Tu học GĐPT

Ngành Thiếu · Bậc 8/16 trên lộ trình

Bậc Trung Thiện

Tinh thần chủ đạoTứ Chánh Cần

  • 1 năm
  • 40 bài
6 phần · 40 bài

Phật pháp – Kiến thức12 bài

  1. 1Luân hồi
    Hình minh họa: Luân hồi

    A. giới thiệu:

    Sự sống chết, mất còn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với con người, từ xưa đến nay con người vẫn luôn băn khoăn thắc mắc lo âu và vấn đề này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức nghiên cứu nhằm tìm kiếm một đáp án để lý giải một cách hợp lý hầu giải tỏa sự âu lo và thắc mắc của con người về sự sống còn mất.

    Tuy nhiên càng truy tìm nghiên cứu, con người lại càng đưa ra những quan niệm sai lầm hơn, mà tiêu biểu là hai thuyết “Chấp thường và chấp đoạn” khi cho rằng con người chết rồi thì mất hẳn không còn gì tồn tại sau đó và khi chết rồi thì chỉ có thân xác bị tiêu hoại, nhưng linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi: để được hưởng những lạc thú an vui hay chịu cực hình đau khổ.

    Hai thuyết “Chấp thường” và “Chấp đoạn” trên đây đã có sự tương phản với nhau đều không hợp lý. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không hề bị đoạn diệt cũng không phải thường còn, theo cái nhìn và quán chiếu của đạo Phật vào thế giới hiện tượng là không có vật gì mới được sinh ra, cũng không vật gì bị mất hẳn, vạn vật đều do có sự tương quan nhân duyên kết hợp mà thấy có sự biến dị hoặc hoại diệt.

    B. nội dung:

    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Luân hồi dịch ở chữ (Samsãra) trong tiếng Phạn. Theo từ Hán còn gọi là Tăng-sa-lạc. Cũng còn gọi là: Sinh tử, sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục (Tự điển Phật học Huệ Quang-Tập 3.

    Luân là bánh xe; Hồi là quay tròn; Luân hồi là quay tròn như bánh xe.

    Tóm lại Luân hồi là: Chúng sinh tạo nghiệp, chết ở kiếp nầy rồi lại sinh vào kiếp khác, cứ quay vòng như vậy mãi mãi trong 3 cõi sáu đường.

    Và nếu muốn diệt trừ sự khổ của luân hồi lục đạo thì trước phải dứt nhân tham, sân, si vì đây là nguyên nhân khiến chúng sinh luân hồi trong tam giới lục đạo. Khi nào cắt đứt được ngã chấp và tham, sân, si thì cái khổ luân hồi cũng chấm dứt.

    II. SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI:

    Định luật Thành, Trụ, Hoại, Không: chi phối toàn thể vận hành của vạn vật chúng sanh, trong vũ trụ tất cả sự vật, từ nhỏ đến lớn đều không thể nào vượt thoát ra ngoài.

    1. Đất luân hồi:

    Như cái bình trước mặt chúng ta, nguyên liệu để thực hiện chính là “Đất”, qua thao tác của người thợ với nhiều công đoạn nó trở thành cái bình, trải qua thời gian sử dụng, cái bình bể nát và trở về với trạng thái nguyên thủy là đất cát. Đất cát này lại làm thức ăn để nuôi sống cây cỏ, cây cỏ lớn lên tàn rụi để trở thành phân bón cho các cây khác hoặc làm thực phẩm cho các loại động vật. Động vật ăn cây cỏ vào, rồi bài tiết ra hoặc sau khi già nua chết đi lại trở về với đất cát. Bao nhiêu lần thay đổi hình dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, nhưng đất cát nó cũng lại trở về với đất cát, tùy theo vòng luân chuyển dài hay ngắn.

    2. Nước luân hồi:

    Nước ở sông hồ, biển cả bị sức nóng của mặt trời bốc thành hơi; hơi nước bay lên không trung gặp khí lạnh biến thành mây; mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao, hồ, sông biển, hoặc gặp vùng lạnh quá thì đóng lại thành băng. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần xoay vòng mãi mãi, nhưng rồi nước vẫn là nước. Điều này chứng tỏ hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước thì vẫn không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.

    3. Gió luân hồi:

    Không khí bị sức nóng của mặt trời giãn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Để bù lấp vào những khoảng trống đó, không khí những nơi khác chạy tới điền vào. Sự luân chuyển liên tục của không khí tạo thành gió. Không khí xê dịch chậm thì gió nhỏ, nhanh thì gió mạnh và nhanh hơn thì trở thành bão, nhưng rồi dù có thay đổi trạng thái nhanh hay chậm, thì bản chất của gió vẫn là không khí.

    4. Lửa luân hồi:

    Lửa là một sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Hai thanh củi trong trạng thái bình thường thì chẳng thấy có sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát nhau thật mạnh một hồi thì lửa liền được bật lên. Ngọn lửa này có thể đốt cháy cả hai thanh củi, khi cháy thì một phần hóa thành tro than, một phần biến thành thán khí. Những cây khác dùng rễ mình để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia khi hồi đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, khi thì ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Điều này chứng tỏ lửa chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải đứt đoạn hay mất hẳn.

    5. Cảnh giới luân hồi:

    Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Quả thật vậy, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra khỏi đinh luật Thành, Trụ, Họai, Không. Mỗi phút giây đều có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác xuất hiện, như làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nối tiếp, làm nhân, làm quả cho nhau, tiếp nối không bao giờ dứt.

    6. Thân người luân hồi:

    Thân người do tứ đại hợp thành mà tứ đại chính là đất, nước, gió, lửa. Với chất cứng dẽo như gia thịt, gân xương của con người chính là Đất; những chất lỏng nhữ máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, nhịp đập của trái tim, buồng phổi, cử động lên xuống, qua lại của tay chân là thuộc về Gió; hơi nóng trong con người thuộc về Lửa. Như trên ta đã rõ, tứ đại đều luân hồi thì con người vì lệ thuộc vào tứ đại nên cũng luân hồi theo vì khi thân nầy chết thì tất cả đều trả về cho tứ đại, và cứ thế vòng quay mãi mãi tiếp tục.

    7. Tinh thần luân hồi:

    Con người không phải chỉ có tứ đại mà còn có phần tâm lý hay nói một cách tổng quát đó chính là tinh thần, bao gồm tất cả mà đạo Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phần thể xác gồm có tứ đại là đất, nước, gió, lửa đạo Phật gọi là Sắc. Tứ đại là phần tạo nên sắc thân không hề tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì Tâm thức hay Tinh thần cũng không tiêu diệt mà cũng chỉ biến chuyển xoay vần theo nghiệp.

    Vậy nghiệp là một năng lực chứ nghiệp không phải là linh hồn, nghiệp có năng lực dẫn dắt hành động của mỗi chúng sanh. Do tính chất riêng ấy (biệt nghiệp) mà nghiệp lực mới dẫn dắt vào hình thức này hay hình thức khác do luật hấp dẫn (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu) mà chịu xuôi theo vòng luân hồi sanh tử.

    III. LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ:

    Khi mọi người đã hiểu luật nhân quả và tin vào luật nhân quả thì mọi người không thể không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi cũng chỉ là một chuỗi nhân quả có tính cách liên tục nhưng vì nó khi ẩn khi hiện, khi thăng khi giáng, khi mất khi còn, biến đổi dị dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.

    Chúng sanh vì mê mờ nên đã tạo tác ác nghiệp: hành động, tham lam, sân hận, si mê, nghi mạn, ác kiến … đó là những nhân ác thì phải gặt quả ác. Và chúng sanh tu học theo chánh Pháp: Tu năm giới và thập thiện, thường làm việc phước đức, làm những điều lợi lạc cứu khổ độ sinh, hộ trì Tam bảo … đó là tạo tác nhân lành thì gặt hái được quả lành, an lạc giải thoát, được sanh về các cảnh giới tịnh lạc và phước báo của chư thiên. Do sự tạo tác lành, dữ, thiện, ác mà chúng sanh phải luân hồi vào trong ba cõi, sáu đường theo luật nhân quả chắc chắn không sai.

    C. suy nghiệm:

    Giáo lý Luân hồi đã lý giải cho chúng ta được hiểu biết rõ về sinh diệt, còn mất của con người và vạn vật trong vũ trụ. Giúp cho con người hiểu rõ được thiện ác nghiệp báo theo luật nhân quả và giáo lý luân hồi cũng đem lại cho con người nhiều điều lợi ích:

    • Phá trừ được “đoạn kiến” sai lầm làm con người sinh ra chán nản, vì nghĩ rằng dù ta có cố gắng ăn hiền ở lành, sống đạo đức rồi cuối cùng chẳng đem theo được gì cả, chẳng hưởng được gì một khi chết đi thân thể bị tiêu hoại.
    • Phá trừ được “thường kiến” sai lầm làm cho con người tin rằng con người khi chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phước hay tạo tội cũng vậy. Do đó mà con người sống với nhau không có tình người, không thương yêu giúp đỡ nhau mà còn bóc lột cướp giật, hại nhân, gây tội ác …
    • Với giáo lý Luân hồi đem cho con người một niềm tin chân chính hợp lý: con người khi chết rồi không phải là mất hẳn mà chắc chắn có liên quan ảnh hưởng về nhân quả đối với kiếp sống hiện tại. Sống lành hay dữ, thiện hay ác, tạo tội hay phước, tức là tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp thì khi chết nghiệp lực đó sẽ dắt dẫn sinh vào trong vòng luân hồi của ba cõi sáu đường theo luật luân hồi nhân quả để chịu nghiệp. Giáo lý luân hồi cho con người tự tin là ta là chủ nhân của đời ta, ta tạo nghiệp nhân gì thì ta chịu nghiệp quả ấy, chứ không ai thương hay ghét hoặc có quyền ban phước hay giáng họa cho ta cả.

    D. thực hành:

    Người Phật tử đã biết được ý nghĩa và giá trị của giáo lý luân hồi thì nên cố gắng tu tập theo đúng Chánh pháp, cải thiện thân tâm, tạo thiện nghiệp, tẩy sạch các nghiệp hữu lậu để gặt hái được quả lành để không còn trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử; nguyện được giải thoát sanh về các cảnh giới tịnh lạc bất sanh bất diệt của các vị A-La-Hán và chư Bồ Tát hay Chư Phật.

    Theo lời Phật dạy:“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng giác ngộ và giải thoát”

    Em quyết tâm tinh tấn tu tập theo Chánh Pháp:
    • Thường xuyên niệm Phật để tâm được an trú trong chánh niệm.
    • Xa lìa ác Pháp, hành động hướng theo các thiện Pháp đem lại lợi lạc cho chúng sinh để chuyển hóa khổ đau thành an vui.
    • Tu tập giới Định Tuệ để diệt trừ Tham ái, Sân si, Mạn, Nghi, Cố chấp và thù hận để được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường và thanh tựu được Phật quả.
    Chú thích:
    * Ba cõi: gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới:
    • Dục giới: là thế giới của ái dục, nơi đó chúng sinh còn tâm tham ái, dâm dục nên mỗi loài còn có phân biệt nam nữ, đực cái, trống mái. Thân thể được cấu tạo bằng ngũ uẩn.
    • Sắc giới: gồm những cõi mà chúng sinh đã thoát ly được tham dâm và tham thực, chúng sanh ở cõi nầy thuộc Hóa sanh.
    • Vô sắc giới: gồm những cõi đã ly dục, không còn sắc thân vật chất, chỉ có tâm cảm với nghiệp lực.

    * Sáu đường: gồm có Địa ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, loài Người và cõi Trời:

    1) Địa ngục: do tạo nhân độc ác, làm nhiều điều tội lỗi, giết hại mạng sống, gây đau khổ cho chúng sinh, nên phải chịu luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ ải.

    2) Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, giúp người, từ tài vật đến ngôn ngữ và hành động. Trái lại còn mưu sâu và độc kế cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.

    3) Súc sanh: Tạo nhân si mê sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu sắc, tài khí, không biết hay dở, tốt xấu, thiện ác, chết rồi luân hồi làm súc sanh.

    4) A-Tu-La: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tính khí hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A-Tu-La, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.

    5) Loài Người: Do tu nhân Ngũ giới: không sát hại mạng sống, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu say sưa thì đời sau sẽ trở lại làm người cao quý, an nhàn.

    6) Cõi Trời: Tránh mười điều ác tu nhân Thập Thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên biết rằng cõi Trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, vẫn còn chịu nhân quả sanh tử luân hồi. Muốn thoát ra ngoài cảnh giới sanh tử luân hồi và đến bốn cõi Thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật thì phải tu nhân giải thoát (tu Pháp xuất thế gian).

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Tứ Diệu Đế
    Hình minh họa: Tứ Diệu Đế

    A. GIỚI THIỆU: Nguyên nhân và thời kỳ Phật giảng Tứ Diệu Đế lần đầu tiên.

    Tứ Diệu Đế là thời Pháp thứ hai (Thời A Hàm) của Đức Thích Ca, sau khi Ngài thành đạo tại gốc cây Bồ Đề liền nghĩ đến đem giáo lý mà Ngài vừa chứng được ra truyền bá giác ngộ chúng sanh, nhưng giáo lý mà Ngài chứng thì quá cao siêu thâm diệu còn phần đông chúng sanh căn cơ thấp kém khó có thể giác ngộ nhanh như Ngài; nhưng không vì chúng sanh khó giáo hóa mà Ngài không làm tròn nhiệm vụ hóa độ.

    Do đó, Ngài đã quyết định phải tuỳ duyên và phương tiện nói Pháp Tứ Diệu Đế là để chúng sanh dễ nhiếp thọ tu hành. Phật quán sát căn cơ của năm người bạn cùng tu với Ngài trước kia là: Kiều Trần Như, Thập Lịch, Bạc Đề, Ác Bệ và Mahanam Câu Ly có thể khai ngộ diệu Pháp, Đức Phật đi đến Vườn Lộc Uyển là nơi họ đang tu tập nói Pháp Tứ Diệu Đế.

