôn Thông:
Kéo dài ba triều đại Đinh, Lê, Lý, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa, được thấy trong lối trình bày lịch sử Thiền, trong các tổ chức tu viện, trong việc sử dụng thoại đầu.
Các Thiền sư trong Thiền phái này thay gì tu tập theo kinh Bát Nhã, họ đã thu nạp rất nhiều kinh điển khác như: Viên Giác, Pháp Hoa…… Các Thiền sư chủ trương đốn ngộ và vô đắc. Ảnh hưởng của Mật Giáo còn thấy trong hệ tư tưởng của dòng Thiền nầy.
3. Tư tưởng Thiền phái Thảo Đường:
Thiền sư Thảo Đường là đệ tử đắc pháp của Thiền sư Tuyết Đậu thuộc thiền phái Vân Môn, do đó tư tưởng của Thảo Đường được xuất xứ từ Vân Môn, mà tác phẩm trọng yếu là tập “Bích Nham” và “Tuyết Đậu Ngữ Lục”. Chủ trương của Thảo Đường là Thiền học trí thức và thi ca, không chú trọng về tà thuật huyền bí.
4. Tư tưởng phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử:
Thiền phái Trúc Lâm bao gồm hệ tư tưởng của ba thiền phái có trước, phát triển rất mạnh tư tưởng được lược sau:
Sự quan trọng của tâm học, chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên nền tảng học vững chắc mới thàng tựu được. Tâm học gồm như: Tâm lý học tức là Duy Thức học. “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức tiếp xúc nhau sự gì xảy ra? Khi ấy cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có một chủ thể thường tại để mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt, còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ có sinh diệt”
Như vậy là đừng tìm quả vị giác ngộ như một đối tượng của nhận thức: Quả vị giác ngộ phải được thực hiện ngay trong tự thể của tâm. Mọi tìm cầu bên ngoài đều vô hiệu.
IV. KẾT LUẬN:
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam thông qua bốn triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đã ăn sâu vào cội rễ dân tộc, xuyên qua các ảnh hưởng của Phật Giáo đối với tất cả các vấn đề của dân tộc như:
- Tạo vị trí vững chắc trong lòng dân tộc
- Chi phối chính trị xuyên suốt 4 triệu đại.
- Ảnh hưởng sâu rộng trong văn minh và văn hóa dân tộc.
- Chi phối kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật.
- Phát triển Tăng đoàn vững mạnh, hệ thống tu viện thanh tịnh.
- Dịch thuật, biên soạn rất nhiều kinh sách Phật Giáo.
- Về tư tưởng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa.
- Phát triển Tịnh Độ Tông.
- Chịu ảnh hưởng của Mật Giáo, thoái hoá dẫn đến mê tín dị đoan.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời đại Lê – Nguyễn

I. ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRIỀU LÊ – NGUYỄN:
Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn nầy có thể chia làm 3 giai đọan:
1. Giai đoạn nhà Lê trị vì từ 1427 – 1527:
Giai đoạn nầy kéo dài 99 năm qua 10 đời từ Triều đại vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đến vua Lê Chiếu Thống.
2. Giai đoạn Nam Bắc phân tranh từ 1528 -1802 (hoặc thời kỳ Vua Lê và chúa Trịnh phía Bắc – Chúa Nguyễn Hoàng ở phương Nam):
Giai đọan này kéo dài 274 năm được chia ra như sau:
* Từ 1528 – 1533: Khởi đầu Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, họ Trịnh giúp vua Lê Trung Hưng rồi lấn quyền vua Lê về chính trị.
* Từ 1533 – 1788: Nguyễn Hoàng ly khai họ Trịnh vào Nam tạo thế phân tranh kéo dài 255 năm.
* Từ 1788 – 1802: Nhà Nguyễn Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo dài 14 năm sau cái chết của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
3. Giai đoạn nhà Nguyễn Gia Long (1802-1945):
Kể từ khi đánh thắng nhà Tây Sơn, vua Gia long thành lập triều đại kéo dài 143 năm và chấm dứt vào thời kỳ vua Bảo Đại.
II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU LÊ – NGUYỄN
Dựa vào lịch sử nước nhà ta cũng chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra làm 3 giai đoạn:
1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê:
Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần. Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15). Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách đồng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt.
Mười ba năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê. Thế nhưng triều đại Hậu Lê là triều đại độc lập chính trị đầu tiên của Việt Nam đã bỏ rơi nền văn hóa dân tộc độc lập, đã bỏ rơi truyền thống dung hợp, khai phóng nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh và phú cường để chạy theo một cách chính thức và toàn diện nền văn hóa ngoại lai đã từng được quân xâm lăng Trung hoa đô hộ áp đặt nhưng không thành công. Mặc dầu năm 1424 vua Lê Thái Tổ có mở kỳ thi khảo hạch tăng đạo, người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành, ai hỏng thì phải hoàn tục (quả thật là một lối xét định kiến thức và đạo đức của tu sĩ Phật giáo một cách từ chương như là một biện pháp nhằm đàn áp và tiêu diệt Phật giáo một cách quy mô và toàn diện hơn). Ngoài ra có những lúc triều đình cũng tổ chức những buổi rước Phật (năm 1934), xuống chiếu ra lệnh cho bá quan văn võ ăn chay (1448, 1449) để đến chùa cầu mưa, nhưng những hình thức đó chẳng qua được xem như là một thứ đạo phù thủy dùng để cúng tế cầu đảo. Một tinh thần văn hóa ngoại lai mang đậm bản chất độc tài, độc tôn, độc đoán, hẹp hòi cố chấp và bảo thủ đã thể hiện rõ nét trên con người của vua Lê Thái Tổ khi sai bắt giết hai đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn (khiến Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử) và Phạm văn Xảo, rồi sau đó cùng một số nho thần ích kỷ với bản chất nô lệ từ tâm hồn đến tư tưởng đã vu hãm vô cùng hèn mạt để giết Nguyễn Trãi và giết sạch 3 họ nhà ông. Quả thật một chế độ khắc nghiệt và tàn bạo thể hiện đúng bản chất độc tài chuyên chế của Tống Nho phi nhân, nô lệ văn hóa ngoại lai, khác với truyền thống của dân tộc Đại Việt đã từng tha chết cho tên giặc cướp Nùng Trí Cao và vua Chiêm Thành Chế Củ đời vua Lý Thái Tông, rồi đời vua Trần Thánh Tông cũng đã từng tha chết khoan dung cho cả quan quân công tác với quân Mông Cổ, kể cả đoàn quân bại trận trong 2 thời kỳ chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288.
2. Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh:
a. Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài):
Sau thời gian bị suy thoái dưới thời Hậu Lê và nhà Mạc, đến thời chúa Trịnh Phật giáo bắt đầu phục hưng. Từ năm 1533 Phật giáo hồi sinh bởi công lao của các Thiền sư:
+ Thiền phái Tào Động: Vào khoảng 1575 – 1599 thiền sư Thủy Nguyệt, người Thanh Triều, Thái Bình là đời 36 phái Tào Động tại Trung Hoa và là Sơ tổ phái Tào Động Việt Nam ở đàng Ngoài.
+ Thiền sư Chuyết Chuyết tên là Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 tại quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa. Từ Trung Hoa vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 vào năm 43 tuổi, Ngài mất Rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi. Sau khi tịch được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Ngài thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương (người Đại Việt).
+ Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết. Thiền sư là viện chủ chùa Phật Tích (năm 1643), đến năm 1644 khi sư phụ mất ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Thiền sư thị tịch vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Trước khi tịch Ngài có để lại một bài kệ được dùng để đặt pháp danh cho các thế hệ kế thừa của Thiền phái Lâm Tế ở đàng ngoài.
+ Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với Thiền sư Chân Trú (là đệ tử của Thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng. Sau khi Chân Trú mất, ông tu hạnh đầu đà du phương cầu học, sau đó đến tham học với Thiền sư Minh Lương (đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên. Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Thiền sư cùng chúng đệ tử là những người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, phục hồi nền văn học nước nhà: trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh (1715), soạn Kế Đăng Lục (1734), Thiền Tông Bản Hạnh, trùng khắc Thánh Đăng Lục (1750), Khóa Hư lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763), Tam Tổ Thực Lục (1765)… Năm 1722 lúc 76 tuổi Thiền sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu là Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726 trong tư thế kiết già, Ngài tịch vào tháng 10 âm lịch thọ 80 tuổi.
+ Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, năm 18 tuổi đậu cử nhân được tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn, sau đó làm Tri phủ Triệu Phong Quảng Trị. Năm 25 tuổi tham học đạo Phật với Thiền sư Viên Cảnh người Trung Hoa. Năm 1655 (năm 28 tuổi) ông Từ Quan, xuất gia với Thiền sư Viên cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính để thiền sư giảng pháp. Sau đó ngài bị vu cáo cùng một quan Thị Nội giám là Gia Quận công là âm mưu trốn ra đàng ngoài, bị chúa Nguyễn Phúc Tần tra khảo, sau đó đưa vào Quảng Nam. Từ sự đối đãi ấy tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) Thiền sư cùng 50 đệ tử dùng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài, thuyền ghé vào Trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na hầu, quan trấn thủ về tâu với triều đình, chúa Trịnh Tạc sai Đường Quận công đem thuyền vào Nghệ An rước Thiền sư và chúng đệ tử ra Đông Đô. Sau đó chúa Trịnh cho xây dựng chùa ở trấn Sơn Nam để thầy trò giảng pháp tu học vào năm 1683. Năm Ất Mùi (1715) sáng ngày 13.05 sau khi tắm, thiền sư khoác y, đội mủ, đeo tràng Hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi.
b. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong):
Khác với đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng thấy đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ, cho nên khi mới vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã liên tiếp cho xây dựng các chùa. Đồng thời chính là lúc chuyển tiếp giữa triều Minh và Thanh nên các danh tăng Trung Hoa tới đàng trong hoằng hóa khá nhiều nhưng đều thuộc thiền phái Lâm Tế:
- Thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị.
- Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ (Báo Quốc), Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, ở Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
- Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông ở Phú Yên
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và các chùa Quốc An và Hà Trung ở Thuận Hóa.
- Riêng hai vị Thiền sư Thạch Liêm khai sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa và Quốc sư Hưng Liên (đệ tử Thạch Liêm) khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng Nam thuộc phái Tào Động
3. Lịch sử Phật giáo Việt Nam triều Nguyễn:
a. Thời kỳ Tây Sơn:
Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước, Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ ở các làng xóm để tập trung vật liệu xây ở mỗi Phủ, Huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang và cho mời những Tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo, còn những người không xứng đáng phải hoàn tục. Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lạm phát chùa chiền và thoái hóa của Tăng sĩ trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố phường, làng mạc, bàng bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở, nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo trong cả một chương trình phát triển đại quy mô. Nhưng vì vua Quang Trung mất sớm nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.Thời kỳ nầy có một tác phẩm nổi bậc đó là “Hứa Sử truyện” của Ngài Toàn Nhật, đệ tử Ngài Diệu Nghiêm.
b. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long:
Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn. Triều đình Nguyễn Gia Long thực hiện đúng bản chất của một chế độ Tống Nho thời Hậu Lê. Qua hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn: Quật mộ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem giam sọ của hai người vào ngục tối, con của vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và các tướng lãnh khác cùng vợ con kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, voi dày xé xác. Con cháu anh hùng Quang Trung bị truy nã, chém giết, các di tích liên hệ đến phong trào Tây Sơn bị tiêu hủy với ý đồ man rợ qua câu nói: “trẫm vì chín đời mà trả thù”. Rồi để cũng cố nền thống trị độc tài bằng cách tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế, tạo nên thế gia đình trị, Nguyễn Ánh tiếp tục giết hại những công thần đã cùng vào sinh ra tử như: Đỗ Thành Nhơn, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, san bằng mồ mã Lê Văn Duyệt, Lê Chất… Do chính sách của Nguyễn Ánh, sợ ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị, nên Phật giáo không được ưu đãi. Tuy có một số chùa được sắc tứ và trùng tu nhưng là những ngôi chùa mà trong thời gian bôn tẩu Nguyễn Ánh đã từng cư trú, hoặc chuẩn bị để đánh bại Quang Trung, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích gây phúc đức cho dòng họ. Tuy vậy vẫn có một số danh Tăng nổi tiếng như:
- Thiền sư Mật Hoằng người Bình Định, đệ tử của Thiền sư Linh Nhạc thuộc dòng phái Nguyên Thiều, năm 1815 được vua Gia Long triệu về kinh cấp chứng chỉ Tăng Cang và trú trì chùa Quốc An.