    Sau ba phen chuyển Pháp luân Tứ Diệu Đế (Thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển) đã phá vỡ được nghi hoặc và thành kiến mê lầm của năm vị này, do đó mà trí tuệ siêu thoát được xuất hiện và năm vị này chứng nhập quả vị La Hán. Kể từ đây danh nghĩa của đoàn thể tăng già được thành lập có đầy đủ ba ngôi báu: Phật – Pháp – Tăng.

    B. nội dung:

    I. ĐỊNH NGHĨA:
    • Tứ Diệu Đế là 4 chân lý của nhà Phật, còn gọi là Tứ Thánh đế, Tứ chân đế hay Tứ đế gồm có: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vì lý là chân chính nên gọi là Chân đế và là sở kiến của các bậc Thánh giả nên gọi là Thánh đế (*).
    • Đế tiếng Palị là Satya; tiếng Phạn là Sacca; có nghĩa là chân thật không hư dối. Đây là 4 chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo chân thật không hư dối. Bốn chân lý nầy là chỗ thấy biết của bậc Thánh nên gọi là Tứ Thánh đế. Về mặt đại thể Tứ Đế là sự quy nạp thuyết “Thập nhị duyên khởi” mà Phật giáo dùng để giải thích các hiện tượng trong vũ trụ, là đại cương của giáo nghĩa nguyên thủy. Tứ đế theo thứ lớp được gọi là Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế, hoặc là Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, Khổ diệt đạo thánh đế hoặc Khổ đế, Khổ tập đế, khổ tận đế, Khổ xuất yếu đế hoặc Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Chân thánh đế, Đạo thánh đế. Trong đó Khổ và Tập biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới mê vọng, còn Diệt và Đạo biểu thị cho Quả và Nhân trong thế giới chứng ngộ. Tức Quả hữu lậu thế gian là Khổ đế, Nhân hữu lậu thế gian là Tập đế. Quả vô lậu xuất thế là Diệt đế, Nhân vô lậu xuất thế là Đạo đế (**).
    II. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ ĐẾ:
    1. Khổ Đế (Tiếng Palị là Duhkha-satya; tiếng Phạn là Duhkha-sacca):

    Chỉ chung cho trạng thái thân tâm bị bức bách khổ não, chỉ rõ mọi giả tướng của thế gian đều là khổ, và cuộc đời là một bể khổ mênh mông. Đây chính là chân đế về “sinh tử quả thật là khổ” là các sự thật Về các khổ hữu lậu trong 3 cõi.

    a. Nhị khổ:
    • Nội khổ: khổ của thân tâm.
    • Ngọai khổ: Khổ do sự tác động từ bên ngoài như giặc cướp, chiến tranh, thiên tai.

    b. Tam khổ: Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ.

    • Khổ khổ: Đối với cảnh bất như ý mà cảm thụ sự khổ.
    • Hoại khổ: Đối với sự tan vở, hủy hoại của cái mình yêu mến mà cảm thụ khổ.
    • Hành khổ: Thấy tất cả thế gian đều vô thường mà cảm thụ khổ.

    c. Bát khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Ái biệt ly, Oán tăng hội, Cầu bất đắc và Ngũ ấm xí thạnh khổ.

    d. Thập bát khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh.

    e. Tam khổ về thân và tâm:
    • Về thân: Lão, bệnh, tử.
    • Về tâm: Tham, sân, si.

    Từ Sanh đến Oán tăng hội thuộc về Khổ khổ: là tự tướng của Khổ.

    Ái biết ly, Cầu bất đắc thuộc Hoại khổ: là tự tướng của Hoại.

    Tất cả những khổ thuộc về năm thủ uẩn thì thuộc hai vô thường: là tướng của Hành.

    Từ sinh khổ đến cầu bất đắc khổ là khổ thuộc về Thế tục đế, vì đó là cảnh giới trí thế gian.

    Tất cả các khổ thuộc về năm thủ uẩn là khổ thuộc về Thắng nghĩa đế.

    2. Tập Đế (Tiếng Palị là Samudaya-satya; tiếng Phạn là Samudaya-ariya sacca):

    Nguyên nhân sự khổ do tích luỹ từ nhiều đời, nhiều kiếp cũng có và mới tạo tác cũng có, các phiền não ẩn chứa tập họp lại từ nhiều kiếp thì gọi là Tập nhân phiền não. Đây chính là chân đế về sự sinh khởi và nguồn gốc của các khổ mà con người ở thế gian phải chịu.

    Sự khổ đã không cùng thì nguyên nhân sinh khổ cũng vô tận. Phân tích và tổng hợp lại không ngoài mười nguyên nhân sau: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến.

    Tính chất của các nguyên nhân: Mười nguyên nhân sinh khổ não còn có tên là mười kiết sử. Kiết có nghĩa là trói buộc; sử là sai khiến. Mười phiền não này (kiết sử) chúng có mãnh lực trói buộc loài hữu tình không cho thoát ra khỏi ba cõi và sai sử chúng sanh lăn trôi trong sinh tử luân hồi chịu trầm luân khổ ải. Kiết sử có thứ chậm lụt nhưng có gốc lớn sâu dày, khó tu sửa. Có thứ thì ở khơi khơi, thuộc phần ý thức. Thứ gốc rễ sâu dày gọi là độn sử, gồm năm kiết sử đầu. Thứ kiết sử ở phần động của ý thức nên nhanh nhẹn, nhưng nếu được người khai đạo thì nó tự tiêu trừ, gồm năm kiết sử sau, còn gọi là lợi sử.

    • Mười kiết sử xuất hiện trong Tứ Đế thăng giáng ở ba cõi tạo thành 88 món kiến hoặc và 81 món tự hoặc.
    • Kiến hoặc là những nhận biết sai lầm ý thức, khi được khai phóng tức có thể xả ly đoạn diệt.
    • Tư hoặc thì phải đến bậc Tu Đạo, nghĩa là thứ lớp chứng đắc mới có thể chứng được.
    3. Diệt Đế (Tiếng Palị là Nirodha-satya):

    Diệt là tịch diệt, xét rõ sự thật và đoạn trừ cội gốc các khổ cùng ái dục thì được khổ diệt, nhập vào cảnh giới Niết bàn (diệt ở đây có nghĩa là diệt vô minh, dục vọng, phiền não. Khi diệt xong các loạn tặc ấy, chắc chánh hành giả sẽ vĩnh viễn ly sinh tử luân hồi, được tự tại an vui tịch lạc). Diệt đế chính là chân đế về sự diệt tận Khổ vả Tập.

    a. Thứ lớp đoạn hoặc: Tập nhân phiền não rất phức tạp, có thứ nông cạn dễ dứt trừ, có thứ sâu kín khó dứt. Do vậy có hai thứ lớp đoạn hoặc:

    • Kiến đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm thuộc 5 kiết sử đầu, khi hành giả tu tập thấy được Chánh Pháp (ngộ đạo) thì mới đoạn diệt được.
    • Tu đạo sở đoạn hoặc: những mê lầm sâu kín ăn sâu vào gốc rễ của Tâm thức, biến thành thói quen như sự chấp ngã, sự say đắm nhục dục, tham, giận, kiêu mạn v.v… hành giả phải tinh tấn tu hành phát huy trí tuệ, xả ly tham ái thì mới đoạn trừ được 5 Kiết sử sau.

    b. Các tầng bậc tu chứng: có bốn bậc tu chứng từ thấp đến cao như sau:

    1b.- Tứ Gia Hạnh: Hành giả phải qua bốn gia hạnh sau mới đoạn trừ được 88 món kiến sử hoặc:

    • “Noãn vị”: Noãn là hơi nóng; vị là địa vị. Người xưa muốn có lửa thì phải dùng hai thanh tre cọ sát cho có sức nóng thì lửa sẽ phát ra. Người tu đạo muốn có lửa trí tuệ cũng phải qua giai đoạn tạo ra hơi nóng. Tuy nhiên hơi nóng lửa trí tuệ chưa đốt cháy được củi phiền não; hành giả cần phải tu tập trải qua giai đoạn “Noãn vị”.
    • “Đảnh vị”: Đảnh là chóp cao; vị là địa vị. Thấy biết được gốc của mê lầm, nhưng chưa giải trừ được. Người tu đã bước lên đến chóp đỉnh cao của mê lầm, nhưng chân chưa rời khỏi chóp núi mê lầm.
    • “Nhẫn vị”: Các Pháp sanh diệt chạy nhảy lăng xăng, rất nhiều vi tế phiền não nổi lên nhưng ta đều kham nhẫn, giữ được tín tâm, không thối xuất. Trí giác ngộ gần sáng tỏ, tâm giữ được sự tĩnh lặng không dao động chao đảo mặc dù các Pháp ẩn lăng xăng nên gọi là nhẫn.
    • “Thế đệ nhất vị”: Tu quả vị này là bậc cao quý nhất trong đời, là công phu rất to tát, chỉ còn phá bỏ phần kiến hoặc, cái lầm của Phi phi tưởng thì thoát khỏi Dục giới, được quả Tu Đà Hoàn, quả vị đầu tiên của Thanh Văn Thừa.

    2b.-Tu Đà Hoàn: Hán dịch là dự lưu quả (dự vào dòng Thánh). Đã đoạn được “kiến hoặc”, không còn mê lầm, ý thức đã sáng suốt nhưng thất thức còn chấp ngã, nên phải qua bảy lần sanh lại Dục giới mới gọt sạch các kiết sử phiền não thầm kín, nằm nép trong tâm thức để chứng A La Hán quả.

    3b.- Tư Đà Hàm: Hán dịch là Nhất lai, nghĩa là còn một phen sanh lại cõi Dục để tu hành và dứt cho sạch phần mê lầm để đoạn trừ “tư hoặc”, mới tiến đến bực A-la-hán.

    4b.- A Na Hàm: Hán dịch là Bất Lai nghĩa là không còn sinh tại cõi Dục nữa, mà sinh về cõi trời Ngũ tịnh cư thuộc, tại đây phải tu luyện để dứt sạch “vi tế hoặc”mới chứng đắc A La Hán quả.

    5b.- A La Hán: Đây là quả vị cao nhất trong hàng Thanh văn. Hán dịch có ba nghĩa:

    • Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí tuệ hơn cả, đáng làm phước điền cho chúng sanh cúng dường.
    • Phá ác: Vị nầy đã phá tan những phiền não tội ác, không còn bị chúng khuấy phá sai sử trói buộc nữa.
    • Bất sanh: Vị nầy không còn xoay vần trong sanh tử luân hồi, vì đã phá trừ được phiền não là yếu tố của sanh tử luân hồi.
    A la hán có 2 bực (tùy theo căn cơ chậm lụt):
    • Bất hồi tâm độn A la Hán: là vị A la hán trầm không trệ tịch, tự thỏa chí vào địa vị đã chứng, chứ không phát tâm xoay về Đại thừa.
    • Hồi tâm đại A la hán: là vị A la hán lợi căn, lợi trí, phát tâm xoay về Đại thừa rộng lớn chứ không tử mãn ở địa vị đã chứng.
    c. Giá trị của Tứ quả Thanh Văn:

    Đây là kết quả của công phu tu tập mà quả vị chứng được do việc đoạn trừ mê lầm nhiều hay ít ngay khi còn sống đã chứng đắc, chứ không phải chết mới chứng đạt. Như ở quả vị Tu Đà Hoàn thì gọi là “kiến đạo sở đoạn” nghĩa là ý thức đã đã tương đương với “Huệ tâm sơ”, sáng suốt, trực nhận đạo lý một cách rõ ràng. Còn các vị sau, thuộc về “Tu đạo sở đoạn”, nghĩa là sau khi gột rửa các chủng tử mê lầm (tư hoặc) của thức A lại da mới chứng được. Tuy thế do sự dứt trừ phiền não sâu hay cạn, mà diệu dụng của mỗi quả vị khác nhau. Vì thế mà ngay ở địa vị “Kiến đạo sở đoạn” là đã thành tựu năm phép thần thông. Từ đây chỉ còn chứng Lậu tận thông nữa là vào A La Hán Quả.

    4. Đạo Đế (Tiếng Palị là Mãrga-satya):

    Con đường chân thật đưa đến cảnh giới diệt khổ, tức là giáo thuyết lý luận và con đường tu tập để vượt qua sự quan hệ nhân quả thế gian “khổ”, “tập” mà đạt được Niết bàn tịch tĩnh xuất thế gian. Theo kinh A Hàm của Phật giáo Nguyên thủy, Đạo đế chính là Bát Chánh đạo, nhưng theo Luận Đại Trì độ, luận Thành Thật và luận Tứ Đế thì cho rằng Đạo đế bao gồm 37 phẩm trợ đạo, tóm lược như sau:

    a. Tứ niệm xứ:
    Bốn lãnh vực quán niệm để nhìn thấy thật tướng của vạn Pháp:

    1. Quán thân bất tịnh.

    2. Quán cảm thọ là khổ.

    3. Quán tâm vô thường.

    4. Quán Pháp vô ngã.

    b. Tứ Chánh Cần:
    Bốn điều chân chánh mà Phật tử phải siêng năng tu trì:

    1. Dứt trừ các điều ác đã phát sinh.

    2. Ngăn chặn các điều ác chưa phát sinh.

    3. Phát triển những việc thiện đã làm.

    4. Cố gắng làm thêm nhiều những việc thiện mới.

    c. Tứ như ý túc:

    1. Dục như ý túc.

    2. Nhất tâm như ý túc.

    3. Tinh tấn như ý túc.

    4. Quán như ý túc.

    d. Ngũ căn:

    Năm đức tính căn bản Phật tử phải hành trì tu tập.

    1. Tín căn.

    2. Tấn căn

    3. Niệm căn

    4. Định căn

    5. Tuệ căn

    e. Ngũ lực:

    Năm sức mạnh dùng để đối trị với tâm bất định, tâm tán loạn và bất chánh tri, tức sự hiểu biết không đúng chánh Pháp.