- Thiền sư Phổ Tịnh người Quảng Nam hiệu là Đạo Minh, đệ tử của Ngài Chiếu Nhiên thuộc phái Liễu Quán. Năm 1808 được Hoàng Thái Hậu Hiến Khương thỉnh trụ trì chùa Thiên Thọ (Báo Quốc). Ngài tịch năm 1816.
- Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chính, đệ tử của Thiền sư Đạo Nguyên. Ngài xuất gia năm 1807, thọ Cụ túc giới năm 1810 là người sáng tác sách ‘Pháp Hoa đề cương’ năm 1819 và Tâm kinh Trực giải năm 1843 còn lưu lại đến ngày nay.
- Thiền sư Thanh Nguyên hiệu Minh Nam là người viết bài tựa cho ‘Pháp Hoa đề cương’.
- Thiền sư An Thiền trú trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh là tác giả cuốn Tam Giáo Thông Khảo viết vào năm 1845.
- Thiền sư Nhất Định pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị sinh năm 1783 tịch năm 1847. Đương thời Thiền sư được vua Gia Long và vua Minh Mạng tôn trọng.
- Thiền sư Diệu Giác pháp danh Hải Thuận, người làng Bích Khê, Quảng Trị họ Đỗ, sinh năm 1805, mất năm 1896. Là đệ tử của Thiền sư Nhất Định, trú trì chùa Diệu Đế là người có công trùng tu các tổ đình Huệ Lâm, Báo Quốc, Kim Tiên.
- Thiền sư Phúc Điền trú trì chùa Liên Tông làng Bạch Mai, Hà Đông là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo, Ngài biên soạn sách ‘Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục’.
- Và còn rất nhiều danh Tăng nổi tiến khác.
III. NHẬN ĐỊNH:
Lịch sử Phật giáo suốt hai triều LÊ – NGUYỄN kéo dài 517 năm, nhưng do tình hình chính trị trong nước bất ổn nên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật giáo nước nhà.
Thời Hậu Lê nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, nền văn hóa dân tộc độc lập của Đại Việt bị thay thế bằng nền văn hóa giáo điều và từ chương của Tống Nho. Nho học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thoái lại càng suy thoái hơn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vỡ sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý – Trần. Bởi vậy triều Hậu Lê xem như là một triều đại mà Phật giáo suy đồi nhất trong các triều đại kể từ khi đất nước Đại Việt dành lại chủ quyền dân tộc từ tay đế quốc Trung Hoa đến thế kỷ 15 – 16. Trong thời kỳ này đa số Tăng sĩ thiếu học, tu tập theo hình thức, không chú trọng nội dung tư tưởng, ngoài ra còn làm nhiều việc mê tín như: điểm nhãn, cầu mưa, phù chú..
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhìn chung hai họ Trịnh Nguyễn đều hâm mộ đạo Phật, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo công đức cho dòng họ, chứ không biết áp dụng Phật giáo vào việc trị dân, dựng nước, đồng thời cùng chung mục đích là dành dân, chứng tỏ là mình cai tri nhân từ, để lấy chính nghĩa hầu tranh quyền lẫn nhau.
Tóm lại qua lịch sử cho chúng thấy được:
- Sự rạn nức niềm tin nơi triết học Tống Nho, khiến nhiều nhà trí thức quay qua nghiên cứu Phật giáo.
- Từ năm 1558 – 1802 có 3 phái thiền hoằng hóa ở Đàng trong: Trúc Lâm – Lâm Tế và Tào Động (do một số cao Tăng từ Trung Hoa sang truyền các dòng Thiền vào nước ta).
- Tăng tài tuy nhiều nhưng không có hệ thống nhất quán mà chỉ phát triển theo khu vực.
- Phật giáo Đàng Trong phục hưng và phát triển mạnh dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng vì tình trạng chiến tranh và ảnh hưởng của chính trị nên tài liệu về Phật giáo bị tiêu hủy và thất lạc: từ các phổ hệ truyền thừa của các thiền phái đến các lịch sử truyền thừa của các chùa cũng như ngữ lục, tiểu sử của các thiền sư thời đó.
- Về văn học sử dù bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn một số tác phẩm văn học mang ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo tiêu biểu như:
- Thi phẩm “Tư Dung văn” của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634).
- Tác phẩm “Sãi Vãi” và 10 bài thơ họa lại “Hà Tiên thập cảnh” (của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích) của Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1717-1767).
- Thi phẩm chữ Nôm “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh” của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích.
- Thi phẩm “Phong Trúc tập” của ẩn sỉ thiền giả Ngô Thế Lân (người đã dâng các bảng điều trần lên chúa Nguyễn).
Tuy nhiên theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc tinh thần Đạo Phật được xem như đã hòa quyện cùng với tinh thần dân tộc của người dân Việt, vì lẽ đó Phật giáo vẫn tiềm tàng trong mọi giới chờ một ngày thuận duyên sẽ đơm hoa kết trái.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
6An cư kiết hạ

A. GIỚI THIỆU:
Từ thuở Phật còn tại thế, mỗi năm chư Tăng, Ni vân tập về một nơi, tuỳ theo tu viện hay Tịnh xá trong mùa mưa, để cùng nhau kiểm điểm lại công tác Phật sự, cùng nhau sách tấn tu học. Những ai được Giáo đoàn công nhận học khá, siêng làm đúng chánh pháp, thì được cho một tuổi gọi là Lạp. Đó là mùa AN CƯ của các chư Tăng Ni, đó là thời gian quý Ngài cùng nhau gợi ý để sám hối, nếu trong năm qua đã phạm giới luật.
Thời gian an cư thường kéo dài ba tháng, ngày cuối cùng của mùa an cư gọi là ngày TỰ TỨ.
Ở nước ta do khí hậu đặc biệt của miền nhiệt đới, chư Tổ ngày xưa đã chế lập việc an cư nhằm mùa nắng (mùa nắng ở miền Bắc, Trung miền cao nguyên và Nam là mùa mưa) thường thì bắt đầu vào Rằm tháng tư (Phật Đản) và kết thúc vào Rằm tháng 7 (Vu Lan). Do vậy An cư được kèm theo chữ Kiết hạ, và chư Tăng Ni Việt Nam lấy tuổi xuất gia qua mỗi mùa An cư gọi là Hạ Lạp.
B. NỘI DUNG:
I. Ý NGHĨA VÀ XUẤT XỨ:
- Tôn trọng sự sống: Nhằm mục đích tránh giẫm đạp côn trùng bởi sự sống chỉ có một nên không thể xâm phạm sự sống dù đó là loài vi sinh.
- Theo Tứ Phần luật San Bổ Tùy Cơ Yết ma số 4 giải thích: thân tâm đều tĩnh lặng là an; quy định thời gian ở một chỗ gọi là cư; là thời gian mà Tăng chúng quy tụ một chỗ ở thanh tịnh để cùng nhau tu hành, kiểm điểm hành vi, cử chỉ y theo luật Phật mà hành trì.
- Pháp An cư lúc đầu do Bà La Môn giáo thời cổ đại ở Ấn độ thực hành, về sau Phật giáo chọn dùng.
- Kinh Du hành trong Trường A Hàm 2, Phật Bản Hạnh tập kinh 39 đều có chép sự tích Đức Phật và đệ tử an cư tu hành.
II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN CƯ:
- Theo Kiền Độ An cư trong Luật Tứ Phần 37 quy định như sau: An cư dưới cội cây, trong thất nhỏ, trong hang núi, bọng cây, trên thuyền, nơi làng xóm hoặc có thể nương theo người chăn trâu, người ép dầu, người đốn cây.
- Pháp An cư trong Luật Ngũ phần 19: Cấm an cư ở nơi không có người cứu hộ, giữa gò mả, nơi cây không có tàng, nhà lợp bằng da thú, chỗ đất trống.
- Trước khi An cư phải sửa sang phòng xá, phân phối phòng xá và những vật cần dùng cho đại chúng một cách công bằng.
- Tỳ kheo và Sa di An cư cùng một chỗ, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma ni, sa di ni An cư cùng một chỗ.
- Trong luật tạng Pàli quy định: Tỳ kheo không an cư thì phạm tội ác tác (Đột kiết la).
- Theo Kiền độ Ca hi na, Luật Tứ phần 43, khi kết thúc an cư phải thi hành 4 việc: Tự tứ, giải giới, kiết giới và thụ công đức y; Sau khi an cư viên mãn, đại chúng xét lại hành vi của mình trong thời gian an cư, nếu có tội thì tự bày tỏ tội của mình, sám hối lẫn nhau gọi là Tự tứ (ngày Tự tứ gọi là Tự tứ nhật, Phật hoan hỉ nhật). Khi kết thúc an cư, phải giải trừ cương giới quy định gọi là Giải giới. Sau khi an cư viên mãn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni tăng thêm một Pháp lạp (còn gọi là Hạ lạp là phép tắc chuẩn định thứ lớp lớn nhỏ của người xuất gia).
III. THỜI HẠN AN CƯ:
- Theo điều Sàng Nhục Pháp trong Luật Ma-ha Tăng Kỷ 27: nếu địa điểm An cư gần thì có thể phân phối vào ngày rằm tháng 4, nếu xa hoặc có người An cư quá đông phải dời đến một nơi khác để An cư thì được phân phối vào ngày 13 tháng 4.
- Trong thời gian an cư cấm ra ngoài; nếu trái quy định này thì phạm tội Ác tác. Nhưng theo Luật Tứ phần 37, nếu đi và về trong ngày hoặc có duyên sự đặc biệt Tăng chúng cho phép thì được ra ngoài,nhưng chỉ giới hạn trong vòng 7 ngày hoặc 15 ngày mà thôi, phương pháp này gọi là Thất nhật pháp, Thụ nhật pháp.
- Thời gian an cư thông thường là 90 ngày. Theo Tứ phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, thượng, phần 4: ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày kết thúc an cư, ngày hôm sau (ngày 16 tháng 7) là ngày Tự tứ (Kinh Mục Liên và Vu Lan đều dạy: Công đức của chư Tăng 10 phương là không thể nghĩ bàn, Phật tử nên chuẩn bị Tứ sự cúng dường và cầu xin chư tăng cầu siêu độ cho cha mẹ 7 đời, cửu huyền thất tổ, trong thời gian An cư là thời gian thích hợp nhất nên ngày Tự tứ có 3 ý nghĩa:
1. Ngày hoan hỷ của chư Phật (vì giáo đoàn ngày một cũng cố và phát triển)
2. Ngày thọ Lạp của chư Tăng.
3. Ngày xá tội vong nhân. (tha tội cho những người đã mất). Ngày Vu Lan. (báo hiếu).
- Theo Đại Đường tây Vực ký 2, 8: thời gian an cư là ngày 16 tháng 4 đến ngày rằm tháng 8.
IV. CHỦNG LỌAI AN CƯ:
Có 2 loại:
- Tiền an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 5, hậu an cư thì bắt đầu từ ngày 16 tháng 6.
- Tiền an cư, trung an cư, hậu an cư: Tiền an cư là bắt đầu từ 16 tháng 4, Trung an cư thì bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 cho đến rằm tháng 5, Hậu an cư bắt đầu từ 16 tháng 5.