    1. Tín lực: sức mạnh của đức tin

    2. Tấn lực: sức mạnh của tinh tấn

    3. Niệm lực: sức mạnh của quán niệm

    4. Định lực: sức mạnh của Thiền Định

    5. Tuệ lực: sức mạnh của trí tuệ.

    f. Thất Bồ Đề phần:

    Có sách gọi là Thất giác chi, tức bảy yếu tố giác ngộ.

    1. Niệm: Quán niệm

    2. Trạch Pháp: Chọn lựa Pháp môn – Quán chiếu vạn Pháp

    3. Tinh tấn: Tinh cần, siêng năng, không giải đãi

    4. Hỷ lạc: (Hỷ lạc xuất thế) vui vẻ và an lạc

    5. Khinh an: Nhẹ nhàng an lạc

    6. Định: Thiền định

    7. Hành xả: buông bỏ những đối tượng ảo vọng không có thực thể, tức vô nguyên, vô tác.

    g. Bát Chánh Đạo:
    Con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố:

    1. Chánh Kiến: Cái thấy biết chân chánh.

    2. Chánh tư duy: Nếp tư duy chân chánh.

    3. Chánh ngữ: Lời nói chân chánh.

    4. Chánh nghiệp: Hành động, việc làm chân chánh có lợi cho mình và lợi ích cho chúng sanh.

    5. Chánh mạng: Nghề nghiệp để sinh sống chánh đáng, lương thiện, không bạo tàn, hèn mạt.

    6. Chánh tinh tấn: Chuyên cần trong nẻo chánh.

    7. Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh để hành sử mọi lẽ và mọi việc lành đúng thiện Pháp.

    8. Chánh định: Thiền định đúng chánh Pháp.

    C. suy nghiệm:

    Với ba lần chuyển thời Tứ Đế:
    1- Lần thứ nhất là: THỊ CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ phải biết.
    • Đây là nguyên nhân khổ phải trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ phải tu.
    • Đây là Niết Bàn phải chứng.
    2- Lần thứ hai: KHUYẾN CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ nên biết.
    • Đây là nguyên nhân sự khổ nên trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ nên tu.
    • Đây là Niết Bàn nên chứng.
    3- Lần thứ ba là: CHỨNG CHUYỂN:
    • Đây là sự khổ ta đã diệt.
    • Đây là nguyên nhân sự khổ ta đã trừ.
    • Đây là đạo diệt khổ ta đã tu.
    • Đây là Niết Bàn tịch diệt ta đã chứng.
    Tứ Thánh Đế xứng đáng là thời sơ chuyển Pháp luân, vì:
    • Tứ Thánh Đế giải thích cặn kẽ chân thật tánh của các Pháp.
    • Những vấn đề nhân sinh vũ trụ đều được giải thích hết sức rõ ràng khoa học.
    • Lý luận khúc chiết, đường hướng tu tập rõ ràng, dễ nhớ dễ tu. Tiến trình tu tập từ thấp đến cao, dễ dàng áp dụng cho mọi tầng lớp trong xã hội.

    Như vậy Tứ Thánh Đế là bài học căn bản mà bất cứ Phật Tử nào cũng phải chiêm nghiệm suy xét để thực hành trong đời sống hàng ngày. Có như vậy thì gọi là tu để chuyển khổ đau thành an lạc, phiền não thành Bồ Đề.

    D. ứng dụng và tu tập:

    Để ứng dụng cho bản thân các em vào trong cuộc sống, các em cần học cho thật kỷ, suy nghĩ cho chín chắn và nhất là các em cần phải kiên trì từng bước thực hành theo bài học có như vậy chúng ta mới bỏ ác theo thiện đúng như 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử.

    Chú thích:

    (*) Theo Tự điển Phật học Hán Việt của Phân viên Nghiên cứu Phật học – NXB. Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1998.

    (**) Theo Tự điển Phật học Huệ Quang – Tập 5 – Trang 4772- Nhà XB TP.HCM 2005

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  3. 3Ngũ uẩn
    Hình minh họa: Ngũ Uẩn
    A. GIỚI THIỆU:

    Ngũ uẩn là giáo lý căn bản trong hệ thống giáo lý “Nhân thừa” của Đức Thế Tôn, là cơ sở để hình thành Nhân sinh quan, Thế giới quan và cả giải thoát quan của Phật giáo. Đức Thế Tôn thành Phật cũng từ sự phát hiện và thể nghiệm chân lý từ thân hữu lậu ngũ uẩn, do đó giáo lý của Ngài đã thể hiện tính nhân bản đặc sắc, bởi thân vừa là địa ngục và cũng là nơi thăng hoa trí tuệ của con người. Tìm hiểu và tu tập ngũ uẩn để từng bước chuyển hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn chính là niềm hoài bảo hàng đầu của người Phật tử chúng ta.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Trong kinh tạng Nikàya, Ngũ Uẩn Trung Hoa phiên âm là Kiền Độ, còn gọi là Ngũ ấm, ngũ chúng, ngũ thủ uẩn. Đức Phật định nghĩa như sau:“Phàm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái gì thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần... đây gọi là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Do nhân tứ đại, do duyên tứ đại được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, duyên xúc được gọi là thọ uẩn, do nhân xúc, duyên xúc được gọi là tưởng uẩn, hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc được gọi là thức uẩn” (Kinh Tương Ưng III/trang 121).

    II. HÀNH TƯỚNG CỦA NGŨ UẨN:
    1. Sắc uẩn:

    Là phần vật chất, nói nôm na thân tứ đại này gồm bốn: đất, nước, gió, lửa (và tư tưởng). Sắc uẩn lại gồm nội sắc và ngoại sắc. Nội sắc là thân mình. Ngoại sắc là tha nhân và thế giới vật lý quanh mình.

    Sắc uẩn do thức ăn vật chất nuôi dưỡng (kể cả thức ăn tinh thần). Do vậy, khi các thức ăn tập khởi, thời sắc uẩn tập khởi. Khi các thức ăn đoạn diệt, thì sắc uẩn đoạn diệt. Từ đó con đường tu tập đưa đến đoạn diệt sắc là Bát Chánh Đạo.

    2. Thọ uẩn:

    Là những cảm nhận về hỷ, lạc, xả, ưu, khổ ……qua lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý (thọ do nhãn xúc sinh, thọ do nhĩ xúc sinh, thọ do tỷ xúc sinh,... thọ do ý xúc sinh). Bởi Thọ uẩn là do xúc sinh, vì vậy Thọ uẩn cũng có nội thọ (cảm thọ về các thiên lạc) và ngoại thọ (cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

    3. Tưởng uẩn:

    Là những khả năng kinh nghiệm về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Là những khả năng hồi tưởng, ký ức... Tưởng uẩn có 6: sắc tưởng, thanh tưởng... xúc tưởng, pháp tưởng. Như vậy, do xúc tập khởi mà tưởng tập khởi do xúc đoạn diệt tưởng đoạn diệt. Tóm lại Thọ uẩn là sự tưởng tượng, tư duy về hình dáng sự vật sau tác dụng của căn đối với cảnh.

    4. Hành uẩn:

    Là mối quan hệ tác dụng của tâm và ý chí khởi ra các hành động thiện ác, chỉ cho tất cả pháp hữu vi trừ sắc, thọ, tưởng, thức.

    5. Thức uẩn:

    Là sự tích tụ của Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân thức. Tức là tác dụng của tinh thần để nhận thức và phân biệt trạng thái tâm đối với cảnh.

    C. SUY NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH:

    Nghe qua 5 uẩn như thế, em suy nghĩ về: Tính không thực có của 5 uẩn. Sự chấp 5 uẩn là có thật, chính là nguyên nhân đưa đến đau khổ, phiền não và làm phát hiện nơi em sự trầm tư về con người.

    1. Tính không thực của Ngũ uẩn:

    Lâu nay, cứ tưởng rằng thân này của ta, tư tưởng này của ta. Nhưng rõ ràng tứ thân cho đến tư tưởng cảm thọ v.v… là không có thật, vì nó biến chuyển liên tục, không có một yếu tố nào thường tại. Một hơi thở ra không có vào, hay là không ra là “cái ta” không còn tồn tại, mà không sắc, thì thọ, tưởng, hành, thức… cũng không có mặt. Như lời Phật dạy “Cái này có là do cái kia có mà thôi”.

    Vậy ngũ uẩn là không có thực, hay chính xác hơn là không có tự ngã riêng biệt. Không có cái gì gọi là “tôi” hay “của tôi” cả, mà đó chỉ là sự họp lại của 5 dòng hiện tượng, mà cũng có thể tan ra bất cứ lúc nào, do một nguyên nhân hết sức nhỏ bé không do ta điều khiển hay chủ động, hoàn toàn đột xuất đối với ta.

    2. Chấp 5 Uẩn có thật hay “cái gọi 5 uẩn” đưa đến khổ đau:

    Đã biết rằng thân này không có thật, nhưng chúng ta vẫn bế nó, chìu chuộng nó, từ đó lệ thuộc vào nó. Từ việc lo ăn, mặc, ngũ, nghĩ... cho đến vì danh dự hảo mà tự cao, tự đại... tất cả đều do chấp Ngũ Uẩn là có thật, cung phụng nó, cho nó là ta, ai xúc phạm tới là sân si nổi lên.

    Những câu kinh trong bài sám Tam Bảo nói lên rất rõ nguyên nhân khổ đau, phiền não do Ngũ Uẩn gây ra:

    “Mắt ưa xem huyền cảnh hàng ngày.

    Tai thích tiếng mật đường đua nịnh.

    Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh.

    Lưỡi dệt thêu lắm chuyện cay chua

    Thân tạm dùng gấm vóc sô va.

    Ý mơ tưởng bao la vũ trụ ……”

    Như vậy, chính vì chấp Ngũ Uẩn, nên chạy theo lục dục thất tình mãi mãi không vươn lên được, đó chính là phiền não khổ đau trói buộc ta trong vòng sinh tử luân hồi.

    3. Trầm tư về con người Ngũ Uẩn:

    Không đợi tới khi chết, mà thực ra, thân tứ đại này, con người Ngũ Uẩn này đã sinh và chết trong từng giây phút, từng sát na. (Sự sinh ra và chết đi của các tế bào… để tiến lên sự huỷ diệt toàn bộ do suy yếu, bênh tật, tai nạn…)

    Vẻ đẹp hình thức hay tâm hồn chúng ta, đều do nghiệp báo hay phước của nhiều đời, nhiều kiếp trước, vậy mà ta vẫn cứ quên, để vào lúc nào đó, tưởng rằng ta hơn người, rồi ngã mạn nổi lên, tiếp theo là phiền não, nếu cuộc đời không ưu đãi.

    Cuộc nhân sinh thật là ngắn ngủi, một làn gió độc, một cái sẩy tay sẩy chân, một trục trặc nào đó của một bộ phận trong cơ thể chúng ta. Thế là đủ để chấm dứt cuộc sống này,tất cả sẽ mất theo, có gì nữa đâu mà tranh giành hơn thua, chém giết nhau…

    Những thăng trầm của cuộc sống: Vinh, nhục, giàu nghèo, thị phi... cũng có thể đe doạ hạnh phúc của mình. Những lời mắng chửi của kẻ khác có khi ám ảnh suốt đời đối với một vài người và có thể dẫn đến hành động đối với những kẻ khác.

    Như vậy hạnh phúc thường tình của ta thật quá mong manh và có thể bị tước đi bất cứ lúc nào. Nguyên nhân là do ý niệm lệch lạc về Ngũ Uẩn, do cho rằng thân này là tôi, là của tôi, dẫn đến chấp thủ, và chính thái độ chấp thủ nhiều hay ít, sâu hay cạn đã dẫn đến phiền não, khổ đau nhiều hay ít vậy.

    D. TU TẬP:

    Bài học về Ngũ Uẩn cho em một cái nhìn đúng đắn và mới mẻ về con người, em quyết tâm thực hiện:

    • Phải thấy rõ tính không thật có của Ngũ Uẩn để bớt nuông chìu, nô lệ cho “cái ta” dưới mọi hình thức.
    • Phải suy tư về vô tính vô thường của con người Ngũ Uẩn để khỏi thất vọng trước những cảnh ly biệt, vỡ tan không tránh khỏi.
    • Phải luôn luôn tỉnh thức trong nhận định rằng Ngũ Uẩn là giả hợp, từ đó không chấp thủ, không lo sợ sự tan rã của nó.
    • Phải nổ lực tinh tấn quán chiếu tính vô ngã của 5 Uẩn để không buông lung giãi đãi.
    • Từng bước, thực hành ly tham, sống an ổn ít muốn, biết đủ, không bi tham, nhưng không đắm chìm, từ đó công phu tu tập sẽ có kết quả, trí tuệ, giải thoát sẽ đến với mình.
    • Để dễ nhớ và thuộc nội dung Ngũ Uẩn, em học thuộc lòng bài kệ của Đức Thế Tôn về Ngũ Uẩn sau đây:

    “Năm Uẩn là gánh nặng.

    Kẻ gánh nặng là ngươi

    Cầm lấy gánh nặng lên (tham ái và chấp thủ)

    Chính là khổ ở đời.

    Còn đặt gánh nặng xuống (đoạn dứt tham ái và chấp thủ)

    Tức là lạc ở đời.

    Đặt gánh nặng xuống xong

    Không mang thêm gánh khác.

    Nếu nhổ khỏi ái lên.

    Tận cùng đến gốc rễ.

    Không còn đói và khác.