C. SUY NGHIỆM:
An Cư Kiết Hạ là một phương pháp thực tế và đầy nhân bản:
- Kết hợp việc tu chứng và hành trì bằng việc chú trọng thực hành và duy trì giới luật trong một thời gian và một chu kỳ nhất định.
- Làm sáng tỏ nghĩa vụ và bổn phận của người xuất gia lẫn tại gia về vấn đề hoằng pháp và hộ pháp.
- Lập nên một nhân sinh quan đạo đức căn cứ vào Hạ lạp của hàng Tăng già: Người lớn tuổi mà Hạ lạp ít vẫn không được sự tôn trọng bằng người nhỏ tuổi mà Hạ lạp cao, bởi trọng hay khinh ở đây không đo lường hay so sánh về tuổi lớn, nhỏ, địa vị xã hội trước đây mà chỉ căn cứ vào trình độ tu chứng về đạo đức.
D. TU TẬP:
1. Tự thân em hết lòng hộ giới bằng cách cúng dường theo khả năng, và tham gia đầy đủ các pháp hội, để có được chút ít trí tuệ hầu soi rọi cuộc đời mình.
2. Chăm chỉ học tập và siêng năng tu trì, giữ gìn chùa tháp, chăm sóc Già lam, để Tăng Ni an tâm nhập hạ.
3. Động viên khuyến khích đạo hữu, đoàn sinh cúng dường các trường hạ để các nơi đó có thêm kinh phí thực hiện những Phật sự rộng lớn có ích cho mọi người.
Ghi chú: Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Nay chuyển sang chương trình Bậc Chánh Thiện.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550 Tài liệu tham khảo : Theo kinh Thỉnh Thỉnh, Trung A Hàm 29, Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội 5, Kinh Chánh Pháp Niệm, Luật Tứ phần 58, Cảnh Đức truyền đăng lục, Gia Thái Phổ đăng lục, Thiền Uyển Thanh quy, Luận Hộ quốc Hưng Thiền.. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Năm I · Tu dưỡng1 bài
1Tứ như ý túc
Tham khảo thêm
Tứ như ý túc là gì
- Tứ như ý túc (Pali: iddhipāda; Phạn: ṛddhipāda) là bốn nền tảng giúp hành giả thành tựu thiền định và mọi việc tu tập như ý; thuộc 37 phẩm trợ đạo.
Bốn như ý túc
- Dục như ý túc (chanda): có ý muốn, mong cầu mạnh mẽ hướng đến điều thiện, đến giải thoát.
- Tinh tấn như ý túc (vīriya): siêng năng, nỗ lực không ngừng.
- Tâm như ý túc (citta): tâm chuyên chú, nhất tâm vào việc tu tập.
- Quán như ý túc (vīmaṃsā): suy xét, quán sát sáng suốt để điều chỉnh việc tu tập cho đúng.
Ứng dụng
- Muốn làm thành một việc tốt (học một kỹ năng, bỏ một thói quen xấu), cần đủ bốn yếu tố: muốn thật sự, cố gắng đều đặn, chú tâm, và biết xét lại để sửa.
- Đây là tinh thần chủ đạo của bậc Trực.
Lưu ý
- Nên học thêm với quý Thầy để hiểu sâu bốn như ý túc trong thiền định.
Năm II · Phật pháp – Kiến thức6 bài
1Phát triển hạnh phúc gia đình theo Ngũ giới và Thập thiện
Ngũ giới
I. VĂN:
Trong kinh Ưu Bà Tắc giới, Phật dạy năm pháp lạc trú(Thường pháp lạc trú). Đó chính là ngũ giới, là những điều căn bản tạo dựng hạnh phúc thế gian, tiến tới cứu cánh niết bàn.
Ngũ giới (năm giới) là năm điều ngăn hàng cư sĩ tại gia không được làm. Phật chế ra giới để đối trị với các Pháp bất thiện của thân, khẩu, ý. Nói rõ hơn, khi đã quy y Tam Bảo, trở thành người Phật tử, ai cũng phải phát nguyện thọ lãnh và thực hành năm giới.
- Không được giết hại: nghĩa là tôn trọng sự sống.
- Không được trộm cướp: nghĩa là tôn trọng tài sản của người khác.
- Không được tà hạnh: nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình, gia đình người khác.
- Không được nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác: nghĩa là tôn trọng sự thật.
- Không được uống rượu, ngày nay phải hiểu đó là tất cả các chất kích thích: nghĩa là luôn giữ gìn tâm trí sáng suốt, bình tĩnh.
Năm giới này không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong đời sống tập thể, xã hội.
II. TƯ:
Năm giới là những điều cần thực hành để giữ gìn tâm ý thanh tịnh và tránh được các việc ác. Vậy em phải quyết tâm giữ gìn cho được năm giới. Muốn giữ được năm giới, em phải hiểu rõ ý nghĩa của giới, đó là ý nghĩa tự giác, tự mình bắt buộc mình phải tuân theo, không có ai đứng ra trừng phạt mình mà chỉ có mình mới biết được mình có giữ gìn giới hay không mà thôi. Do đó, em cần phải:
- Thành thật với chính mình.
- Cương quyết giữ cho được năm giới mà em đã phát nguyện.
III. TU:
Để thực hành phép tu này, em phải làm hai việc:
- Mỗi sáng trước khi rời khỏi giường, nghĩa là khi vừa ngủ dậy, em tâm nguyện rằng: trong ngày hôm nay em sống đúng năm giới. Rồi mỗi tối trước khi đi ngủ, em kiểm điểm lại mình đã vi phạm giới nào, em thành tâm sám hối và tự hứa không còn tái phạm nữa.
Song song với việc này, em phải thực hành năm giới theo mặt tích cực hơn:
- Không giết hại mà còn phóng sanh.
- Không trộm cướp mà còn bố thí.
- Không nói dối, nói hai lưỡi,… mà còn dùng lời hòa ái an ủi người, giảng giải cho người khác tu hành theo chánh pháp.
Phóng sanh không nhất thiết là phải mua chim, mua cá thả mà em có thể phóng sanh bằng nhiều cách:
- Vớt một con kiến ra khỏi ly nước…
- Không phá tổ chim, thấy chim non không ham, không chơi dế đá,…
- Không khởi ác niệm đối với người khác.
Bố thí cũng vậy, không phải chỉ có tiền mới bố thí được mà bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm như: an ủi người đang đau khổ, dỗ một em bé đang run sợ khóc lóc, dẫn một bà lão qua đường,… Đó là những hành động bố thí.
Thực hành được năm giới ta sẽ được thanh tịnh thân, khẩu, ý, tránh được bao nhiêu phiền não cũng như sống hạnh phúc trong hiện tại và tạo nhân giải thoát cho đời sau.
IV. CÂU HỎI:
- Giới là gì? Nội dung của năm giới?
- Tại sao ta phải giữ gìn năm giới ấy?
- Em hãy nêu lên mối quan hệ giữa 5 giới và 5 điều luật của GĐPT chúng ta?
- Ích lợi của năm giới?
- Em cho biết sự khác nhau của giới và luật?
- Tại sao nói “Giới là chiếc thuyền đưa ta thoát khỏi bể khổ”?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Mười điều thiện

Văn:
Mười điều thiện là mười việc lành về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp) về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình, lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều thiện nầy là căn bản làm người và nấc thang đầu tiên để tiến đến Phật quả.
Mười điều thiện, Hán tạng dịch là “Thập thiện nghiệp đạo”. Kinh nầy Đức Phật nói tại cung điện Ta Kiệt La. Chúng hội gồm có tám ngàn chúng Đại tỳ kheo, ba vạn hai ngàn các vị Đại Bồ tát.
ThậpThiện nghiệp là 10 nghiệp lành.
Nghiệp là gì?
Nghiệp là tiếng Trung Hoa dịch từ chữ Phạn là Karma. Nó có nghĩa là tạo tác hành động. Nghiệp có thể chia ra ba tính chất: Lành, Dữ, Không lành không dữ (vô ký).
Lành theo Phật giáo, nghĩa là có lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai; Dữ có nghĩa có hại cho mọi người, cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Nghiệp thì nhiều không thể kể hết được. Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ. Những nghiệp nầy do ba nơi phát khởi là Thân, Khẩu, Ý
1. Nh ữ ng nghiệp lành: Những nghiệp lành chia ra như sau:
a. Về Thân có 3: Không sát sanh, Không trộm cướp, Không tà hạnh
b. Về Khẩu có 4: Không nói dối, Không nói thêu dệt, Không nói lưỡi hai chiều, Không nói lời hung ác.
c. Về Ý có 3: Không tham lam, Không giận hờn, Không si mê.
2. Nh ữ ng nghiệp dữ:
Nếu chúng ta làm ngược lại với 10 nghiệp lành trên thì sẽ thành 10 nghiệp dữ. Mười nghiệp dữ không thuận với chánh đạo. Nếu tạo nhân dữ thì ta sẽ có kết quả xấu. Ta quyết không tạo nghiệp dữ.
A. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC THÂN:
1) Người hàng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật quả và được 10 pháp lành như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy:
Tất cả chúng sanh đều kính mến
Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
Trừ sạch thói quen giận hờn
Thân thể thường được khỏe mạnh
Tuổi thọ được lâu dài
Thường được thiên thần hổ trợ
Ngủ ngon giấc và không ác mộng
Trừ hết các mối oán thù
Không đọa vào ba đường ác
10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.
2) Nếu không gian tham trộm cắp mà còn tu hạnh bố thí thì theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo được những pháp lành như sau:
1. Được nhiều người tin cậy.
2. Không bị lừa dối gạt gẫm.
3. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng.
4. Lòng được an ổn.
5. Tiền của có dư mà không bị nạn giặc giã cướp mất, chánh quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi lửa cháy và con cháu phá tán.
6. Khi chết được sanh lên cõi trời.
3) Về không tà hạnh kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói: không tà dục và giữ tịnh hạnh sẽ được bốn điều lợi ích
- Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
- Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
- Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái.
- Được tiếng tốt người đời ngợi khen.
B. BỐN NGHIỆP LÀNH THUỘC KHẨU:
1) Điều thiện thứ nhất thuộc Khẩu phát sinh là không nói dối. Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có nói có, việc không nói không.
Có người cho rằng nói dối để lừa phỉnh chơi thì không hại gì. Thật ra sự nói dối ấy vẫn có hại vì nó làm cho ta quen với thói xấu ấy và làm cho người chung quanh không tin lời ta nữa dù cho khi ta nói thật.
Nói dối chỉ trong trường hợp cứu khổ độ nguy cho người và vật mới không phạm tội. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói dối mà nói lời ngay thật thì được những điều lợi ích như sau:
- Miệng thường thơm sạch.
- Thế gian và nhân thiên đều mến yêu.
- Lời nói không lầm lộn và vui vẽ.
- Trí tuệ thù thắng không ai hơn.
- Được hưởng lạc thú như ý nguyện và ba nghiệp đều trong sạch.
2) Điều thiện thứ hai thuộc về Khẩu là không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không ngọt ngào đường mật để lung lạc lòng dạ của người, để quyến rũ làm những điều sái quấy. Những kẻ nói lời thêu dệt là những kẻ có lòng dạ bất chính, lợi dụng lòng dễ tin của người để trục lợi. Những người nầy thường bị chê cười, khinh rẻ và mọi người tránh xa để khỏi bị tổn hại tài sản, danh giá và tánh mạng nữa. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói thêu dệt sẽ được có những lợi ích:
- Được người trí thức yêu mến.
- Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
- Được làm người có uy đức cao quý trong cõi nhân thiên.
3) Không nói lưỡi hai chiều hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầy nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xâu bên nầy, không đem chuyện người nầy ra dèm pha, mà cũng không khêu chuyện người nọ ra nhạo báng, không làm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảm cho hai đàng thù oán. Tóm lại người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói hai lưỡi sẽ được những điều lợi sau đây:
- Bà con dòng họ được luôn luôn sum họp.
- Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
- Đức tin bất hoại.
- Pháp hạnh bất hoại.
4) Điều thiện thứ tư thuộc Khẩu là không nói lời hung ác không nói những lời hung dữ độc ác, cộc cằn thô tục làm cho người nghe khó chịu, không mắng nhiếc làm cho người nghe tủi nhục, …
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không nói lời hung ác mà nói lời ôn hoà được những công đức như sau:
- Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích.
- Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy.
- Nói ra lời gì cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu.
C. BA NGHIỆP LÀNH THUỘC Ý:
1) Không tham lam: ở đời có năm món dục lạc mà người ta thường ham muôn nhất là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm món ham muôn ấy, thật ra vui ít mà khổ nhiều. Như tham tiền của phải bị đày đọa thân xác, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để thu tóm về mình, và khi mất thì vô cùng đau khổ. Tham sắc thì tốn tiền nhiều, mất sức khỏe, hao tổn tình thần, đôi lúc mất cả danh dự Tham danh vọng quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí… Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn, tối tăm. Đối với xã hội thì còn nhiều điều bất lợi.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp như sau:
- Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại và nhân các căn được đầy đủ.
- Của cải không mất mát hay bị cướp giựt.
- Phúc đức tự tại.
- Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.
2) Không giận hờn: Không giận hờn là vẫn giữ được bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý, nghịch lòng. Giận hờn là một tính xấu rất tai hại. Nó như ngọn lửa dữ đốt cháy cả mình và người chung quanh. Kinh Phật có câu: “Một niệm sân hận nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt tất cả rừng công đức”.
Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không sân hận thì được tám món tâm pháp vui mừng như sau:
- Tâm không khổ não.
- Tâm không giận hờn.
- Tâm không tranh giành.
- Tâm nhu hòa ngay thẳng.
- Tâm từ bi như Phật.
- Thường làm lợi ích yên ổn cho chúng sanh.
- Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh đều tôn kính.
- Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.
3) Không si mê: si mê còn gọi là tà kiến, nên không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.
Người không si mê là người có trí tuệ, tin có nhân quả luân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát Nhã, dứt trừ vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát.
Theo kinh Mười Điều Lành, người không si mê thì thành tựu 10 pháp công đức sau đây:
Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
- Tin sâu nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm ác.
- Chỉ quy y Phật, không quy y thiên thần và ngoại đạo.
- Tâm được ngay thẳng, chánh kiến.
- Sanh lên cõi trời, không bị đọa vào ba đường ác.
- Phước huệ không lường, thường tăng lên mãi mãi.
- Dứt hẳn đường tà, chăm tu chánh đạo.
- Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
- Ở yên vào nơi chánh kiến.
10. Không bị nạn dữ.
* Mười nghiệp lành cũng như mười nghiệp dữ đều do thân, khẩu, ý phát khởi ra. Nghiệp dữ ví như cỏ, nghiệp lành ví như lúa, đều mọc chung trên một mảnh ruộng, cỏ thường làm chướng ngại lúa, không cho sanh trưởng tốt tươi. Nếu muốn lúa tốt, để mùa thu hoạch được nhiều thì phải nhổ sạch cỏ. Cũng thế, muốn được nghiệp lành thì phải dứt hẳn mười nghiệp dữ.
Tư:
Thực hành Mười điều thiện sẽ được những lợi ích sau đây:
- Sửa đổi bản thân: Tánh tình và trí thức của con người đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thực hành mười điều thiện sẽ hoán cải thân tâm con người trở thành tốt đẹp. Ví dụ như không sát sanh mà lại phóng sanh thì lòng hung ác sẽ đổi ra lòng từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa.
- Thay đổi hoàn cảnh: Hoàn cảnh cũng như tấm gương lớn phản ảnh tất cả những cử chỉ hành động, đời sống của mỗi người. Nếu ta cười thì tấm gương cười lại; nếu ta khóc, tấm gương cũng khóc lại. Cũng thế, nếu ta làm các việc lành, giúp ích đồng loại, cứu vớt chúng sanh thì hoàn cảnh đối với ta sẽ trở thành cảnh giới tốt đẹp. Ví dụ một người không bao giờ sân hận lại tu hạnh nhẫn nhục thì hoàn cảnh không có một sự oán thù đấu tranh giết hại, mà chỉ toàn là thiện cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái, vui vẻ thật sự và đùm bọc thương yêu.
- Sanh vào cõi trời: Nếu thực hành mười điều thiện nầy thì mới sanh lên các cõi trời an vui, đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Nếu lên các cõi trời thì phước đức rất đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v…
- Những điều căn bản để chứng Phật quả: Mười phương ba đời các vị hiền thánh thoát khỏi sanh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện nầy có công năng ngăn chặn các hành vi độc ác, đổi trị các điều không lành và làm ba nghiệp (Thân, Khẩu, Ý) thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thì con người thoát ly sanh tử, chứng quả Niết bàn. Nếu đem mười điều thiện nầy hồi hướng cho toàn thể chúng sanh, tức thành tựu được Phật quả.
Tu:
Em đã hiểu được qua bài học Nghiệp thiện, nghiệp ác, nguồn gốc phát xuất từ chỗ nào, từ THÂN, MIỆNG, Ý NGHĨ của ta. Vậy ta phải biết và làm những hành động nào của thân, của miệng, của ý là những hành động thiện đáng làm và những hành động ác không được làm.
Mười điều thiện nầy giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện nầy nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không có lợi ích gì. Mười điều thiện nầy giúp chúng ta cải thiện đời sống của chúng ta và của mọi loài, xã hội trở thành thiện mỹ và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả hoàn toàn.
- Vì vậy là Phật tử chúng ta cần phải thực hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là theo đúng mười điều thiện nầy mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính và thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.
- Chúng ta phải diệt trừ các điều ác gây tai hại cho người và tích cực làm việc thiện, giúp đỡ và đem đến an vui cho mọi người chung quanh mình.
- Khi đã biết ý nghĩa và lợi ích của Mười điều thiện thì nên phát tâm thọ Thập Thiện giới, khi đủ duyên lành.
Tóm lại, thực hành 10 điều thiện thì trong đời hiện tại tự thân được an lạc, cuộc sống gia đình hoà thuận, an vui, hạnh phúc, xã hội hoà bình thịnh vượng và trong tương lai tránh khỏi đọa lạc chốn tam đồ, lại được hưởng phước báo cõi Nhân, Thiên và Niết Bàn.
Ước mong tất cả mọi người nên tu Thập Thiện nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình và cho tất cả chúng sanh.
Câu hỏi:
- Mười điều thiện là gì?
- Nghiệp là gì?
- Hãy nêu lên 4 điều lành thuộc về Khẩu?
- Thực hành Mười điều thiện sẽ được lợi ích gì?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu Bậc Sơ Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Phát triển hạnh phúc gia đình theo Ngũ giới và Thập thiện
Ngũ giới giữ gìn hạnh phúc gia đình
- Không sát sinh: gia đình sống hiền hòa, không bạo lực.
- Không trộm cắp: làm ăn lương thiện, tài sản trong sạch.
- Không tà dâm: vợ chồng chung thủy, gia đình bền vững.
- Không nói dối: vợ chồng, cha mẹ con cái tin tưởng nhau.
- Không uống rượu, dùng chất say: tránh được nhiều bất hạnh, tai nạn, bạo lực gia đình.
Thập thiện làm gia đình an vui
- Lời nói hòa nhã, chân thật, không nói lời chia rẽ, không thêu dệt; tâm bớt tham, bớt sân, có hiểu biết đúng.
Thực hành
- Tụng kinh, niệm Phật chung trong gia đình; ăn chay ngày rằm, mồng một; cùng làm việc thiện.
2Kinh Thiện Sinh

A. DẪN NHẬP
Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
B. NỘI DUNG:
I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:
Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.
II. KINH VĂN:
Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.
Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.
* Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.
* Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.
* Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.
Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
- Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
- Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
- Tránh xa sáu nghề hao tài vì:
+ Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.
+ Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.
+ Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.
+ Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.
+ Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.
+ Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.
Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.
+ Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.
+ Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.
+ Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.
+ Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.
Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.
+ Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.
+ Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.
+ Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.
+ Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.
III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG
Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương
- Phương Đông là cha mẹ
- Phương Nam là thầy dạy
- Phương Tây là vợ chồng
- Phương Bắc là bạn bè thân thích
- Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
- Phương Hạ là người giúp việc.
1. Phương Đông: Cha mẹ
- Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
- Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
- Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
- Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.
3. Phương Tây: Vợ chồng
- Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
- Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.
4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc
- Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
- Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.
5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng
- Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
- Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.
6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp
- Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
- Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên
Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.
C. SUY NGHIỆM:
Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì
D. TU TẬP:
Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
3Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Mục đích Gia Đình Phật Tử

Văn:
1. Qúa trình hình thành và phát triển GĐPT:
a. Giai đoạn khởi đầu:
Từ năm 1932 đến năm 1940: Từ phong trào chấn hưng Phật giáo của sư Khánh Hoà, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám được quý thầy và đạo hữu tín nhiệm sáng lập đoàn Đồng Ấu Phật tử và Gia đình Phật hoá.
Từ năm 1940-1944: Đoàn Phật học Đức Dục ra đời, là nơi đào tạo trưởng cho hai đoàn đã có. Cư sĩ Đinh Văn Nam hoạt động mạnh trong giai đoạn đầu (cư sĩ Đinh Văn Nam tức Hoà thượng Thích Minh Châu).
b. Giai đoạn phục hưng:
Do ảnh hưởng những năm cuối của chiến tranh Thế giới II, các hoạt động đều tạm ngưng. Mãi đến 1947, ba tổ chức trên tái sinh hoạt với tên gọi Gia Đình Phật Hoá Phổ.
c. Giai đoạn phát triển:
Năm1951, một Đại hội thống nhất các Gia Đình Phật Hoá Phổ được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) lấy danh hiệu chung là Gia Đình Phật Tử.
2. Mục đích của GĐPT:
Sau công cuộc thống nhất giáo hội năm 1963, mục đích của GĐPT được tu chỉnh vào năm 1964 và không thay đổi cho đến nay: Mục đích của GĐPT nhằm “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”.
Tư:
1. Việc hình thành và phát triển GĐPT là do công đức sâu dày của quý thầy, quý bác, quý anh chị đã đầu tư để góp phần giáo dục thế hệ trẻ tin Phật.
2. Tiến trình phát triển GĐPT là công sức của nhiều thế hệ trong đó có chính chúng ta, chúng ta phải tỏ ra xứng đáng (bằng chính việc tu học của bản thân và góp phần xây dựng Đội, Chúng, Đoàn, Gia đình,…).
3. Tương lai của GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay. Sinh hoạt, học tập theo đúng tinh thần, mục đích của GĐPT là góp phần xây dựng GĐPT vững mạnh.
Tu:
1. Tu và học, biết và làm, nói và làm, … đó là những điều cần được em thực hiện tốt.
2. Hãy bắt đầu từ những việc đơn giản nhất và cơ bản nhất (nhưng cũng sẽ là khó nhất nếu ta thiếu quyết tâm) là: làm tất cả các việc lành và xa lìa các việc xấu, ác.
3. Biết tuân kỷ luật, nghe lời anh chị trưởng.
IV. CÂU HỎI:
1. Em ghi nhớ được điều gì trong quá trình hình thành và phát triển GĐPT?
2. Tại sao nói tương lai GĐPT tuỳ thuộc vào thế hệ đoàn sinh hôm nay?
3. Em phải làm gì để xứng đáng là một đoàn sinh của GĐPT?
4. Mỗi ngày trung bình em làm được mấy việc thiện? Số việc ác bằng, ít hay nhiều hơn số việc thiện mỗi ngày? Em làm sao để nhớ, biết điều đó? Em có sổ việc thiện không? Tại sao?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5 điều luật của Gia Đình Phật Tử

Văn:
1. Giới thiệu:
Trước năm 1951, theo đề cương tám điểm của bác Tâm Minh Lê Đình Thám, điểm thứ tư có ghi
Phật tử sống trong Gia Đình Phật Hoá Phổ phải tuân hành 10 điều luật sau đây:
- Phật tử học kinh, niệm Phật.