    Đã giải thoát Tịnh Lạc”

    Câu hỏi:
    • Trình bày định nghĩa và nội dung Ngũ Uẩn?
    • Tại sao nói “Ngũ Uẩn giai không” (Ngũ Uẩn không có thực tính)?
    • Chứng minh rằng: sự chấp 5 uẩn có thật sẽ đem đến phiền não khổ đau? Cho một ví dụ cụ thể.
    • Khi biết Ngũ Uẩn không có thực tính, ta có chán đời không? Thái độ đúng đắn của người Phật Tử khi nhận ra 5 Uẩn không có thực tính là như thế nào?
    • Em hãy cho ví dụ để phân biệt một niềm vui giải thoát, và một niềm vui sẽ dẫn đến phiền não?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  4. 4Bát Chánh Đạo
    Hình minh họa: Bát Chánh Đạo
    A. GIỚI THIỆU:

    Lúc chuyển pháp luân Đức Thế Tôn thuyết về việc xa lìa 2 bên dục lạc và khổ hạnh, đi theo con đường Trung đạo tức chỉ cho Bát Chánh đạo này. Và trong thời pháp Tứ Đế do Đức Bổn sư thuyết giảng cho 5 anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, Bát Chánh Đạo lại được Đức Thế Tôn nêu lên như là tám con đường tu học chân chánh, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    Bát Chánh Đạo là con đường tu học chân chánh gồm tám yếu tố mà con người cần phải tự mình tuân thủ mới đem lại lợi lạc trên con đường tu tập cho chính bản thân cũng như xã hội, đó là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Là pháp môn thực tiển đại biểu nhất trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Phật giáo, tức là 8 phương pháp hoặc 8 đường tắc chính xác hướng thẳng đến Niết bàn giải thoát.

    Theo kinh “Phân biệt Thánh Đế”, “Trung A hàm 7”, “Luận Tứ đế 4”, “Luận Đại Tì-bà-sa 9” thì Bát Chính đạo còn gọi là Bát Thánh đạo, Bát chi thánh đạo, Bát thánh đạo phần, Bát đạo hạnh, Bát trực hạnh, Bát chính, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, Bát lộ. Là Tám thứ chính đạo cầu Niết bàn.

    II. HÀNH TƯỚNG CỦA BÁT CHÁNH ĐẠO:
    1. Chánh Kiến (Chánh tri kiến):

    Là kiến thức chân chánh. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý như:

    • Nhận thức được những lý duyên sinh, vô thường, vô ngã.
    • Nhận thức được những quả báo của hành động, của thân, ý.
    • Nhận thức được sự sống của mình, của người có liên hệ mật thiết với nhau, với cả toàn bộ vũ trụ rộng lớn.
    • Nhận thức được các pháp thiện, bất thiện ……
    Trái với Chánh Kiến là Tà Kiến, là nhận thức sai lầm:
    • Cho sự hiện hữu của tự thân và hoàn cảnh đều là tự nhiên không có quả báo cùng nhiều duyên khác tập hợp.
    • Chấp có thượng đế tạo vật rồi phủ nhận nhân quả nghiệp báo.
    • Chủ trương định mệnh rồi phủ nhận kết quả hạnh nghiệp.
    • Quan niệm giai cấp làm gián cách giữa người và người, giữa người và muôn vật.
    • Cố chấp thành kiến quan niệm, phân biệt phải trái.
    • Chấp theo thần thoại mê tín dị đoan.
    2. Chánh Tư Duy:

    Suy nghĩ chân chánh. Nghĩa là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người:

    • Suy nghĩ với định huệ để tu tập giải thoát.
    • Suy nghĩ nguyên nhân đau khổ của chúng sanh để giải thoát và khuyến tu.
    • Suy nghĩ những hành vi lỗi lầm và tâm niệm xấu xa để sám hối cải đổi.

    Chánh tư duy cũng gọi là chánh dục, nghĩa là mong muốn chân chánh, trái lại là tà tư duy và tà dục vọng:

    • Suy nghĩ tà thuật để làm mê hoặc lòng người.
    • Suy nghĩ những phương cách sâu độc, để đi ám hại mọi người, mọi loài.
    • Suy nghĩ mưu cơ để trả thù, trả oán.
    • Suy nghĩ về tài sắc, danh vọng.
    3. Chánh Ngữ:
    Lời nói chân chính ngay thật, có lợi ích chính đáng:
    • Lời nói thành thật và sáng suốt.
    • Lời nói ngay thẳng, hợp lý không thiên vị.
    • Lời nói hoà nhã, rõ ràng và giãn dị.
    • Nói lời lợi ích, dung hòa, gây cảm thông giữa mọi người, khuyến tấn và duy nhất.

    Trái với Chánh Ngữ là Tà Ngữ, là lời nói không chánh đáng, có tổn hại đến đời sống cùng danh dự mọi người:

    • Nói dối trá, máy móc không đúng sự thật.
    • Nói không ngay thẳng, thiên vị, dua nịnh, xuyên tạc, ngụy biện.
    • Nói sâu độc, đay nghiến, nguyền rủa, nhiếc mắng vu họa và thô tục.
    • Nói chia rẽ có di hại.
    4. Chánh Nghiệp:

    Hành động chân chính, nghĩa là hành vi động tác cần phải sáng suốt chân chánh có lợi ích:

    • Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống và hạnh phúc chung của mọi người và mọi loài.
    • Tôn trọng nghề nghiệp và tài sản của mọi người không lăng đoạt xâm phạm.
    • Giữ hạnh thanh tịnh chân chánh, không đàng điếm trác táng.
    • Biết phục vụ chức nghiệp và tận tâm với việc làm.
    • Biết hy sinh chánh đáng để giải thoát nổi khổ cho mình và cho mọi người.

    Trái với Chánh Nghiệp là Tà Nghiệp như sát sanh, trộm cắp, lừa đảo….

    • Sát hại, tàn bạo.
    • Sống xa hoa, trác táng.
    • Trộm cắp xâm đoạt.
    • Sáng chế khí cụ mãnh lợi để sát hại.
    • Chế hóa vật giá để dối gạt người.
    • Lợi dụng văn nghệ để kích thích sự đàng điếm ăn chơi trác táng.
    5. Chánh Mạng:

    Phương thức mưu sinh chân chánh, nghĩa là làm những nghề lương thiện, không bạo tàn, không dối gạc xảo trá, hèn mạc ……

    • Tận lực làm việc để sinh sống, nhưng không tổn hại đến người và vật.
    • Đem tài năng chân chính để sinh sống chứ không giả dối, máy móc, lường gạt mọi người.
    • Sống thanh cao không lòn cúi vô lý.
    • Sống đúng chánh giáo không mê tín dị đoan.
    Trái với Chánh Mạng là Tà Mạng:
    • Cày cuốc ruộng vườn nhưng coi thường sinh mạng chúng sinh (người xuất gia không nên làm).
    • Xem sao tính vận và ướt đạt thời tiết thay đổi, tinh tú thiết di để sinh sống.
    • Chiều chuộng quyền quý, dùng miệng lưỡi làm trung gian giao dịch để sinh sống.
    6. Chánh Tinh Tấn:

    Siêng năng tu học, làm những việc chân chính có lợi cho mình và cho người:

    • Thấy mình có tội ác siêng năng sám hối trừ bỏ.
    • Tội ác và lỗi lầm chưa sanh, siêng năng tu tập các pháp lành để giữ gìn ngăn đón.
    • Thấy mình chưa có phước nghiệp, siêng năng và cố gắng đào tạo phước nghiệp.
    • Đã có phước nghiệp, siêng năng tu trì để tiến triển thêm lên.

    Trái với Chánh Tinh Tấn là Tà Tinh Tấn như siêng đi bài bạc, rượu chè ……

    • Siêng năng đi sát hại.
    • Siêng năng gian xảo trộm cắp.
    • Siêng năng đàng điếm.
    • Siêng năng dối trá, hiểm độc, xuyên tạc và dua nịnh.
    • Siêng năng rượu chè, cờ bạc, ca kỹ.
    7. Chánh Niệm:

    Nhớ nghĩ Chân Chánh. Có hai thứ nhớ nghĩ: Chánh Ức Niệm là nhớ nghĩ đến cảnh quá khứ; Chánh quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và sắp đặt, tưởng tượng cảnh tương lai.

    * Ức niệm có 2:
    a. Ức niệm chân chính:
    • Nhớ ơn cha mẹ, thầy tổ để báo đáp.
    • Nhớ ơn nước nhà để phụng sự sáng suốt.
    • Nhớ ơn chúng sanh giúp dỡ để đền trả.
    • Nhớ ơn Tam bảo để tu hành.
    • Nhớ lỗi lầm xưa để sám hối lại mà cải đỏi.
    b.Ức niệm không chân chính:
    • Nhớ lại khuyết điểm của người để phê bình chế diễu.
    • Nhớ lại oán hận cũ để phục thù.
    • Nhớ lại dục cảnh xưa để hoan lạc, thỏa thích và bồi trợ dục tâm.
    • Nhớ lại hành động xảo trá và tàn bạo vừa qua để hảnh diện, tự đắc.
    * Quán niệm có 2:
    a. Quán niệm chân chính:
    • Quán niệm từ bi: cảnh đời tật bệnh, khổ, cô quả và tối tăm của chúng sanh, trong hiện tại và cả tương lai vô số tai nạn xảy ra, sanh tâm thương xót, giúp đỡ và tìm phương đề phòng che chỡ.
    • Quán niệm trí tuệ: nguyên nhân sanh hóa của vũ trụ vạn vật, hữu tình, vô tình oán thân, tốt, xấu v.v….để tu và khuyến giáo được rõ ràng, thuận lợi, giải thoát.
    b. Quán niệm không chân chánh:
    • Nhớ nghĩ tài sản, danh vọng.
    • Nhớ nghĩ phương tiện sát hại.
    • Nhớ nghĩ độc kế, thâm mưu.
    • Nhớ nghĩ văn từ xảo trá.
    • Nhớ nghĩ cao lương mỹ vị.
    8. Chánh Định:
    Tu đúng theo giáo pháp Phật dạy, phải thọ giáo với minh sư:
    • Bất tịnh quán: quán sát các pháp không thanh tịnh để trừ tham dục si ái,...
    • Từ bi quán: quán sát tất cả hữu tình chúng sanh đồng một chân tâm bình đẳng, không khác, để tăng trưởng kính tâm và thương xót cứu độ đoạn trừ tâm hận thù.
    • Nhân duyên quán: quán sát tất cả các pháp hữu hình như sự vật, vô hình như tâm niệm, lớn như núi sông, nhỏ như vi trần nếu có một pháp riêng đều là giả hợp duyên sanh không chân thật, trường tồn, để đoạn trừ ngu si, thiên chấp.
    • Giới phân biệt quán: phân biệt và quán sát sự giả lập của 18 giới (6 căn + 6 trần + 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp, mục đích trừ ngã chấp và phá chấp.
    • Sổ tức quán: quán hơi thở ra vào để đối trị với tâm tán động, ly loạn.
    Trái với Chánh định là Tà định:
    • Tu diệt tận định (diệt hết 7 hiện hành của thức) cầu chứng quả Niết bàn giả danh.
    • Tu Vô tưởng định (diệt hết hiện hành của 6 thức trước) cầu an vui các cõi trời ngoại đạo.
    • Tu thuyền định để luyện đơn, vận khí... cầu thần thông, trường sanh, pháp lạ, tu, tiên ngoại đạo.
    C. SUY NGHIỆM:

    Bát Chánh đạo là pháp môn chính yếu được Đức Thế Tôn nhắc nhở đến nhiều nhất trong các kinh, trong thuyết Tứ Đế, Bát Chánh đạo là phần căn bản của Đạo đế. Đặt tính của Bát Chánh đạo là quy định những nguyên tắc phổ quát cho mọi tầng lớp dân chúng và nó phù hợp căn cơ của mọi người, mọi thời đại, phương sở. Trong Bát Chánh đạo đã bao quát hết tất cả mọi pháp khác bao gồm ba nguyên tắc căn bản Giới, Định, Tuệ: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thuộc về Giới. Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định và Chánh Kiến, Chánh Tư Duy thuộc về Tuệ.

    Ngoài ra Bát Chánh đạo còn vượt lên trên những ước thúc của giới luật, nhằm phát huy mọi diệu dụng, theo với mọi phương tiện sinh họat để vươn thẳng tới chủ đích giải thoát. Vì vậy mà Bát Chánh đạo trở thành một pháp môn thực tiển có thể thực hành trong hoàn cảnh xã hội của thời đại chúng ta hiện nay.

    D. ỨNG DỤNG VÀTU TẬP:

    Thấy rằng thực hành Bát Chánh Đạo là cải thiện tự thân và từ đó cải thiện xã hội để thực hiện lý tưởng Gia Đình Phật Tử nên em quyết tâm thực hành pháp tu này.

    Trước hết thực hành trong từng lời nói, ý nghĩ và hành động của mình. Đắn đo trước khi nói, kiểm soát từng ý nghĩ coi thử đã chánh chưa? Hễ thấy tà một chút, ngụy một chút thì phải nghiêm khắc kiểm soát mình, tự phê bình và thành tâm sám hối. Việc làm này không phải mỗi ngày 1, 2 lần mà phải gần như luôn luôn. Nguyện luôn luôn giữ gìn Chánh Niệm, luôn luôn tỉnh thức để biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì… những ý nghĩ, lời nói, hành động ấy có đúng chánh pháp chưa?

    Khi vào đời, áp dụng Bát Chánh Đạo vào bình diện lớn là chính cuộc sống của bản thân mình. Từ nghề nghiệp, cách xử thế, cách chọn bạn… đã đi vào 8 con đường chân chánh chưa? Chỗ nào chưa phải chỉnh lại, nếu không, sai một ly sẽ đi một dặm, ảnh hưởng tới sự tu học hướng thượng của mình.

    Thực hành Bát Chánh đạo để cải tạo tự thân, làm nhân địa để cải tạo hoàn cảnh xã hội, thực hiện lý tưởng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

    Câu hỏi

    • Định nghĩa Bát Chánh Đạo và nói nội dung?
    • Trong Bát Chánh Đạo, “Chánh” nào là quan trọng và can thiết nhất? Tại sao?
    • Tại sao nói Bát Chánh Đạo là pháp môn tu dựa trên cơ sở Giới, Định, Tuệ?
    • Tại sao thực hành Bát Chánh Đạo thì có thể cải thiện tự thân và hoàn cảnh xã hội nữa?
    • Em có nghe: “Bát Thánh Đạo” không? Có phải nội dung như Bát Chánh Đạo ta đang học ở đây? Nhưng tại sao gọi là “Bát Thánh Đạo”?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  5. 5Tứ Chánh cần
    Hình minh họa: Tứ chánh cần
    A. GIỚI THIỆU:

    Hơn ai hết Đức Thế Tôn hiểu rõ sự quan trọng của sự tinh tấn, nên đã dạy bảo chúng ta trước khi đi sâu vào Đạo, phải chuẩn bị những phương tiện cần thiết, phải tỏ rõ một thái độ quyết tâm: Quyết tâm xa lánh điều dữ và thực hiện những điều lành. Đó chính là ý nghĩa của “Tứ Chánh Cần” một chi phần trong 7 chi phần của 37 phẩm trợ đạo thuộc phần Đạo đế của thuyết Tứ Diệu Đế mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho 5 anh em Kiều Trần Như trong bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài Thành đạo.

    B. NỘI DUNG:
    I. XUẤT XỨ VÀ VỊ TRÍ CỦA TỨ CHÁNH CẦN TRONG GIÁO PHÁP NHƯ LAI:

    Tứ Chánh Cần là chi phần thứ 2 trong 37 phẩm trợ đạo, ngoài ra Tứ Chánh cần còn là chi phần chính trong Bát Chánh Đạo đó chính là Chánh Tinh Tấn; đồng thời Tứ Chánh Cần đều có sự liên hệ mật thiết với các phần còn lại trong 37 phẩm trợ đạo như: Định trong Tứ Như Ý Túc; Tấn căn, Tấn Lực trong Ngũ Căn, Ngũ Lực; Tinh Tấn trong Thất Giác Chi.

    II. HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ CHÁNH CẦN:

    Tứ Chánh Cần là bốn sự nỗ lực tinh tấn trong tu tập hợp với chánh đạo:

    1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh

    2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh.

    3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh

    4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

    C. SUY NGHIỆM:

    Tứ Chánh Cần quả là sức mạnh của sự tu tập giải thoát. Đó là đức tính cần yếu nhất để thành tựu mọi hạnh lành cũng như mọi đức tính khác.

    Em cần quán chiếu, chiêm nghiệm tới lời dạy của đức Thế Tôn: Như sông Hằng chảy xuôi về Phương Đông, Tứ Chánh Cần được tu tập sung mãn sẽ xuôi về Niết Bàn. Rõ ràng Tứ Chánh Cần đưa hành giả đi nhanh đến giải thoát.

    Tứ Chánh Cần là bài học về hành động, thực tu. Thực hành Tứ Chánh Cần là đem lại sự an lạc và thanh thản ngay trong cuộc sống này.

    D. THỰC HÀNH:

    Đã nhận thấy vai trò quan trọng và chủ yếu trong sự tu tập, em quyết định thực hành bốn sự nỗ lực tinh cần này, không giãi đãi, biếng nhác.

    • Luôn luôn tỉnh thức trong từng sát na, lấy ngũ giới làm hàng rào ngăn chặn để giữ gìn thân khẩu ý không cho móng khởi phát sinh những ác niệm.
    • Lấy giáo lý “Nhân quả – Nghiệp báo” làm tấm gương soi rọi để đọan tận những ác nghiệp đã phát sinh và sám hối chân thành những vi phạm đã xảy ra.
    • Luôn luôn quán niệm về vô thường để siêng năng làm việc thiện. Thân người khó được mà dễ mất, ta sẽ không đủ hành trang để đi đến bờ giải thoát. Nếu không siêng tạo nghiệp thiện, mà cứ hẹn rày hẹn mai, liệu cái bệnh, cái chết có chờ cho ta không?
    • Luôn luôn tự khích lệ mình tiến lên trên bước đường tu học, vững tin ở chánh Pháp, ở Tam Bảo, ở chính mình, làm tăng trưởng mọi thiện Pháp đã sinh.
    Câu hỏi:

    1. Tứ Chánh Cần là gì? 2. Vị trí của Tứ Chánh Cần trong 37 phẩm trợ đạo? 3. Hãy giải thích câu: Tu tập Tứ Chánh Cần là làm tất cả thiện Pháp, tránh tất cả các ác Pháp, và giữ gìn tâm ý thanh tịnh? 4. Có người nói: “Địa Ngục chứa đầy những người có ý tốt”. Em hiểu câu ấy như thế nào? Áp dụng Tứ Chánh Cần để nói lên sức mạnh của sự tu tập giải thoát là ở chỗ nào? 5. Áp dụng Tứ Chánh Cần trong cuộc sống hằng ngày như thế nào?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  6. 6Ý nghĩa và giá trị của nghi lễ
    Hình minh họa: Ý nghĩa và giá trị của nghi lễ
    A. GIỚI THIỆU:

    Nghi lễ là một pháp môn hay phương tiện dẫn dắt đời sống tinh thần con người đạt đến nguồn chánh tín cứu cánh, hoằng hoá lợi sanh để đưa con người vào Đạo một cách dễ dàng.

    B. NỘI DUNG:
    I. ĐỊNH NGHĨA:

    * Nghi: là những phương thức biểu lộ sự cung kính một cách trang nghiêm đối với Tam bảo hay để truy tiến báo ân đối với các đấng cao cả mà mình tôn thờ.

    * Lễ: là một hình thức sinh họat truyền thống có giá trị tâm linh nhằm đánh dấu những thời điểm quan trọng trong cuộc đời tu tập và sinh hoạt của một Đoàn sinh và Huynh trưởng trong tổ chức.

    Tóm lại: Nghi lễ là chỉ chung cho nghi thức tụng niệm, cũng như phương thức hành lễ sinh hoạt trong phạm vi tín ngưỡng của một tôn giáo.

    II. GIÁ TRỊ VÀ MỤC ĐÍCH:

    Bất cứ một tôn giáo nào cũng phải có những hình thức nghi lễ để tiêu biểu tinh thần đạo vị của mình, mặc dù trên hình thức âm điệu của mỗi đạo giáo có phần sai khác nhưng mục đích vẫn là chí thành cầu nguyện, tán thán vị giáo chủ mà mình đã quy ngưỡng tôn thờ.

    Đạo Phật không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ, nhưng là bước đầu của quy hướng, nhờ có nghi lễ mà đưa người vào Đạo một cách dễ dàng.

    Vậy nghi lễ là một pháp môn hoằng đạo rất đắc lực, do pháp môn này nhiên hậu chúng ta lần lượt đưa con người vào chỗ hiểu đúng giá trị cao siêu, lợi ích rộng lớn của Đạo Phật.

    III. PHƯƠNG TIỆN HỖ TƯƠNG TRONG NGHI LỄ:

    Mỗi khi hành lễ, muốn được hoà điệu âm thanh nhịp nhàng, tăng phần trang nghiêm cảm ứng, đưa người trở về trong tâm thức của ý nghĩa “Đạo Giáo nan tư nghì”. Đó là sự giao cảm thiêng liêng giữa chúng sanh và chư Phật. Chúng ta cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hỗ tương trong những khoá lễ như Đại hồng chung, chuông mỏ, khánh, linh. v.v..

    IV. TƯ CÁCH CỦA NGƯỜI HÀNH LỄ VÀ KHI HÀNH LỄ:
    1. Người chủ lễ và đại chúng:

    Phải thành kính trong khi hành lễ, THÀNH và KÍNH là hai yếu tố cần phải có trong một buổi lễ. Phải thận trọng trong cử chỉ và hành động, tâm phải chuyên chú hướng lên chân dung đức Phật, để tạo sự trang nghiêm trong đạo tràng, mới không làm mọi người chung quanh tán loạn và mất tín tâm.

    2. Nghi thức hành lễ đúng quy định:

    Gia Đình Phật Tử áp dụng nghi lễ thống nhất, do đó chúng ta phải theo đúng nghi thức mà Ban Hướng Dẫn Trung Ương đã quy định, tuỳ theo buổi lễ. Không xáo trộn và thêm bớt những bài tán tụng không đúng quy định hoặc không nói lên tinh thần của buổi lễ. Dù là một buổi lễ đơn giản, điều cần thiết là phải nói lên được tinh thần buổi lễ và tín tâm chí thành của mọi người chung quanh.

    V. NHỮNG HÌNH THỨC NGHI LỄ CẦN BIẾT:

    Hình thức nghi lễ đối với Phật Giáo rất nhiều, nhưng có thể tóm lược và quy định trong những hình thức như sau:

    1. Trang trí thờ Phật:

    Mục đích trang trí thờ Phật là để kính ngưỡng. Đức Phật là hình ảnh nhiếp thiện. Người Phật Tử thờ Phật là để tri ân và noi gương sáng của Ngài. Không nên quan niệm thờ Phật là để ỷ lại thần quyền ban ơn giáng hoạ, để cầu cạnh van xin trái với chánh Pháp. Cho nên chỉ thờ Phật và các vị Bồ Tát đầy đủ đức tướng từ bi, hỷ xả, không thờ những hình tượng thánh thần mông lung vô ý nghĩa. Tôn trí bàn thờ nơi trang nghiêm. Tại tư gia nên thờ ở căn giữa, người Phật tử còn phải thờ ông bà cha mẹ. (Tiền Phật hậu linh) với quan niệm tri ân báo hiếu, Pháp khí thờ tự đơn giản, tránh hình thức lố lăng.

    2. Sự cúng kính:

    Thờ Phật tất phải có cúng dường Phật là để tỏ lòng thành chứ không phải để cầu đảo van xin ban phước. Vì thế sự cúng kính cần phải chí thành và lễ phẩm cốt đơn giản, thanh khiết. Sự dâng lễ cúng dường gồm có 3 phần:

    * Lễ phục: Y phục sạch sẽ trang nghiêm với tâm hướng thiện để tỏ lòng thành kính khi đối trước Tam Bảo (giữ trong sạch từ thể chất đến tinh thần). Lễ phục cốt trang nghiêm để tỏ lòng thành kính. Không nên dùng lễ phục hoa hoè, màu sắc rực rỡ. Nếu không có áo tràng có thể dùng y phục Á Đông. Riêng Gia Đình Phật Tử, vì để được đồng phục và phù hợp với tuổi trẻ nên có thể mặc đồng phục GĐPT tượng trưng cho y phục lễ.

    * Lễ phẩm: Gồm hương, hoa, tịnh thuỷ, trái cây tươi tốt để cúng dường chủ yếu là ở chất lượng nơi lễ phẩm cúng dường với lòng thành, dâng cúng không nhất thiết phải có đa mâm, đa lễ như trong kinh đã dạy (Hương hoa tịnh thuỷ biến sái Tam Thiên).

    * Lễ nhạc: Sử dụng các thứ Pháp khí và âm nhạc là để cúng dường, mục đích nhạc lễ là để nương theo âm điệu hoà với tiếng kinh để nhiếp tâm chánh niệm và nhất tâm. Không nên tạp âm thanh quá náo nhiệt ồn ào gây nên loạn tâm và mất thanh tịnh, trang nghiêm của buổi lễ.

    VI. NHỮNG NGHI THỨC VÀ LỄ LƯỢC HIỆN NAY GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ĐANG ÁP DỤNG:

    1. Nghi thức:

    Gồm có 07

    • Nghi Tinh độ
    • Nghi Cầu Siêu
    • Nghi Cầu An
    • Nghi Khánh Đản
    • Nghi Vu Lan
    • Nghi Thành Đạo
    • Nghi Phổ thông.
    2. Lễ lược:
    • Lễ sinh nhật Đội, Chúng, Đàn và Đoàn: Kỹ niệm ngày thành lập.
    • Lễ Chu niên: Kỹ niệm ngày thành lập cấp Đơn vị Gia đình trở lên.
    • Lễ Phát nguyện: kết nạp Đoàn sinh để công nhận là Đoàn sinh chính thức của GĐPT Việt Nam.
    • Lễ Lên Đoàn: Từ oanh vũ lên ngành Thiếu và từ ngành Thiếu lên ngành Thanh.
    • Lễ gắn cấp hiệu bậc học cho Đoàn sinh: sau khi có quyết định trúng cách bậc học.
    • Lễ Thọ cấp cho Huynh trưởng.
    • Lễ Truyền Đăng: Tổ chức cho các Trại Huấn luyện trước khi bế mạc trại.
    C. KẾT LUẬN:

    Nói tóm lại, chúng ta là Phật tử, lại là một Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử thì chúng ta phải luôn luôn tinh tấn tụng niệm để sám hối, cầu an, cầu siêu với mục đích cuối cùng là hướng dẫn con người trở về cảnh giới an vui giải thoát. Do đó học và hiểu rõ ý nghĩa giá trị nghi lễ, để áp dụng đúng với ý nghĩa của nó, ngoài ra còn phải hiểu rõ được các nghi thức cũng như lễ lược đặc thù của tổ chức Gia Đình Phật Tử tức là đã áp dụng một phương tiện tốt đẹp cho công việc tu dưỡng bản thân, và cảm hoá mọi người, đưa mọi người vào đạo một cách tốt đẹp, cũng như làm cho tổ chức ngày một thăng tiến.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  7. 7Kinh Báo Hiếu
    Hình minh họa: Kinh báo hiếu
    A. GIỚI THIỆU:

    Nhân một buổi đi hoằng hoá của Đức Thế Tôn và các đại chúng, đoàn người dừng lại trước một đống xương khô chất cao như núi, Đức Thế Tôn sụp xuống lạy, tôn giả A-Nan hỏi nguyên nhân Phật lạy đống xương này. Phật giải thích: lạy đây là lạy ông, bà, cha, mẹ, các thân trước của ngài, A-Nan và toàn thể đại chúng xúc động mãnh liệt trước lòng hiếu thảo ấy và xin Phật dạy cách nào báo đáp ân sâu của cha, mẹ. Phật đồng ý thuyết giảng kinh và dặn lấy tên kinh là “ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN KINH” (Kinh báo đáp ân nặng của cha mẹ).

    B. NỘI DUNG:

    Nội dung Phật dạy về ân đức của cha mẹ, từ khi mới mang thai đến con trưởng thành … và cách báo đáp. Có mấy nội dung chính sau.