- Phật tử kính mến cha mẹ và thuận thành với anh chị em.
- Phật tử sống nhân từ đối với người và vật.
- Phật tử lựa bạn tốt và mến thương bạn.
- Phật tử vui buồn cùng chia, nhắc nhở nhau lánh dữ làm lành.
- Phật tử giữ gìn lời nói ôn hoà, ngay thật.
- Phật tử thật thà, siêng năng, thứ tự, sạch sẽ.
- Phật tử sống giản dị và điều độ.
- Phật tử sống giản dị và lạc quan.
- Phật tử làm tròn bổn phận.
Đến năm 1951, Đại hội Huynh trưởng GĐPT đã xây dựng nên Nội quy trình gồm 5 chương, 15 điều. Chương thứ nhất, điều thứ tư ghi:
Luật của Thanh Thiếu Niên nam nữ và Huynh trưởng là:
- Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
- Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
- Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.
Luật của Oanh Vũ nam nữ có 3 điều luật riêng đó là:
- Em tưởng nhớ Phật.
- Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
- Em thương người và vật.
2. Ý nghĩa:
a. So sánh hai giai đoạn này ta thấy:
Ngày trước, luật nặng tính cách xây dựng cá nhân con người theo Nhân thừa. Giai đoạn thứ hai nhằm phát triển huệ trí, tiến đến giác ngộ và giải thoát.
b. Phân tích:
- Điều thứ nhất phù hợp với hạnh Tinh tấn của Đức Phật Thích Ca.
- Điều thứ hai thực hiện hạnh Từ bi mà Bồ Tát Quan Thế Âm là biểu tượng.
- Điều thứ ba phù hợp với hạnh Trí tuệ mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng.
- Điều thứ tư thực hiện hạnh Thanh tịnh của đức Phật A Di Đà.
- Điều thứ năm thực hiện hạnh Hỷ xả của Đức Phật Di Lặc.
Tư:
1. Kỷ luật của đoàn thể hay pháp luật của quốc gia chỉ nhằm duy trì trật tự an ninh cho xã hội và con người chứ không nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát, giác ngộ. Còn giới luật của đạo Phật, luật của GĐPT là đóng ngõ ác đạo, mở cửa từ bi, trí tuệ, vào căn nhà giải thoát, giác ngộ của Đức Phật.
2. Đọc luật phải giữ tâm thanh tịnh, không khí trang nghiêm để từng lời nói, từng âm thanh vang vọng trong tiềm thức, trong tư duy của ta, nhận ra những sai khuyết mà phát lồ sám hối, cũng như hướng đời mình đến các điều tốt đẹp để nở được bông hoa Phật tánh.
3. Đọc luật là một hình thức tụng giới và phát tâm giữ luật như giữ giới, soi rọi cuộc đời mình. Luật là giáp phục của đoàn sinh GĐPT.
Tu:
1. Hằng ngày, sau khi thức dậy, em nhẩm đọc luật và phát tâm giữ luật hằng ngày.
2. Hằng ngày, trước khi đi ngủ, em nhẩm đọc và kiểm lại bản thân nếu có sai phạm tức thì sám hối.
3. Giữ luật như giữ gìn hơi thở và sự ăn uống để nuôi dưỡng sinh mạng, để tu tập Phật đạo.
Câu hỏi:
- Luật của Gia Đình Phật Hoá Phổ có mấy điều?
- Luật của GĐPT dành cho Thanh Thiếu niên và Huynh trưởng gồm có những gì?
- Luật của GĐPT dành cho cho ngành Đồng (Oanh vũ) có những điều gì?
- Vì sao em cần giữ gìn giới luật?
- Em cần đọc luật với tinh thần như thế nào?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Hướng Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2005 – PL 2549. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Những nội dung chính của Nội quy
- Danh xưng và lịch sử tổ chức.
- Mục đích của Gia Đình Phật Tử, châm ngôn Bi – Trí – Dũng, năm điều luật, huy hiệu Hoa sen.
- Tổ chức: các ngành Oanh Vũ, Thiếu, Thanh; hệ thống Ban Hướng Dẫn các cấp; tổ chức một đơn vị Gia đình.
- Tu học và huấn luyện: các bậc học, trại huấn luyện.
- Huynh trưởng: cấp bậc Tập, Tín, Tấn, Dũng (chi tiết trong Quy chế Huynh trưởng).
Lưu ý
- Đoàn sinh ngành Thanh đọc toàn văn Nội quy hiện hành do Ban Hướng Dẫn ban hành; anh chị trưởng giải thích từng chương.
4Mười hai nhân duyên

A. DẪN NHẬP:
Mười hai nhân duyên là cách trình bày đặc biệt của giáo lý “Duyên khởi”. Giáo lý này được đức Phật nói đến rất nhiều trong các Kinh tạng, khi Ngài chứng ngộ được nguyên lý “Thập nhị nhân duyên”, thấy được các nhân duyên hình thành nên vũ trụ vạn hữu sau 49 ngày tham thiền nhập định vào ngày mùng 8 tháng 12 Âm lịch (theo kinh Phật Bản hạnh là ngày trăng tròn tháng 12). Tuy nhiên không phải ngay từ buổi đầu, Đức Phật thuyết 12 nhân duyên mà Ngài chỉ đơn giản nói một duyên, hai duyên hoặc ba duyên …. Thuyết 9 nhân duyên được Phật nói đến trong kinh Mahanidana Digh Nikaya 19 tạng Pali; thuyết 10 duyên được Phật nói đến trong kinh Thành Dụ; còn thuyết 12 nhân duyên thì được Phật nói đến trong kinh Đại Duyên. Ngoài thuyết 12 nhân duyên của Mahanidana – Sùtra chúng ta còn thấy thuyết 24 nhân duyên của Buddhaghosa ở trong Visuddhumagga.
B. NỘI DUNG:
I. HÀNH TƯỚNG CỦA THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN:
Mười hai nhân duyên Tức là Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử làm nhân làm duyên cho nhau.
1. Vô Minh: (Avijya)
Tức là tăm tối, mù mờ, không nhận thức sáng suốt. Phật dạy: “Thế nào gọi là Vô minh? Tức là không nhận thức được sự có mặt của khổ, không nhận thức được nguyên nhân gây ra đau khổ, không nhận thức được hạnh phúc khi chấm dứt nguyên nhân đau khổ và không nhận thức được con đường của sự chấm dứt nguyên nhân đau khổ, gọi là vô minh”.
2. Hành: (Sànkhàra)
Tức là hành động (Action), động lực trong tâm khi bị khuấy động bởi vô minh (Cái giận, cái ghét, cái buồn, cái bực bội, thù hận, v. v..Tất cả những hiện tượng ấy đều do vô minh khuấy động). Trong kinh Phật dạy: “Hành có ba loại: Thân hành, khẩu hành và ý hành”. Như vậy chúng ta thấy đức Phật không chỉ công nhận mọi hành vi của thân, khẩu, mà ngay cả trong ý niệm, suy tư, tình cảm đều được gọi là Sànkhàra.
3. Thức: (Vijnàna)
Thức là ý thức, là sự hiểu biết, là khả năng biểu hiện và nhận thức, được thúc đẩy bởi một sự phát triển nội tại theo quy trình của Nghiệp thức do một nhân tố có tính quyết định đó là Chủng tử Thức A Đà Na.
4. Danh sắc: (Nàma, Rùpa)
Danh ở đây không phải là tên gọi mà chỉ cho tâm lý (Psycho). Tâm lý theo Phật giáo nguyên thuỷ thì đó gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc tức là vật lý (Physics) những hiện vật chất, thời gian, không gian. Phật dạy: “Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý gọi là Nàma và tứ đại là Rùpa”
5. Lục Nhập: (Sabhàytana)
Cũng còn gọi là lục xứ. Thế nào gọi là lục xứ, tức là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xứ tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sự gặp gỡ của lục căn và lục trần gọi là lục nhập.
6. Xúc: (Phassa)
Tức là xúc chạm, tiếp xúc. Xúc là một tâm sở biến hành, nó được tạo ra bởi lục nhập. Nhưng phạm vi của xúc là sự va chạm giữa căn và trần, sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng.
7. Thọ: (Vedàna)
Tức là nhận lãnh, cảm thọ gồm: khổ thọ, lạc thọ, phi khổ phi lạc thọ. Cảm thọ được phát sinh do sự xúc chạm. Từ sự xúc chạm mà phát sinh cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác trung tính. Phật dạy: “Thọ có sáu loại: Thọ phát sinh từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Đây gọi là thọ”.
8. Ái: (Tanha)
Tức tham ái, vương vấn, thèm muốn, khao khát. Sự thèm muốn, khao khát cái gì? – Đó là sự khao khát về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Chính sự khao khát vấn vương là nguồn gốc của khổ đau. Phật dạy: “Chính Tanha (ái) hướng dẫn đến đời sống khác, đi tìm hỷ và tham, tìm kiếm hỷ lạc tại chỗ này, chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này các thầy khất sĩ đây gọi là nguồn gốc của khổ đau”.
9. Thủ: (Upàdàna)
Tức là mắc kẹt, vì tham ái, vương vấn nên mới mắc kẹt. Sự mắc kẹt có nhiều phương diện. Phật dạy: “Có 4 loại thủ chấp: Dục thủ (sự mắc kẹt vào tham muốn), Kiến thủ (mắc kẹt vào nhận thức), Giới cấm thủ (mắc kẹt vào những giới điều), Ngã luận thủ (mắc kẹt vào ý niệm về ngã). Bốn loại này đều gọi là chấp thủ”.
10. Hữu: (Bhara)
Có nghĩa là có– sự hiện hữu, sự có mặt. Vì mắc kẹt cho nên mới có hiện hữu. Vì mắc kẹt vào Dục, Giới cấm, Ngã và Kiến nên mới có sanh, tử luân hồi tam giới lục đạo. Hữu tức là sự hiện hữu của tam giới, (Dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Thầy Buddhaghosa nói: “Hữu có chín loại: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, Tưởng hữu, Phi tưởng hữu, Nhất uẩn hữu, Tứ uẩn hữu và Ngũ uẩn hữu”.
11. Sinh: (Jàti)
Tức là sự biểu hiện– Phật dạy: “Cái thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác, là sinh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, sự xuất hiện của các uẩn, sự hình thành của các xứ. Đây gọi là sinh”. Đối với con người thì sự biểu hiện của danh sắc hay ngũ uẩn gọi là Jàti.
12. Lão tử: (Jàra – Marana)
Tức là già chết, sự hoại diệt. Phật dạy:“Cái gì thuộc chúng sinh, thuộc nhóm chúng sinh này hay nhóm chúng sinh khác là già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, các căn suy hoại. Đây gọi là già. Cái thuộc chúng sinh bộ loại này hay bộ loại khác là chết, là sự tách rời là sự tiêu mất, là tử vong; các uẩn tan rã, vứt bỏ. Đây gọi là chết”.
II. Ý NGHĨA 12 NHÂN DUYÊN:
Thập nhị nhân duyên là 12 nguyên lý giải thích sự hình thành của các loài sinh động vật trong vũ trụ. Đây là sự triển khai và cụ thể hóa “Lý Duyên sanh”, là một giáo lý đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, là cốt lỏi của nhân sinh quan Phật giáo. Lý Duyên sanh được tóm tắt trong một nguyên tắc hết sức giản dị nhưng bao quát được nguyên lý hình thành nên vũ trụ vạn hữu:
- Do cái này sanh, cái kia sanh.
- Do cái này diệt, cái kia diệt..
Điều này cho chúng ta thấy được rằng giáo lý Thập nhị nhân duyên là một giáo lý căn bản trình bày tướng trạng của sanh tử luân hồi với sự liên hệ mật thiết cùng định luật Nhân quả, đồng thời nó cũng nói lên mối tương quan sinh thành của các sự vật trong vũ trụ. Đó cũng là quy luật của sự sống chết, sự sinh diệt, một quy luật chi phối đời sống của mọi sinh vật hiện hữu trong vũ trụ.
1. Nhân:
Tức là nguyên nhân, điều kiện căn bản, cũng có khi gọi là hạt giống, là yếu tố quyết định, là điều kiện sinh khởi có mặt của một hiện hữu. Trong truyền thống Phật giáo Bắc phương cũng như Namphương đếu có nói tới 6 nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân và Dị thục Nhân.
2. Duyên:
Tức là điều kiện hổ trợ, những yếu tố tác động giúp nhân sinh khởi. Abhidharma có nói tới 4 duyên: Nhân duyên, Tăng thượng duyên, Đẳng Vô gián duyên và Sở duyên duyên.
Tóm lại nhân duyên trong 12 nhân duyên hàm ý nghĩa “nhân duyên khởi”: sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi.
III. NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH CỦA 12 NHÂN DUYÊN:
1. Đồ hình biểu thị sự vận hành của 12 nhân duyên:

2. Ý niệm tam thế lưỡng trùng:
Từ đồ hình biểu thị trên cho ta thấy Mười hai nhân duyên đã được xây dựng và thành lập ra lý thuyết tam thế lưỡng trùng. Tam thế tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Lưỡng trùng là hai lớp nhân quả. Theo thuyết này thì Vô Minh, Hành được xếp vào quá khứ. Thức, danh sắc, Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc về hiện tại. Sinh và lão tử được xếp vào tương lai. Trong 12 chi thì vô minh và hành thuộc về kiếp trước, còn sinh và lão tử thuộc về kiếp sau. Thức … Hữu thuộc về đời hiện tại. Sự phân chia này có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy hiểm vì người học có thể hiểu lầm rằng nếu sinh và lão tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có sinh và lão tử. Cũng vậy, vô minh và hành được xếp trong quá khứ, nhưng chúng ta cũng biết trong hiện tại có vô minh và hành. Trong tất cả các chi phần của 12 nhân duyên, ta đều nhận ra sự có mặt của vô minh và hành.
Trên một ngàn năm qua, thuyết tam thế lưỡng trùng được coi như mẫu mực. Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc được xem như là quả, mà nhân là Vô Minh và Hành. Trong kiếp trước đã có nhân Vô minh và Hành cho nên hiện tại phải có quả là có Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc. Đó là cặp nhân quả đầu. Rồi lại vì có Thọ, Ái, Thủ, Hữu mà chúng ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả Sinh và Lão tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các duyên, nối kết quá khứ, hiện tại, vị lai cho nên gọi là tam thế lưỡng trùng.
3. Hai pháp quán “Lưu chuyển” và “Hoàn diệt”:
Từ định lý Duyên khởi đã chứng đắc “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này không thì cái kia không và cái này diệt thì cái kia diệt”. Đức Phật đã thuyết minh về 12 nhân duyên như sau:
- “Do vô minh có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi khỗ, ưu não hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi”.
- “Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt;....; do sinh diệt nên lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy toàn bộ khỗ uẩn đọan diệt. Này các Tỷ kheo như vậy gọi là đọan diệt”.
Mười hai nhân duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng lưu chuyển (sinh khởi: do vô minh, hành sinh...) và chiếu hướng hoàn diệt (còn gọi là đoạn diệt: do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt...).
+ Quán Lưu chuyển: Quán sát trạng thái sinh khởi trong 3 đời: Vô minh, Hành ở quá khứ; Sanh, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, quả trong hiện tại; Ba quả hiện tại lại làm nhân là Ái, Thủ, Hữu dẫn đến quả vị lai là Sanh, Lão, Tử.
+ Quán hoàn diệt: Khi 12 nhân duyên được tập khởi, nghĩa là năm uẩn tập khởi và đây là chiều hướng của khổ đau, luân hồi. Khi 12 mắc xích này bị phá vỡ thì cấu trúc của năm uẩn cũng tan rã và đây là con đường của an lạc, giải thoát.
C. SUY NGHIỆM:
Mười hai nhân duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe là con người. Vì con người bị vướng mắc nặng vào Vô Minh, Ái và Chấp thủ nên Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục đích giải thoát, giác ngộ. Đây không phải là một giáo lý dùng để đối trị chấp ngã hay nhằm giải thích thế giới; mà đây là một sự thật và là một pháp tu tập vì giải thoát thiết thực cho con người. Cuộc sống là sự hiện hữu của các mối tương quan đa phương giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên. Khi một cá nhân sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và ngược lại. Mỗi người phải có trách nhiệm với cộng đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ cá nhân mình.
Mười hai nhân duyên là một giáo lý vô cùng tinh tế và khó hiểu, bởi con người vốn đã quen với nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một nhận thức đúng về giáo lý này đòi hỏi phải có sự quán sát và tư duy thường xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý 12 nhân duyên theo pháp quán “Hoàn diệt”, chắc chắn sẽ từng bước mang đến cho chúng ta một cuộc sống độ lượng, vị tha, giải thoát và an lạc trong hiện tại. Bởi như lời Phật dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Ta (Phật)”. Thấy Phật là thấy được thực tại tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính, bị giới hạn bởi vô minh, tham ái và chấp thủ này.
D. TU TẬP:
Tóm lại thuyết mười hai nhân duyên mà Đức Thế Tôn dạy nó không phải là một lý thuyết mà là một pháp môn hướng dẫn tu tập; là con đường chuyển hóa khổ đau và đem lại hạnh phúc an lạc.
Vậy để tu tập 12 nhân duyên thì chúng ta phải không gây nhân hiện tại là Ái, Thủ, Hữu. Vì đó chính là Vô minh của quá khứ. Một khi Ái, Thủ, Hữu hiện tại không còn thì dĩ nhiên chúng ta không còn tái sanh trong đời sau nữa. Do đó mà Tam tạng giáo điển thường xuyên nhắc ta đoạn tận tham ái và chấp thủ chính là để đoạn diệt gốc khỗ đó.
Trong tinh thần một Đoàn sinh bậc Chánh thiện của Gia Đình Phật Tử các em cần phải quyết tâm:
- Luôn luôn ghi nhớ và thực hành châm ngôn Bi Trí Dũng và 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.
- Phát nguyện trai kỳ (ăn chay hàng tháng tối thiểu là tứ trai) nhằm giúp chúng ta trưởng dưỡng thân tâm.
- Thọ trì ngũ giới một cách triệt để giúp chúng ta đoạn trừ tham ái.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
5Sơ lược các kinh: Tam Bảo (Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn), Bát Nhã Tâm Kinh, Thủy Sám, Địa Tạng
Đại ý Kinh – Chú – Kệ ( Trong các thời công phu )

A. GIỚI THIỆU:
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.
B. NỘI DUNG:
I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:
- Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
- Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
- Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:
Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.
Vậy đại ý hai thời công phu là:
1. Thời kinh sáng:
Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:
- Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
- Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
- Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
- Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
- Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
- Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
- Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
- Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
- Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
- Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
- Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
- Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.
Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.
Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.
2. Thời kinh chiều:
Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.
- Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
- Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
- Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
- Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
- Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
- Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.
Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.
Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.
3. Hai thời sóc vọng:
Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.
C. THỰC HÀNH:
Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.
Câu hỏi:
- Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
- Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
- Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
- Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Sơ lược các kinh thường tụng
Kinh A Di Đà
- Đức Phật giới thiệu cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và khuyên chúng sinh niệm Phật, phát nguyện vãng sanh; bản dịch Hán phổ biến của ngài Cưu Ma La Thập. Thường tụng trong khóa lễ chiều, cầu siêu.
Kinh Hồng Danh
- Hồng danh bửu sám: xưng niệm danh hiệu các Đức Phật để sám hối tội lỗi; thường tụng trong các khóa sám hối.
Kinh Vu Lan
- Kể chuyện Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ; dạy về lòng hiếu thảo và cúng dường chư Tăng ngày tự tứ rằm tháng Bảy.
Phẩm Phổ Môn
- Phẩm thứ 25 của kinh Pháp Hoa, nói về hạnh nguyện cứu khổ của Bồ-tát Quán Thế Âm; thường tụng cầu an.
Bát Nhã Tâm Kinh
- Bản kinh ngắn (bản dịch của ngài Huyền Trang) tóm yếu nghĩa “không” của hệ kinh Bát Nhã (prajñāpāramitā); tụng trong hầu hết các khóa lễ.
Kinh Thủy Sám
- Từ Bi Thủy Sám Pháp, gắn với câu chuyện Quốc sư Ngộ Đạt được nước rửa sạch mụn ghẻ oan kết; dạy sám hối nghiệp chướng.
Kinh Địa Tạng
- Kể về bổn nguyện của Bồ-tát Địa Tạng cứu độ chúng sinh nơi khổ cảnh; nhấn mạnh hiếu đạo; thường tụng trong mùa Vu Lan, cầu siêu.
6Kinh Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di
Khóa học riêngKinh Ưu Bà Tắc giớiNội dung bộ Kinh Ưu Bà Tắc giới dài, được học theo một khóa riêng có lộ trình từng tuần.
Kinh Thiện Sinh

A. DẪN NHẬP
Là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam luôn luôn phải ghi nhớ mục đích của tổ chức là “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật Tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vì lẽ đó, trước tiên cần phải từng bước kiện toàn tự thân, sống một cuộc sống trong lành, không gây oan nghiệp. Và để thực hiện tốt hoài bảo đó đức Thế Tôn đã giảng kinh Thiện Sanh dành riêng cho hàng cư sĩ ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
B. NỘI DUNG:
I. NGUYÊN DO, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN PHẬT THUYẾT KINH:
Phật thuyết kinh Thiện Sinh tại nội thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để độ cho Thiện Sinh một người con chí hiếu của một vị Trưởng giả ngọai đạo, khi Ngài còn tại thế với số lượng đại chúng 1.250 vị.
II. KINH VĂN:
Kinh chép lại rằng: Một hôm đức Phật ôm bình bát vào thành La Duyệt Kỳ gần núi Kỳ Xà Quật để khất thực gặp con của một vị trưởng giả tên là Thiện Sinh đang đê đầu đảnh lễ lục phương: Đông,Tây,Nam, Bắc, Thượng và Hạ phương.
Phật hỏi nguyên do và Thiện Sinh bảo là cha anh có di ngôn cho anh phải lễ lạy như vậy. Phật xác nhận thực tế quả có 6 phương ấy. Nhưng lễ bái cho đúng chánh pháp thì chưa và thể theo sự thưa thỉnh của Thiện Sinh, Phật dạy: “Bất cứ ai biết tránh bốn nghiệp oán kết, không làm ác theo bốn chỗ. Tránh sáu nghề hao tài đều thiện sanh và hưởng phước báo đầy đủ ở cỏi trời vui lành khi xả bỏ thân mạng này”.
* Bốn nghiệp oán kết là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ.
* Bốn chỗ gây tội ác là: Tham dục, sân hận, khủng bố và ngu si.
* Sáu nghề hao tài là: Đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, phóng đảng, đam mê kỷ nhạc, kết cùng bạn ác, kết cùng kẻ lười biếng.
Phật dạy chúng ta tránh các điều ác ấy vì:
- Phạm bốn tội oán kết thì phải chịu quả báo luận hồi trả vay không dứt
- Phạm bốn chỗ gây tội ác thì nghiệp lực nặng dày tuần lưu sinh tử trong ba đường ác.