    1. Sự hình thành của thai nhi, tuần tự trong 9 tháng khi nằm trong bụng mẹ:

    • Tháng thứ nhất: như hạt sương.
    • Tháng thứ hai: như giọt sữa đặc
    • Tháng thứ ba: là giọt máu đông đặc.
    • Tháng thứ tư: bắt đầu tượng hình người.
    • Tháng thứ năm: chân tay đầu óc đầy đủ.
    • Tháng thứ sáu: đủ sáu căn.
    • Tháng thứ bảy: 360 đốt xương, 84 ngàn chân lông.
    • Tháng thứ tám: phủ tạng, ý chí + 9 khiếu.
    • Tháng thứ chín: trọn đủ chuẩn bị ra đời

    2. Nếu là con hiếu nghĩa ra êm xuôi, không làm đau mẹ, nếu là con bạc nghĩa sinh ngược phải mổ xẻ.

    3. Mười ân của từ mẫu phải lo báo đáp:
    • Mang nặng hơn 9 tháng.
    • Đau đớn tột cùng lúc gần sinh.
    • Khi sinh, sống chết khó lường.
    • Ăn đắng nhả ngọt.
    • Chịu ướt, nhường khô.
    • Bú mớm, nuôi nấng.
    • Tắm gội giặt giũ.
    • Đi xa lòng mẹ nhớ thương.
    • Tạo bao ác nghiệp do thương con.
    • Trọn đời yêu thương con dù con có lớn khôn đến bao nhiêu …
    4. Những điều bất hiếu của đứa con:
    • Khi đang còn trong gia đình: cãi lẩy hung hăng …
    • Khi đã có gia đình riêng: chỉ lo cho gia đình riêng mình, nghe vợ hoặc chồng con cháu riêng mình, mà xúc phạm đến cha mẹ.
    5. Cách báo ân:

    Phật dạy “Dù làm thân trâu ngựa trong nhiều kiếp cũng không xứng được với ân của cha mẹ”. Cách báo ân hữu hiệu nhất là:

    • Chép sao kinh Báo ân phổ biến cho nhiều người xem, đọc tụng.
    • Bản thân cũng đọc tụng để ghi nhớ ân sâu của cha, mẹ.
    • Sám hối, làm chay, hồi hướng công đức cầu siêu cho cha mẹ bảy đời của mình.
    • Cúng dường tam bảo.
    • Giữ giới, bố thí, làm mọi điều lành.
    6. Tội bất hiếu:

    Phải đoạ Địa ngục A-Tỳ, chịu muôn ngàn đau khổ. Cho nên Phật dạy: “Trong tất cả các tội, tội bất hiếu là lớn nhất, trong tất cả các hạnh, hạnh hiếu thảo là cao nhất”.

    C. SUY NGHIỆM:

    Cũng như đại chúng, khi Phật còn tại thế, em xúc động mãnh liệt thật sự khi đọc kinh báo hiếu. Em suy nghiệm lời Phật dạy và ngày càng thấm thía, hơn cả thiên kinh vạn quyển sách thế gian nói về ơn cha mẹ. Cái khác biệt nữa là, em biết không phải em chỉ có cha mẹ, các anh, chị, các em … của em cũng có thể là cha mẹ trong một kiếp nào đó của em.

    Từ đó em sinh lòng biết ơn mọi người, muốn làm điều lành để báo ơn họ.

    Những người con bất hiếu như chửi cha mắng me, khi cha mẹ trăm tuổi rồi, không tìm lại được nữa, bấy giờ người ấy sẽ đau khổ tận cùng, khi nghĩ lại những điêu không phải của mình. Đó phải chăng là Địa ngục A-Tỳ ngay tại đây!

    D. THỰC HÀNH

    Bài học cho em nhiều điều thú vị: Phật nhãn quá siêu phàm, cách đây hơn 2500 năm Thế Tôn đã thấy những điều mà khoa học ngày nay phải dùng đến những phương tiện, kỹ thuật thiện xảo mới thấy được. (thai nhi trong bụng mẹ).

    Em vô cùng ngưỡng mộ Đức Phật, nguyện làm theo lời ngài dạy:
    • Nguyện không quên ơn ai, dù họ làm cho mình mọi việc tốt nhỏ và xem mọi người như là cha mẹ của mình trong nhiều kiếp.
    • Với song thân hiện tại, nguyện ghi nhớ thâm ân, báo đáp bằng cách tu thân và khuyên cha mẹ quy y tam bảo (nếu chưa).
    • Không bao giờ phủ nhận công ơn sinh thành bằng cách nghĩ rằng: “Tôi ra đời không do tôi muốn mà do ông bà muốn sinh tôi”. Chớ nói tới câu nói vô ơn bạc nghĩa đáng đọa Địa ngục A-Tỳ ấy.
    • Mở rộng lòng thương đến muôn loài, vì biết đâu một kiếp nào đó, mình ở loài súc sinh: con mèo, con chó mình đang nuôi đây đã từng là cha, là mẹ mình … Từ đây trong em phát khởi lòng khiêm cung đối với tất cả, không mắng nhiệt ai, hạ nhục ai …
    • Em nguyện không sao lãng việc báo hiếu trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động của em.
    Câu hỏi:
    • Nguyên nhân Phật nói kinh báo hiếu?
    • Em hãy kể những điều bất hiếu mà con cái vấp phải khi còn ở trong gia đình với cha mẹ và anh chị em?
    • Em hãy kể một mẫu chuyện tiền thân hay một mẫu chuyện Đạo, trong đó người con hiếu thảo đã róc thịt, móc mắt… để báo ân cha mẹ?
    • Em có phải là người con hiếu không? Cụ thể em đã làm gì để báo trọng ân của cha mẹ?
    • Hãy kể chuyện Bồ tát Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ là bà Thanh Đề, và nói ý nghĩa của câu chuyện ấy?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  8. 8Ngài Khuông Việt
    Hình minh họa: Ngài Khuông Việt
    I. TIỂU SỬ:

    Ngài họ Ngô, quê ở làng Cát Lợi, huyện Thường Lạc, là hậu duệ của Ngô Thuận Đế. Sinh năm 930, lúc mới xuất gia có pháp danh là Chân Lưu. Tướng mạo khôi ngô, thuở nhỏ theo nho học, lớn lên theo bạn là Trú Trì đến thọ giới cụ túc với ngài Vân Phong (950 – 956) ở chùa Khai Quốc thuộc dòng Thiền Kiến Sơ. Tinh thông kinh điển. Năm 40 tuổi tiếng vang của Ngài đã đến kinh thành, Ngài được vua Đinh Tiên Hoàng mời vào hỏi Đạo, rồi phong chức Tăng Thống (969 -970). Đến năm Thái Bình thứ 2 (971) được phong là Khuông Việt Đại Sư (cùng thời điểm phong tước hiệu cho các quan lại có công lớn cùng nhà Vua dựng nước). Đến đời Vua Lê Đại Hành, Ngài vẫn rất được nhà Vua kính trọng, được mời vào cung cùng lo việc nước.

    Năm 980, khi quân Tống sang xâm lấn ải quan. Theo lệnh Vua, Ngài lập đàn kỳ nguyện tại đền thờ Tỳ Sơn Môn Thiền Vương. (Vị Thần báo mộng ủy thác cho ngài việc bảo hộ cương giới, truyền bá Phật pháp). Trời đổ mưa to, sông dậy sóng cả, nghiêng đổ về phía quân Tống, giặc hoảng sợ lui quân, thì gió mưa ngưng, mặt sông phẳng lặng.

    Năm 986 và 987, Khuông Việt cùng với Thiền sư Pháp Thuận tiếp phái bộ nhà Tống là Nguyễn Giác (tức Lý Giác) sang giảng hòa, được sứ giả khâm phục làm bài thơ tán dương trong đó có hai câu:

    “Ngoài trời còn có trời soi rạng

    Sóng lặng khe đầm trăng ngắm thu”

    Vào những năm cuối của triều Lê Đại Hành (1000 –?) Đại sư đã rời nhiệm vụ Tăng thống và những chính sự khác trở về mở trường ở chùa Thanh Tước núi Du Hý quận Thường Lạc (“học trò tìm tới đông đảo”) và cũng không quên ngôi chùa lịch sử của Thầy nên cũng thường lui tới giảng dạy ở trường giảng của chùa Khai Quốc.

    Ngày 15 tháng 02 niên hiệu Thuận Thiên (1011) Ngài gọi Đa Bảo Thiền Sư đến truyền:

    “Mộc trung nguyên hữu hỏa

    Nguyên hỏa, hỏa hoàn sanh

    Nhược vị mộc vô hỏa

    Toản toại hà do manh”

    (Trong cây vốn có lửa

    Có lửa, lửa mới bừng

    Nếu bảo vốn không lửa

    Cọ xát do đâu bùng)

    Đọc bài kệ xong, Ngài ngồi kiết giả mà tịch, hưởng thọ 82 tuổi.

    II. NHẬN ĐỊNH:
    • Trong thời phong kiến Việt Nam ở giai đoạn đầu, các Tăng sĩ thường là những người thông hiểu kinh sách, kiến thức rộng, được Vua tin cậy, giao việc tiếp các sứ thần cũng như hỏi han việc nước.
    • Với một tước phong là Khuông Việt đại sư (có nghĩa là nhà sư giúp đở nước Việt) cùng lúc với những người có công lớn cùng nhà Vua dựng nên nghiệp lớn là một tước phong mang màu sắc chính trị vượt ra ngoài chức năng của một Thiền sư, chứng tỏ Ngài là một người có uy tín lớn trong tăng tín đồ Phật giáo cũng như những người đã từng phò tá Ngô Quyền cũng như gia đình bà con họ Ngô nắm giữ (hậu duệ của Ngô Thuận Đế – tước phong của cha Ngô Quyền), nhằm mục đích thể hiện tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cũng như nhằm tạo sự ổn định chính trị cho đất nước trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.
    • Với chức vị Tăng thống (người đứng đầu của Phật giáo) cho chúng ta thấy rằng Phật giáo ngay từ thời Đinh Tiên Hoàng đã được tổ chức thành một Giáo hội Phật giáo thống nhất có hệ thống cho cả nước mà đứng đầu là Ngài Khuông Việt.
    • Việc lập đàn cầu đảo nhằm ngăn chặn quân địch, minh chứng cho chúng ta thấy rằng thời điểm lịch sử Phật giáo thời bấy giờ là thời đại của tư tưởng Phật giáo quyền năng, mà với sự uyên thâm giáo lý Phật đà của Thn sư lúc bấy giờ, chúng ta có thế lý giải rằng Ngài đã thực hiện tinh thần Thế gian pháp bằng cách kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa Thiền và Mật nhằm thực hiện tinh thần khế lý và khế cơ của đức Phật.
    • Qua việc phục vụ 2 triều đại Đinh và Tiền Lê cũng như bài kệ trước khi thị tịch truyền tâm cho đệ tử là Đa Bảo thiền sư, đã chứng minh cho hậu thế thấy rõ Ngài là một Thiền sư xuất chúng ngoài việc làm sáng danh của dân tộc nhằm chận đứng sự cao ngạo của kẻ thù qua mặt ngoại giao (tiếp đón sứ bộ Tàu) cũng như góp phần vào việc chiến thắng đoàn quân xâm lược của Hầu Nhân Bảo (981), Ngài còn là một nhà sư uyên thâm giáo nghĩa Phật đà mà chỉ một bài kệ thôi đã nói lên được năng lực Phật tánh nơi chúng sanh, làm sao cho nó chói sáng là do công năng tu lập của mỗi người để minh thị cho đệ tử trước khi viên tịch về triết lý hành động khi nhập thế là đặt nghĩa lớn của dân tộc và đạo pháp lên trên quyền lợi nhỏ nhen của cá nhân và dòng họ, dù con người hay dòng họ đó đã đối xử hết sức tốt đẹp, hết sức trung hậu với mình.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  9. 9Ngài Vạn Hạnh
    Hình minh họa: Ngài Vạn Hạnh
    A. THÂN THẾ VÀ NHỮNG GIAI THOẠI VÂY QUANH NGÀI:
    1. Thân thế:

    Thiền sư Vạn Hạnh là vị cao tăng đời thứ 12 thiền phái Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi. Thiền sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ thuở nhỏ đã thông minh khác thường, tinh thông cả Nho, Lão, Phật, nghiên cứu hàng trăm bộ kinh luận Phật giáo, không ham danh lợi, không trọng giàu sang. Năm 21 tuổi xuất gia, học với thiền sư Thiền Ông chùa Lục Tổ, chuyên cần tinh tấn, đạo hạnh cao dày, lại rất giỏi về sấm vĩ và phong thủy, được thiên hạ tin tưởng là bậc tiên tri. Thiền sư là thầy dạy học cho cả vua Lê Đại Hành và Lý Thái Tổ không những dạy về văn chương chữ nghĩa mà còn dạy cả đạo lý Phật đà, đã giúp đỡ rất nhiều cho vua Lê Đại Hành trong các việc cai trị cũng như quân quốc đại sự. Khi nhận biết đế nghiệp nhà Tiền Lê đã đến hồi mạt vận, thiền sư đã khéo léo vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, chấm dứt thời kì tối tăm đầy đau khổ của dân tộc dưới triều vua Lê Long Đĩnh tàn ác, dâm loạn, đồng thời ngăn chận được những biến loạn nguy hiểm sau khi vua Lê Long Đĩnh băng hà. Vua Lý Thái Tổ lên ngôi, mở ra triều đại nhà Lý, phong cho thiền sư làm quốc sư. Nhân cơ hội này, thiền sư đã đem hết khả năng và tinh thần “dung hợp Nho – Lão – Phật” của mình để giúp vua trị quốc an dân, đúng với tư cách của một vị lãnh đạo không những về tâm linh, mà còn về hành động giúp dân an cư lạc nghiệp. Thiền sư tịch vào ngày rằm tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 16 (1025).