- Tránh xa sáu nghề hao tài vì:
+ Đam mê rượu chè có 6 điều bất lợi: hao tài,sinh bệnh, ưa đấu tranh,để tiếng xấu,sanh nóng giận,giảm thiểu trí tuệ.
+ Đam mê cờ bạc có 6 điều hại: Tài sản hao mòn, hơn thì người oán, kẻ trí chê bai, không ai kính nể, người đời xa lánh, sinh trọm cắp.
+ Phóng đãng có sáu điều có hại là: hay sợ hãi; những điều thống khổ ràng buộc xác thân; ưa sinh điều dối trá; thân thể bạc nhược, gia sản khánh tận, gia đình mất hạnh phúc.
+ Say mê kỷ nhạc có 6 điều lỗi: ước mơ ca hát, ước mơ nhảy múa, ước mơ đàn địch, ước mơ chơi sáo diều, ước mơ thổi kèn, ước mơ đánh trống.
+ Kết cùng bạn ác có 6 điều có lỗi: dễ sanh khinh nhờn, ưa chỗ thầm kín, dụ dỗ người nhà người khác, mưu đồ chiếm đoạt tài sản người, mưu cầu tài lợi về mình, ưa phanh phui lỗi người.
+ Luời biếng cũng có 6 lỗi: giàu sang không đổ mồ hôi, lúc lạnh không chịu làm việc, lúc nóng không chịu làm việc, lúc sớm không chịu làm việc, lúc chiều tối không chịu làm việc, lúc nghèo không chịu làm việc. Người lười biếng tài sản dễ hẹp hòi thiếu hụt, sống như con vật, không tự trọng, sống bám vào kẻ khác, sau phải thọ báo thân mà trả nợ cơm áo cho đời.
Phật lại còn dạy thêm, ở đời lại có 4 hạng người mà oán lại giả làm người thân thích: hạng úy thục – hạng mỹ ngục – hạng không kính thuận – hạng ác hữu.
+ Hạng úy phục (phục tùng vì lợi) thường làm 4 việc: cho trước đoạt lại sau – cho ít mong trả nhiều – vì sợ gượng làm thân – vì lợi gượng làm thân.
+ Hạng mỹ ngôn thì hay làm 4 việc: lành dữ đều hùa theo – gặp hoạn nạn thì xa lánh – âm thầm ngầm đón những điều hay – thấy việc nguy thường bài xích đã đảo.
+ Hạng người không kính thuận thường làm 4 việc: lúc đầu dối trá – lúc sau dối trá – hiện tại dối trá – thấy có chút lợi nhỏ đã vội xa tránh.
+ Hạng người ác hữu thường làm 4 việc: lúc uống rượu thì là bạn – lúc đánh bạc thì là bạn – lúc dâm dật thì là bạn – lúc ca vũ thì là bạn.
Lại có bốn hạng người dấn thân, sẽ được cứu giúp có nhiều ích lợi là: hạng ngăn mình làm bậy – hạng xót thương – hạng ích lợi – hạng đồng sự.
+ Hạng ngăn mình làm quấy thường làm 4 việc: ngăn đón mình làm việc ác – chỉ bày điều chính trực – có lòng từ mẫn – chỉ con đường chánh đại quang minh cho ta đi.
+ Hạng xót thương thường làm 4 việc: mừng khi minh có lợi – lo cho mình khi gặp hại – khen ngợi đức tốt của mình – ngăn đón khi mình nói điều ác xấu.
+ Hạng lợi ích thường làm 4 việc: hộ vệ mình khi phóng túng – hộ vệ mình khỏi hao tài – hộ vệ mình khỏi sợ hải – khuyên bảo mình lúc ở chỗ vắng người.
+ Hạng đồng sự làm 4 việc: không tiếc chân thành với bạn – không tiếc tài sản với bạn – cứu giúp bạn khỏi lo sợ – khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.
III. Ý NGHĨA CỦA SÁU PHƯƠNG
Phật dạy tiếp: Bây giờ ngươi (Thiện Sinh) nên biết ý nghĩa của sáu phương
- Phương Đông là cha mẹ
- Phương Nam là thầy dạy
- Phương Tây là vợ chồng
- Phương Bắc là bạn bè thân thích
- Phương Thượng là các bậc trưởng thượng, sa môn, tôn trưởng.
- Phương Hạ là người giúp việc.
1. Phương Đông: Cha mẹ
- Bổn phận làm con phải giữ 5 điều: cung phụng cha mẹ không để thiếu thốn – muốn làm gì trình thưa cha mẹ trước – không trái việc cha mẹ phải làm – không trái điều cha mẹ dạy – không ngăn việc làm phải của cha mẹ.
- Cha mẹ phải dạy con 5 điều: ngăn con làm việc ác – chỉ bày những việc hay chân chính – thương yêu thắm thiết che chở cho con – chọn nơi nhân hậu hợp tác vợ chồng cho con – tùy thời cung cấp đồ dùng cho con.
2. Phương Nam: Thầy dạy và học trò:
- Học trò cầu vẹn tròn 5 điều đối với thầy: hầu hạ cung cấp đồ cần dùng – kính lễ cúng dường – tôn trọng quý mến – không trái nghịch lời thầy – không quên và hành trì như ý thầy mong muốn.
- Thầy phải hoàn tất nghĩa vụ gồm 5 điều: dạy dỗ có phương pháp – dạy những điều học trò chưa biết – làm rành rẻ đúng sở học của môn đồ – giới thiệu những bạn lành – không dấu bớt, biết bao nhiêu nói bấy nhiêu.
3. Phương Tây: Vợ chồng
- Năm điều chồng đối với vợ: đối đãi với nhau phải kính nể – oai nghiêm đỉnh đạc – ăn mặc phải thời – trang sức phải thời – phó thác việc nhà.
- Năm điều vợ đối với chồng: thức dậy trước chồng – ngồi sau chồng – nói lời hòa nhã – kính nhường tùy thuận – sớm lãnh ý chồng.
4. Phương Bắc: Bà con bạn bè thân thuộc
- Đối với bà con, bạn bè cần giữ 5 điều: cấp cho vật tiền đầy đủ (khi ta đã no ấm) – nói lời hiền hòa – làm việc tín lợi – chung làm chung hưởng – không khi dối.
- Bà con hay bằng hữu cũng giữ 5 điều: hộ vệ cho người đừng phóng túng – hộ vệ cho người khỏi hao tài – hộ vệ cho người khỏi sợ hãi – khuyên răn nhau ở chỗ vắng người – ngợi khen tán thán điều hay trợ duyên gây thiện nghiệp.
5. Thượng phương: Đàn việt và Sa môn, tôn trưởng
- Sa môn, tôn trưởng thực hiện 6 điều: Phòng hộ không cho làm ác:– chỉ dạy điều lành – dạy phát thiện tâm – cho nghe điều chưa nghe – điều đã nghe làm cho thông giải – khai mở con đường sống lành.
- Đàn việt phải thực hiện 5 điều:– thân làm từ thiện – miệng nói từ thiện – ý tưởng hòa nhu – đúng thời cúng dường – không ngăn đón đế nhà.
6. Hạ phương: người lãnh đao và thuộc cấp
- Cấp lãnh đạo đối với thuộc cấp phải làm 5 điều: Tùy khả năng mà bố trí công việc – Thù lao xứng đáng với công sức – thưởng phạt công minh bình đẳng – chăm sóc khi thuộc cấp ốm đau, tai biến – phải cho thuộc cấp có thì giờ nghỉ ngơi, giải trí và lo cho gia đình riêng.
- Thuộc cấp phải thực hiện 5 điều: Thức khuy dậy sớm – làm việc cần mẫn – không tham lam trộm cắp – làm việc có lớp lang – bảo trọng uy danh phẩm giá cấp trên
Đến đây Thiện Sinh bạch Phật: tán thán công đức của Như Lai và xin là kẻ Ưu Bà Tắc suốt đời trì nhiếp năm giới hộ trì chánh pháp và tuyên hứa sẽ hành trì pháp Phật nghiêm túc không sai phạm.
C. SUY NGHIỆM:
Kinh Thiện Sinh là một bộ kinh thuộc về Nhân thừa, đức Phật đã dựa trên 6 phương lễ bái để tuần tự dạy dỗ hoàn chỉnh trách phận của con người đó là cách tránh xa oán kết, xa lìa điều ác, chừa bỏ nghề hao tài, sống ở trần thế mà phiền não không sanh, ở trong cuộc đời mà thân tâm an lạc, thì đó chính là Niết bàn của thế gian đã được chính đức Phật phó chúc cho tất cả những ai biết tuân thủ hành trì
D. TU TẬP:
Là đệ tử Phật trước tiên chúng ta phát nguyện tinh tấn tuân thủ và thọ trì 5 giới cấm. Nguyện thọ trì kinh Thiện Sinh, để từng bước hoàn thiện bản thân trong cuộc sống xã hội, và đó cũng chính là mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta.
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗
Tham khảo thêm
Kinh Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di
Giới thiệu
- Kinh Ưu Bà Tắc giới (Upāsakaśīla sūtra), bản dịch Hán của ngài Đàm Vô Sấm, là kinh dạy riêng cho Phật tử tại gia (Ưu bà tắc, Ưu bà di) về con đường tu hạnh Bồ-tát ngay trong đời sống gia đình.
Nội dung chính
- Phát tâm Bồ đề, tu sáu pháp ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) trong đời sống tại gia.
- Bổn phận đối với cha mẹ, thầy, vợ chồng, con cái, bạn bè, người giúp việc, Tam Bảo (tương tự kinh Thiện Sinh).
- Cách làm ăn chân chánh, sử dụng tài sản đúng đắn, giữ giới cư sĩ.
Ý nghĩa
- Khẳng định người tại gia cũng có thể tu tập, thành tựu công đức lớn và đóng góp cho chánh pháp.
Lưu ý
- Nên đọc thêm bản dịch tiếng Việt của kinh và nhờ quý Thầy hướng dẫn.
Năm II · Nhận thức2 bài
1Cuộc vận động Phật giáo 1963 và GHPGVN Thống nhất
Tham khảo thêm
Cuộc vận động Phật giáo năm 1963
Diễn tiến chính
- Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật Đản, trong khi các tôn giáo khác vẫn được treo cờ.
- Đêm 8/5/1963 (Phật Đản), tại Đài phát thanh Huế, lực lượng chính quyền đàn áp đồng bào Phật tử tụ tập, làm nhiều người thiệt mạng, phần lớn là các em thiếu nhi.
- Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng, đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo; phong trào lan rộng khắp miền Nam.
- Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để bảo vệ đạo pháp, gây chấn động thế giới.
- Tháng 8/1963, chính quyền tấn công nhiều chùa, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử.
- Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Gia Đình Phật Tử trong cuộc vận động
- Nhiều Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT đã tham gia bảo vệ đạo pháp, một số đã hy sinh; tổ chức tôn vinh các vị là Thánh tử đạo.
Ý nghĩa
- Thể hiện tinh thần vô úy, hy sinh vì đạo pháp và tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt Nam.
- Dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (năm 1964).
Lưu ý
- Anh chị trưởng nên dùng thêm tài liệu lịch sử của Ban Hướng Dẫn để giảng dạy chi tiết, đặc biệt danh sách các vị Thánh tử đạo.
Tham khảo thêm
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Thành lập
- Sau cuộc vận động năm 1963, các hệ phái, tổ chức Phật giáo (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ…) họp Đại hội thống nhất; đầu năm 1964 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với bản Hiến chương.
Tổ chức
- Hai viện chính: Viện Tăng Thống (lãnh đạo tinh thần, giới luật) và Viện Hóa Đạo (điều hành Phật sự).
- Đức Đệ nhất Tăng thống là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
- Gia Đình Phật Tử là tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trực thuộc Giáo hội.
Sau này
- Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước.
Lưu ý
- Đây là đề tài lịch sử tổ chức; anh chị trưởng giảng theo tài liệu chính thức của Ban Hướng Dẫn.