    Trước khi tịch nói bài kệ:

    “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

    Vạn môc xuân vinh thu hựu khô,

    Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

    Thinh suy như lộ thảo đầu phô”

    Dịch:

    “Thân như bóng chớp chiều tà,

    Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời

    Sá chi suy thạnh việc đời,

    Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành”

    Với công lao đóng góp to lớn của Ngài vì sự hưng thịnh và độc lập của quốc gia, Ngài được vua Lý Nhân Tôn tán dương qua bài truy tán:

    “Vạn Hạnh dung tam tế

    Chơn phù cổ sấm thi

    Hương quan danh Cổ pháp

    Trụ tích trấn vương ky”

    Dịch:

    “Thuyền sư học rộng bao la

    Giử mình hợp pháp sấm ra ngoài lời

    Quê hương Cổ pháp danh ngời

    Gậy Phật đứng vững muôn đời đế đô”

    2. Những giai thoại vây quanh cuộc đời Thiền sư:

    Ngoài bài thơ tán dương của vua Lý Nhân Tôn sau khi Ngài tịch được lưu truyền hậu thế để nói lên công đức của Ngài đối với Dân tộc và Đạo pháp, còn có những giai thoại sau:

    • Truyện Cây gạo ở Hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp bị sét đánh lộ bài thơ (Đại Việt Sử ký toàn thư):

    Thọ căn diễu diễu

    Mộc biểu thanh thanh

    Hoa đào mộc lạc

    Thập bát tử thành

    Đông A nhập địa

    Dị mộc tái sinh

    Chấn cung kiến nhật

    Đoài cung ấn tinh

    Lục thất niên gian

    Thiên hạ thái bình

    Dịch:

    Gốc cây thăm thẳm

    Ngọn cây xanh xanh

    Cây Hòa đao rụng

    Mười tám hạt thành

    Cành đông xuống đất

    Cây khác lại sinh

    Đông mặt trời mọc

    Tây sao náu mình

    Khoảng sáu bảy năm

    Thiên hạ thái bình.

    • Truyện Lê Long Đỉnh ăn trái khế thấy hột mận (Chữ Lý nghĩa là cây Mận).
    • Tuổi thơ Lý Công Uẩn làm con nuôi Lý Công Uẩn hồi còn 3 tuổi theo học chùa Lục Tổ (Cổ Pháp).
    • Truyện Chó Trắng: Trước khi Lý Công Uẩn sinh ra ở Viên cảm, truyền chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con lông trắng, có đốm đen thành 2 chữ “Thiên Tử”, kẻ thức giả nói năm Tuất sẽ sinh người làm Thiên tử (điều này ứng với Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất).
    • Giai thoại viễn du thiên lý.
    • Vạn Hạnh nói với Lý Công Uẩn: “Mới rồi tôi trông thấy lời phú sấm kỳ lạ, biết rằng họ Lý cường tịnh, tất dấy lên cơ nghiệp, nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại nắm binh quyền, đứng đầu muôn dân chẳng phải là Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa, tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thái hãy chết, để xem đức hóa công như thế nào, thực là cái hay nghìn năm không có một”.
    • Vạn Hạnh nói với tướng Đào Cam Mộc: “Thân vệ là người khoan thứ nhân từ, lòng người chịu theo, hiện nay trăm họ, mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp có ai ngăn được”.
    B. HÀNH TRẠNG CỦA THIỀN SƯ VẠN HẠNH:
    1. Công dạy Lý Công Uẩn:

    Trong ý niệm muốn chuyển hóa một xã hội Việt Nam bạo trị sang một chế độ xã hội Việt Nam đức trị, biến một quốc gia Việt Nam đang suy vi thành một quốc gia Việt Nam phú cường, hưng thịnh. Thiền sư Vạn Hạnh đã ra tay hành động, không phải vì Phật giáo (vì qua ba chế độ độc lập Ngô, Đinh, Lê thì Phật giáo đã là quốc giáo), Và trong âm thầm, kiên trì chuẩn bị cho cuộc vận động cách mạng 1009, thiền sư đã chuẩn bị rất nhiều tâm huyết trong hàng chục năm để trang bị cho Lý Công Uẩn một nền giáo dục toàn bích, kết hợp dân tộc tính, Phật giáo tính, thời đại tính, đồng thời lại có bách khoa tính, thực dụng tính và lãnh đạo tính, biến cậu bé khôi ngô tuấn tú, thông minh khác thường thành một người tài đức vẹn toàn, một công dân gương mẫu, một vị tướng trung dũng, đồng thời thấm nhuần chánh pháp để có thể trở thành một vị quân vương bồ tát, trị quốc an dân theo chánh pháp.

    2. Xây dựng triều đại nhà Lý:

    Cũng như triều đại nhà Đinh (968-980) trước đó, triều đại Lê Đại Hành (980-1005) là một triều đại vẻ vang trong lịch sử dựng nước của nước ta, nhưng sự nghiệp ấy quá ngắn ngủi vì sự phá nát của vua Lê Long Đĩnh (1005-1009), cho nên bắt buộc phải có một sự đổi thay. Phú cường và an cư lạc nghiệp là những nhu cầu thiết yếu của quốc gia dân tộc, và đó đã là động cơ thúc đẩy đưa Lý Công Uẩn lên nắm chính quyền (1010 -1028) để phục hưng quốc gia, bảo vệ tinh thần đạo đức của dân tộc, là một sắp xếp chính trị rất khéo léo của thiền sư Vạn Hạnh. Chính triều đại này đã mang lại cho Việt Nam một kiến trúc văn hóa, chính trị, hành chánh, quân đội độc lập, thống nhất, vững chắc và hùng mạnh, một triều đại đã tái tạo một đất nước Việt Nam đã bị tàn phá, hủy diệt trong suốt hơn 10 thế kỷ nô lệ cho đế quốc Trung Hoa. Một triều đại Việt Nam duy nhất trong lịch sử dám đem quân lên phương Bắc để chinh phạt đế quốc Trung Hoa, một triều đại đầu tiên đưa dân tộc tiến về phương Nam, chuyển mình tung hoành trên bán đảo Hoa Ấn sau khi bi đế quốc phương Bắc kềm kẹp, giam hãm trên vùng châu thổ sông Hồng hơn 1000 năm. Và cũng là triều đại đầu tiên của lịch sử Việt Nam đã thực hiện rất nhiều công nghiệp lớn lao để bảo vệ và xây dựng quốc gia độc lập, hòa bình, thống nhất, nhân bản và hùng mạnh về mọi mặt.

    C. NHẬN ĐỊNH:
    • Chúng ta có thể nói Vạn Hạnh đào tạo con người Lý Công Uẩn bằng tinh thần Phật giáo và đem tinh thần ấy hiện thực trong đời sống xã hội, bằng phương pháp Huân tập cho con người của Lý Công Uẩn thâm nhập tư tưởng của chính Ngài.
    • Ngài đã nhập thế gánh vác việc nước một cách tài tình, làm một công việc thay đổi vua chúa không đổ một giọt máu của nhân dân thể hiện ĐẠI BI một cách mãnh liệt song song với ĐẠI HÙNG, ĐẠI LỰC được toát ra bằng cuộc vận động âm ỉ trong lòng dân tộc, một vị vua vô đạo và một con người chân chính đáng trị vì thiên hạ.
    • Nhà lý thuyết gia và cũng là người thực hiện cuộc cách mạng 1009: một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu của lịch sử dân tộc nói riêng và kể cả nhân loại nói chung, một cuộc cách mạng mà sự chuyển giao quyền lực giữa 2 triều đại rất ôn hòa và tốt đẹp trong sự tôn trọng, kính ngưỡng của cả hai.
    • Người tựu thành sự nghiệp Việt Nam và cũng chính là người đúc kết và thành tựu ở mức cao nhất của trào lưu văn hóa nhân bản đánh ngã địa vị độc tôn của văn hóa Trung Hoa trên đất Việt mà suốt chiều dài lịch sử 1000 năm Bắc thuộc và cuộc vận động cách mạng dân tộc để nuôi dưỡng niềm tin, để vỗ về an ủi, để mang lại sự sống, để un đúc ý thức dân tộc và để đấu tranh. Thiền sư Vạn Hạnh là hiện thân của biểu tượng cho sự nghiệp kỳ vĩ của Phật giáo Việt trong lòng quốc gia Việt.
    • Khai sinh một xã hội Đức trị: “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó là nhờ ảnh hưởng Phật giáo”. Vâng, một triều đại kéo dài trên 215 năm (từ 1010 – 1225) không những là triều đại thuần từ nhất, mà còn là một triều đại có công nhất trong lịch sử dân tộc.
    • Việc vận động cho một vị đệ tử của mình lên làm Vua không phải là một mưu đồ thế sự với quan niệm tầm thường, mà là tinh thần một vị Bồ tát thấy chúng sanh đau khổ lầm than là phải cứu – Lòng từ bi trải rộng trong tinh thần vô chấp – Thấy muôn dân đang thiếu một vị minh quân lãnh đạo thì phải tìm cho muôn dân một vị minh quân – Là một hành động chính trị, nhưng trong sự quán chiếu của vị thiền sư nên rất bình tỉnh sáng suốt, sự thành công như đã nằm sẵn trong tay.
    D. KẾT LUẬN:

    Quốc sư Vạn Hạnh! Con người Việt Nam vĩ đại này vĩ đại hơn hai con người vĩ đại tiêu biểu của Trung Hoa là Khổng Tử và Lão Tử. Bởi vì khác hẳn với Khổng Tử, thiền sư Vạn Hạnh không xách một túi kinh luân, một đạo lý giáo điều để đi làm kẻ thuyết khách mong được giai cấp vua chúa, công hầu trọng dụng. Cũng khác hẳn và hơn hẳn Lão Tử, thiền sư Vạn Hạnh không viết một cuốn sách (Đạo Đức kinh) cho đời rồi phủi tay đi ở ẩn. Trái lại thiền sư Vạn Hạnh đã dấn thân vào cuộc đời một cách chủ động và siêu thoát, đã giáo dục, dìu dắt những kẻ có lòng, đã tích cực hổ trợ cho những vị anh hùng, minh quân, chân chúa, đã công tác đắc lực với chính quyền để hết lòng lo cho dân, cho nước, đã xây dựng một chế độ, một triều đại tuyệt đẹp chưa từng có cho dân tộc, đã kiến thiết một kinh đô huy hoàng làm vẻ vang cho sống núi. Dấn thân, nhập thế hùng tráng, vĩ đại như thế, nhưng tuyệt vời thay, thiền sư Vạn Hạnh cũng đã cho dân tộc, cho con người thấy giá trị đích thực của giải thoát xuất thế. Mà bài kệ trước khi Ngài thị tịch là một chứng minh hùng hồn nhất.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  10. 10Đức Phật và Tứ chúng
    Hình minh họa: Đức Phật và Tứ chúng
    A. GIỚI THIỆU:
    I. HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT VỚI TỨ CHÚNG:

    Suốt 45 năm giáo hóa, Thế Tôn đi chân không với một bình bát và 3 y giống như các đệ tử Tỳ Kheo của Ngài. Hằng ngày, Ngài đi khất thực, ngồi thiền và thuyết Pháp. Ngài thường đi hoằng hóa một mình hay có chúng Tỳ Kheo đi theo. Khi nghỉ ngơi lại một gốc cây, Ngài tự đi nhặt lá khô lót ngồi … cho đến khi lớn tuổi mới có Thị Giả (là Ngài A Nan).

    Thế Tôn đã thọ trai với chúng Tỳ Kheo bất cứ nơi nào có thí chủ thỉnh mời. Sau mỗi lần thọ trai, Ngài nói lên một bài Pháp ngắn để tuỳ hỷ hay chúc lành.

    Đệ tử của Ngài thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội, Ngài không phân biệt, dù xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã hội nặng tính giai cấp, thậm chí Ngài thu nhận một người ở giai cấp bần cùng, như ta đã biết trong câu chuyện “Phật độ người gánh phân”. Đệ tử của Ngài có nhiều vị xuất sắc như các Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp … Đại biểu thành phần học giả, tri thức, các Tôn giả A Nan, Nan Đà, A Nậu Lâu Đà… Đại biểu cho thành phần hoàng tộc vua chúa… Tôn giả Angulilama, nguyên là một tướng cướp, nữ tôn giả Patacara trước là một cô gái bị điên loạn vì quá đau khổ, ni cô Addhakasi vốn trước kia là một kỹ nữ… Thế Tôn đã bằng tinh thần khế cơ, bằng thiện xảo phương tiện, đã giáo hoá tất cả với tinh thần bình đẳng tuyệt đối, thu nhận đệ tử đủ mọi giai cấp, thành phần xã hội và mọi lứa tuổi (1) (Giáo hội Ni ra đời vào năm thứ 5 sau ngày Thế Tôn thành đạo).