2Các tôn giáo lớn trên thế giới: Bà La Môn, Hồi giáo, Nho giáo, Lão giáo, Thiên Chúa giáo, đạo Bahai
Tham khảo thêm
Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo)
- Ra đời ở Ấn Độ từ rất xưa, dựa vào kinh Veda; tin vào Phạm Thiên (Brahman), luân hồi, nghiệp; xã hội chia đẳng cấp. Đức Phật ra đời trong bối cảnh này và chủ trương bình đẳng, không phân biệt giai cấp.
Nho giáo
- Do Khổng Tử (thế kỷ 6 – 5 trước Công nguyên, Trung Hoa) xây dựng; đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo hiếu, trật tự gia đình và xã hội.
Lão giáo (Đạo giáo)
- Gắn với Lão Tử và Đạo Đức Kinh; đề cao “Đạo”, sống thuận theo tự nhiên, vô vi.
Thiên Chúa giáo (Kitô giáo)
- Dựa trên lời dạy của Đức Giêsu, kinh Thánh; tin vào Thiên Chúa, đề cao bác ái.
Hồi giáo
- Do nhà tiên tri Muhammad truyền dạy (thế kỷ 7, bán đảo Ả Rập); kinh Qur'an; tin vào Thượng đế duy nhất (Allah).
Đạo Bahá'í
- Ra đời ở Ba Tư thế kỷ 19, người sáng lập là Bahá'u'lláh; đề cao sự hợp nhất của nhân loại và các tôn giáo.
Thái độ của người Phật tử
- Tôn trọng các tôn giáo bạn, đối thoại trong hiểu biết, cùng hợp tác vì lợi ích con người; vua A Dục từng khắc chỉ dụ khuyên tôn trọng các tôn giáo khác.
Năm II · Tu dưỡng1 bài
1Hai buổi công phu

A. GIỚI THIỆU:
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo được đề cập đến dưới danh xưng: Kinh – Luật – Luận mà những người con Phật được thọ hưởng hiện nay được hình thành từ những lời Đức Thế tôn thuyết giáo, từ những luận giải hay những bài thuyết giảng về yếu lý của lời Phật dạy của chư Lịch đại Tổ sư, được kết tập lại qua từng thế hệ, mà chúng ta thường được nghe tán tụng trong các khóa lễ mỗi khi đến chùa.
B. NỘI DUNG:
I. SỰ PHÂN BIỆT VỀ Ý NGHĨA, HÌNH THỨC, SỰ TÁN TỤNG GIỮA KINH, CHÚ VÀ KỆ:
- Kinh: thuộc về hiển giáo, giải bày ý nghĩa rõ ràng, có thể lấy ý mà lĩnh hội.
- Chú: thuộc vệ mật giáo, không thể giải thích ý nghĩa, nhưng có một tác dụng nhất định trong tâm thức chúng ta, giúp chúng ta điều trị được một số tâm bệnh, một số trạng thái thần kinh hoang tưởng hoặc si ám..
- Kệ: thâu tóm yếu lý nội dung chính của một phẩm kinh bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ.
II. SUY NGHĨ VỀ NGHĨA LÝ KINH – CHÚ – KỆ:
Là một Phật Tử phải học hiểu nghĩa lý của các Kinh, Chú, Kệ, để khi niệm đọc, tâm hiểu, có hiểu, tâm mới định, tuệ mới phát.
Vậy đại ý hai thời công phu là:
1. Thời kinh sáng:
Sáng sớm muôn vật đều yên tĩnh. Tâm im lặng trong suốt (trạm tịch) hành giả thức dậy, vệ sinh cá nhân thay áo quần sạch sẽ lên chánh điện công phu là:
- Chú Lăng Nghiêm: Sớm đối trị bệnh ngũ dục chưa nhen nhúm mầm mống, lắng nghe cho được tâm hồn trong suốt vắng lặng (trực tâm) để rõ bày tánh Chân Như của Như Lai Tạng. Đó là chỗ tĩnh lặng bất động, có cảm đến đâu là suốt thấu đến đó.
- Chú Đại Bi, Chú Như Ý Bảo Luân Vương: đồng để lóng sạch bụi phiền não trong tâm ta. Bụi lòng đã sạch thì lòng Đại Bi trùm khắp, đồng thể chuyển được pháp luân như ý.
- Chú Tiêu Tai Kiết Tường: có công năng tiêu mất điều tai ương, đưa đến sự an lành, xe pháp luân càng vững chãi.
- Chú Công Đức Bảo Sơn: được điều lành hiện nơi tâm – ở núi pháp tánh được ngọc báu bằng công đức.
- Chú Chuẩn Đề: Tan sạch lý chướng làm cho pháp tánh được tỏ bày quả toại.
- Chú Quyết Định Quang Minh Vương: Đắc quả đã toại rồi liền cầu trí sống lâu của Đức Quang Minh Vương Như Lai.
- Chú Dược Sư Quán Đảnh: khi trí sống lâu đã phát triển. Trí ấy như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó. Quán tia sáng rọi ngay vào đỉnh đầu nên gọi là quán đảnh.
- Chú Quan Âm Linh Cảm Chú: được thấm sâu vào lỗ tai viên thông pháp giới. Đức Quan Thế Âm đem đến sự linh cảm mầu nhiệm vô cùng, tỷ như trăng soi mà vắng, vắng mà soi.
- Chú Thất Phật Diệt Tôi Chơn Ngôn: còn e sợ nghiệp cũ mù mờ, trí Kim Cang khó tỏ rạng cần phải diệt sạch căn nghiệp từ vô thỉ nên gọi là diệt tội.
- Chú Vãng Sanh: khi căn bản nghiệp chướng đã sạch, mong cầu Đức A Di Đà trút gội lên đỉnh đầu bằng nước Cam Lồ như chính cảnh Tịnh Độ.
- Chú Thiên Tiên Nữ: là gom phép quán mầu nhiệm trên để cộng thành diệu dụng của pháp tánh thì những sở nguyền sẽ đạt được kết quả như ý.
- Bát nhã tâm kinh: Song song với sự trì tụng các Chú mầu nhiệm ấy, tiến phép diệu quán là do nhất tâm mà có. Còn sợ chấp trước nơi quan cảnh, nên cần tụng Bát Nhã Tâm Kinh chỉ ngay tâm thể vắng lặng tịch diệt. Vì tâm vốn là “Không” mà “Tướng” cũng không luôn.
Trọn 12 bài mật chú và một bài hiển kinh (Bát nhã), ý nghĩa gồm thâu lẫn nhau. Hành giả lấy công đức hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo để chứng minh: nguyện sức Bát bộ hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ Tát có bốn ân, bạn hữu đều nhờ ơn thoát khổ trong 8 nạn 3 đồ. Nước trị, dân an, đàn việt. Tín đồ thêm phước huệ. Nguyện các thiền môn an tịnh, toàn thể Tăng chúng, Phật Tử tiến tu lên bậc thập Địa Bồ Tát.
Tiếp theo là niệm Phật để được thập chứng, dù chỉ niệm một danh hiệu Phật cũng như niệm tất cả Phật, vì Phật đạo đồng danh hiệu, tức là một thân cùng hoà lẫn với nhiều thân. Tự cùng hoà với Tha. Rốt lại là 3 tự Quy Y gồm tất cả công đức đã tụng mật chú, hiển kinh trên để thành ngôi Tam Bảo của tự tánh Như Lai Tạng.
2. Thời kinh chiều:
Nếu ban mai mang ý nghĩa tâm hồn còn vắng lặng, trong suốt làm chủ, thì kinh chiếu nhắm hướng ngay vào Tịnh Độ làm chính. Buổi chiều với bản nguyện gom góp những hạnh lành trong ngày để quy về Tịnh Độ. Vậy, phải nhớ trước công dụng sau mới gom đức.
- Kinh A Di Đà: khởi đầu bằng Kinh A Di Đà là để phát khởi được nhiệm mầu của chánh báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực Lạc và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để gây nhân tốt, đinh lực tâm, phát được tuệ. Mục đích cho chúng sanh xa lìa uế độ (cõi Ta Bà), cầu về cảnh toàn tịnh của thế giới Cực Lạc.
- Chú vãng sanh: cầu Đức A Di Đà đến trụ trên đỉnh đầu của ta để gia bị cho ta nhổ trốc gốc rễ của nghiệp chướng và thọ ký cho ta được quả quyết vãng sanh. Nhất tâm ước nguyện tha thiết trừ vọng tạp, nghiệp chướng và thọ ký cho ta từ vô thỉ, nên y theo Hồng Danh Bảo Sám mà phải nguyện rằng: con nay phát tâm sám hối, đây chẳng cầu được phước báu giàu sang, làm người hay làm trời, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác mà chỉ nguyện cho con và chúng sanh đồng đắc quả Phật mà thôi.
- Lạy Hồng danh: Tiếp theo xướng lạy 88 danh hiệu Phật để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thỉ đến nay.
- Tụng bài kệ: 10 đại nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát để tuyên dương lại lời phát nguyện trước dung thông tục đế với chân đế cũng như đắc pháp Tam Muội của Phật trí thì tất cả các pháp đều in hiện tượng vào biển cả. Thế là tỏ rõ nghĩa cứu cánh (cảnh hiện tâm) vẫn in như vậy.
- Tụng bài Mông Sơn: thiết lễ thí thực để tỏ lòng tế độ các đảng, cô hồn nơi âm cảnh, cầu âm siêu dương thái, kẻ còn người mất đều được phổ độ.
- Bát Nhã Tâm Kinh: Nêu rõ lẽ tội phước đều không. Vì Thật Tướng là phi ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Bởi các tướng ấy đều có diệt, có sanh. Còn Thật Tướng thì không sanh không diệt. Vậy Thật Tướng thì bất sanh bất diệt, hay bất sanh bất diệt mới là Thật Tướng của vạn hữu.
Tiếp tụng chú vãng sanh là lập đi lập lại sự xác quyết y cứ vào đức A Di Đà, mong rọi hào quang đến đỉnh đầu ta để hộ niệm cho ta. Chú vãng sanh có công năng biến lục đạo thành tịnh độ, khiến chúng sanh hữu tình được chứng lên bậc Thâp địa Bồ tát.
Cuối cùng niệm Phật hồi hướng để xiển minh lẽ thực chứng, sau cùng kết thúc về tam quy y là: từ thuỷ chí chung, công việc này có bao nhiêu phép lành, mỗi đều tập trung về ngôi tự tánh tam bảo, để nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng phát tâm vô thượng bồ đề.
3. Hai thời sóc vọng:
Lễ chúc tán Thù Ân (sáng) Sám Hối Hồng Danh (tối), nguyện cầu đức Hộ Pháp Vi Tôn chư thiên 8 loại, các thần hộ giáo Già Lam, nhờ các ngài ngăn diệt ma chướng ủng hộ ngôi tam bảo.
C. THỰC HÀNH:
Khi đã hiểu qua công năng của các khoá tụng, em từng bước thực hành chăm chỉ tinh tấn với hạnh nguyền thời sớm, thời chiều từ bắt đầu đến niệm Phật, Bồ Tát. Đó là Pháp tu Tịnh Độ. Phần hồi hướng và Tam quy là phần hướng về rốt ráo phổ độ chúng sanh. Hai thời chúc tán, Sóc Vọng để chúc các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, chư Tăng, quốc thái dân an, âm siêu dương thái.
Câu hỏi:
- Qua bài học chúng ta có phân biệt thế nào là Kinh, Chú, Kệ. Cho một ví dụ?
- Chúng ta hiểu thế nào về dùng trực tâm để tỏ bày tánh Chơn Như của Như Lai Tạng?
- Nói rằng tội phúc đều vô chủ, nhân pháp đều vô tướng thì ta phải hiểu thế nào khi ta còn sám hối và phát nguyện?
- Thế nào là Tam Bảo của Tự Tánh?
Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Chánh Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