    II. TỨ CHÚNG CỦA ĐỨC PHẬT:

    Hàng đệ tử của đức Phật gồm có 4 chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di (Nam Cư Sĩ và Nữ Cư Sĩ)

    Sau đây là những đệ tử nổi bật của Ngài, được nhắc nhở trong kinh Tăng Chi Bộ kinh I, phẩm Tối Thắng:

    1. Chư tăng:
    Với những đệ tử tiêu biểu sau đây:
    • Tôn giả Kiều Trần Như: Vị xuất gia đầu tiên (Pháp Lạp số 1).
    • Tôn giả Xá Lợi Phất: Trí Tuệ đệ nhất.
    • Tôn giả Mục Kiền Liên: Thần Thông đệ nhất.
    • Tôn giả Ca Diếp: Đầu Đà đệ nhất.
    • Tôn giả Phú Lâu Na: Thuyết Pháp đệ nhất.
    • Tôn giả Ưu Ba Li: Trì Giới đệ nhất.
    • Tôn giả A Nậu Lâu Đà: Thiên Nhãn đệ nhất.
    • Tôn giả Bà Đề: Âm thanh vi diệu bậc nhất (Quý tộc số 1).
    • Tôn giả Ca Chiên Diên: Thuyết giảng rộng rãi đệ nhất.
    • Tôn giả La Hầu La: (Tinh Tấn học tập đệ nhất).
    • Tôn giả Ràdaha: Biện tài đệ nhất.
    • Tôn giả Revata: Độc cư thiền định đệ nhất.
    • v.v …
    2. Chư ni:
    Với những đệ tử tiêu biểu sau đây:
    • Nữ Tôn giả Ma Ha Ba Xà Ba Đề: Trưởng lão Ni đệ nhất (Pháp Lạp số 1).
    • Nữ Tôn giả Kế Ma (Khemà): Trí Tuệ đệ nhất.
    • Nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc (Uppalavannà): Thần thông đệ nhất.
    • Nữ Tôn giả Pháp Dữ (Dhammadinnà): Thuyết Pháp đệ nhất.
    • Nữ Tôn giả Nan Đà (Kandà): Tu thiền đệ nhất.
    • Nữ Tôn giả Già Lam Đa (Sigàlàkamàyà): Tín giải đệ nhất.
    • Nữ Tôn giả Tô Ma (Sônà): Tinh cần đệ nhất.
    3. Ưu bà tắc (nam cư sĩ):
    Với những vị tiêu biểu sau:
    • Cư sĩ Cấp Cô Độc: Bố Thí Đệ Nhất.
    • Chất Đa (Citta): thuyết Pháp đệ nhất.
    • Hatthaka Àlavaka: nhiếp phục hội chúng đệ nhất.
    • Úc ca (Uggala): Hộ trì chư tăng đệ nhất.
    • Tu La Am Bà Da (Ambattha): Tịnh tín đệ nhất.
    • NaKuLaPità: thâm mật đệ nhất.
    4. Ưu bà di (nữ cư sĩ):
    Với những vị tiêu biểu sau:
    • Tu Xà Đề (Sujàtà): Quy y đầu tiên.
    • Tỳ Xá Khư (Visàkahà): bố thí đệ nhất (nguyên là vợ của Cấp Cô Độc).
    • Uất Đa La (Khujjutàrà): Đa Văn đệ nhất.
    • Uttra: Tu thiền đệ nhất.
    • Nakulamàtà: thâm mật đệ nhất.v.v…

    B. SUY NGHIỆM VỀ TINH THẦN BÌNH ĐẲNG MÀ ĐỨC PHẬT ĐÃ GIÁO HOÁ TỨ CHÚNG:

    Dù chỉ biết sơ lược về sự liên hệ của Đức Phật với hàng đệ tử của mình, cũng như cách thu nhận và giáo hóa các đệ tử của Ngài, mà em cũng đã thấy vô cùng ngưỡng mộ tinh thần bình đẳng tuyệt đối của Ngài. Em nghĩ rằng Tăng đoàn của Đức Phật hồi Ngài còn tại thế quả đã đem lại nhiều lợi ích cho chúng sanh, và nhất là Tăng đoàn không cách biệt với mọi tầng lớp dân chúng, vì trong giáo đoàn của Ngài không thiếu một thành phần nào từ vua chúa đến thứ dân… thật là một đoàn thể tuyệt vời. Em mong sẽ được biết thêm về tiểu sử, tính cách riêng của các vị Đại đệ tử Phật mà phạm vi bài này không thể kể hết ra được.

    Em nghĩ rằng Phật không chỉ có những đệ tử ở Ấn Đôn mà cả ở Việt Nam, vào các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Ngài cũng đã có nhiều vị Đại đệ tử xuất sắc như thiền sư Vạn Hạnh, Khuông Việt, Trần Nhân Tôn, Lý Công Uẩn, những vị Lạt Ma ở Tây Tạng, những vị Tổ và Thiền sư Trung Hoa, nghĩa là ở khắp mọi nơi.

    C. TU TẬP VÀ THỰC HÀNH THEO LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT:

    Dù không được mọi người biết đến, em luôn luôn tâm niệm mình cũng là một đệ tử Phật, do đó em luôn luôn giữ gìn thân khẩu ý được thanh tịnh trong khả năng của mình. Em luân tìm hiểu về các vị đệ tử thời đức Phật cũng như các vị Tổ cùng chư Tôn Hoà Thượng … Xem đó như là những gương sáng cho mình noi theo … từng bước em luyện tập cho mình những hạt giống thiện lành, bỏ dần những chủng tử xấu ác hằng ngày, hằng giờ để được xứng đáng với danh hiệu là Phật Tử, người con, người học trò của đức Phật.

    Câu hỏi:

    1- Em có muốn biết thêm về Phật và Tứ chúng không? (Nếu có, hãy tìm đọc thêm trong Tăng Chi bộ Kinh I và “Phật và Thánh Chúng” của Thích Minh Tuệ).

    2- Trong các vị đệ tử Phật kể trong bài, em ngưỡng mộ những vị nào nhất? Hãy tìm hiểu rõ hơn về lịch sử và đạo nghiệp của quý vị ấy?

    3- Em cho biết mối liên hệ giữa Mục Kiền Liên và Uppalavana (Liên Hoa Sắc), hai vị thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử Phật (Một bên Tăng và một bên Ni).

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  11. 11Sơ lược các tông phái Phật giáo
    Hình minh họa: Sơ lược các tông phái Phật giáo
    I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC TÔNG PHÁI:

    Sau khi Phật nhập Niết Bàn một trăm ngày, có 500 vị Thượng Toạ trưởng lão (Sthavias) tổ chức cuộc kết tập lần đầu trong hang Saltapanni rừng nigradha cử Tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Thủ tọa, ngài A Nan trùng tuyên những lời Phật dạy làm thành tạnh kinh, cử Ngài Ưu Ba Li đọc lại các điều răn của Phật để kết tập Luật tạng, tôn giả đại Ca Diếp đứng đầu coi việc giải thích đạo lý trong Kinh, làm thành bộ Luận tạng. Gọi chung là Tam Tạng (Tripitaka).

    Một trăm năm sau, trong giáo đoàn có sự tranh luận về cách giữ giới luật và cách hành đạo. Các vị trưởng lão Thượng toạ triệu tập cuộc kết tập lần thứ hai ở thành Xá Vệ, đề cử Thượng Toạ Yaca làm Thủ toạ. Kết quả phái Thượng toạ trưởng lão vẫn giữ phương thức bảo thủ, phái đại chúng giữ phương thức Tiến Thủ. Nhưng cả hai không rời tôn chỉ của Phật.

    Vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua Asoka (ADục Vương 227 – 274 trước Tây lịch) triệu tập cuộc kết tập lần thứ ba ở thành Pataliputra.

    Vào khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt (thế kỷ I sau Tây Lịch) vua xứ Nhục Chi là Kanisnka, giữ bá quyền vùng Tây Bắc Ấn Độ, rất sùng đạo, triệu tập cuộc kết tập lần thứ tư ở thành Jalandhara, do hai Thượng Toạ Pârcya và Vasumitra làm Thủ toạ, đây là cuộc kết tập lần cuối cùng.

    Từ đó trong Phật giáo có hai tông phái lớn là: Tiểu Thừa và Đại Thừa, hai bên tuy phân biệt ra như thế nhưng vẫn theo tôn chỉ của Phật. Đại Thừa thì theo tinh thần Phật dạy mà tiến hóa hợp hợp khế cơ. Tiểu Thừa thì một mực trì thủ lời Phật trong các kinh chứ không thay đổi.

    Hiện nay theo các kinh của Hán Tạng thì có 11 tông phái đang hoàng pháp.

    II. CÁC TÔNG PHÁI:
    * 02 Tông Phái Tiểu Thừa:
    1. Câu Xá Tông:

    Do ngài Thế Thân Bồ Tát lấy ý nghĩa trong kinh Đại Tỳ Bà Sa (Mahahvibhasacastra) viết thành bộ Câu Xá Luận, được Ngài Trần Châu dịch rồi truyền sang Trung Hoa rất sớm nhung sau đó thất truyền. Đến khi Ngài Huyền Trang sau chuyến Tây du thỉnh kinh mới đem về dịch lại bộ luật này, rồi đệ tử Ngài là Phổ Quang dựa vào mà làm nên “Câu Xá thuật ký” và Ngài Pháp Bảo làm bộ “Câu Xá luận sớ” thì Câu xá mới thành một tông phái là Tông Câu Xá nhưng chỉ thịnh hành đến cuối thế kỷ thứ IX thì suy vong và nhường chỗ cho các tông phái Đại thừa.

    Câu Xá Tông chia vạn hữu ra thành Vô Vi Pháp và Hữu Vi Pháp. Vô Vi Pháp chỉ về cảnh giới thường trụ không sinh không diệt, tức là lý thể. Hữu Vi Pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới sinh diệt vô thường.

    Căn bản giải thoát dùng Giới, Định, Tuệ để hiểu rõ lý nhân quả của Tứ Diệu Đế. Dùng tam học ấy mà đi tới giải thoát tức là vào Niết bàn.

    2. Thành Thực Tông:

    Tông này đồng thời với Câu Xá Tông, do ngài Ha Lê Bạt Ma (Harivarma) y vào ý nghĩa Bộ Thành Thật Luận mà lập ra vào khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt.

    Thành Thực Tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế giới môn và đệ nhất nghĩa môn.

    Tông này chủ trương “Nhân không và Pháp không”. Người và Pháp cả hai đều không. Thi hành Diệt đế, chân lý thứ 3 trong Tứ Diệu đế cũng đủ an lạc, giải thoát lục đạo.

    * 02 TôngPhái vừa Tiểu Thừa vừa Đại thừa:
    1. Luật tông:

    Tông này lấy giới luật làm căn bản. Đến đời Đường, Ngài Trí Thủ luận sư chú giải những bộ luật (Thập tụng luật, Tứ phần luật, Ngũ phần luật, Tăng kỷ luật) và đệ tử của Ngài, Đạo Tuyên luận sư nhận thấy có 68 bộ Luật tứ phần hợp với căn cơ của người Trung Hoa nên đã căn cứ vào bộ luật nầy mà lập “Luật tông”.

    Luật tông chủ trương lấy tu rồi sẽ hiểu, hãy giữ giới cho nghiêm tịnh thì tâm sẽ định tĩnh thanh tịnh và trí tuệ sẽ phát sinh, chân tâm sẽ hiển bày, Phật tánh sẽ hiển lộ.

    2. Thiền Tông:

    Tông nầy nguyên thuỷ thuộc về Không Bộ bên Tiểu Thừa. Thiền Tông không bàn luận về vũ trụ, căn bản là ngộ đạo mà thôi (giải thoát), là một tông phái lấy tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.

    Thiền Tông chủ trương “bất lập văn tự”, chỉ cốt “tâm truyền tâm”, thực tướng của vũ trụ thuộc về trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất cả sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thực tướng được. Phi tọa thiền và trực giác thì không sao biết được thực tướng.

    * Sáu Tông Đại Thừa:
    1. Pháp Tướng tông:

    Tông này lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc, tại Ấn độ do Ngài Thế Thân phát triển và tại Trung Hoa do Ngài Huyền Trang truyền bá sau chuyến Tây du thỉnh kinh trở về.

    Chủ trương vạn Pháp đều do thức biến ra. (Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức) Thức có 8: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức. Trong 8 thức thì A Lại Gia Thức là căn bản, vì chứa hết thảy Chủng Tử để sinh khởi nhất thiết chư Pháp.

    2. Tam Luận Tông:

    Tông này lấy Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận của Ngài Long Thọ Bồ Tát và Bách Luận của Ngài Đề Bà làm căn bản, chủ trương là phá chấp nêu bày chánh lý với phương pháp tu hành là phá sự chấp trước của ngọai đạo để chứng ngộ chân lý bằng cách quán pháp “Bát bất trung đạo”.

    Về phương diện đạo lý, Tam Luận tông giống như cửa ải muốn tiến bước trên con đường giải thoát phải buông bỏ “Chấp trước”, nếu không muốn bị phát hiện món hàng quốc cấm đó khi qua ải.

    3. Thiên Thai Tông (Pháp hoa tông)

    Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do ngài Huệ Văn Thiền Sư đời Trần và đời Tuỳ (vào khoảng thế kỷ thứ 6) theo ý nghĩa bộ Trí Độ Luận tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa luận và lấy Pháp Hoa Kinh làm gốc, nên còn gọi là Pháp Hoa Tông.

    Thiên Thai chủ trương thuyết “Chư Pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ Tát, Phật sinh tử hay Niết Bàn cũng ở nơi tâm ấy. Khi đã thấu suốt chân lý là chân lý là giải thoát lý chấp trước. Cuối cùng phải triệt ngộ thật tướng của vũ trụ. Do vô vi, do niệm đạt tới sự hoạt động của đại ngã, đại vi.

    4. Hoa Nghiêm Tông (hay Hiền Thủ tông):

    Tông này cũng phát khởi ở Trung Hoa căn cứ ở Hoa Nghiêm Kinh do Đỗ Thuận và Trí Nghiêm Hoà Thượng ở đời Tuỳ và Đường lập ra, người có công kế thừa và xiển dương là là Ngài Pháp tạng còn gọi là Hiền Thủ.

    Tông này theo chủ trương “Pháp giới duyên khởi” Vạn hữu có tam đối lục tướng là do thập huyền môn, thập huyền diệu, lý duyên khởi và lục tướng viên dung mà phát sinh lý “Sự sự vô ngại”. Đây là cái đặc sắc của giáo lý Hoa Nghiêm Tông.

    Theo Tông này thì phân biệt chân vọng dứt trừ điên đảo. Để tâm thanh tịnh cùng thực tại Nhất Như là giải thoát.

    5. Mật tông (hay Chân Ngôn Tông):

    Tông này căn cứ ở Đại Nhật Kinh, lấy bí mật Chân Ngôn làm Tông chỉ, nên cũng gọi là Mật Tông.

    Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cương Tát Đỏa, Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không đem qua trung Hoa vào khoảng đời Đường. Chân Ngôn Tông chủ trương thuyết Lục đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức. Cho lục đại là thực của vũ trụ.

    Sự giải thoát của Tông nầy là do tự thân thành Phật, cho nên bỏ hết chấp trước mà theo cái hoạt động của Đại ngã với phương thức Tam mật (Thân, Khẩu, Ý).

    6. Tịnh Độ Tông:

    Tông nầy lấy việc quy y tịnh độ làm mục đích, chuyên trì tụng các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà. Tịnh Độ Tông phát khởi từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong kinh điển ghi các vị Bồ Tát Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân khuyên mọi người nên tu Tịnh Độ. Tịnh Độ Tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật, vì ở thế gian phiền não nên cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương. Vì tự lực khó đạt nên càu tha lực Đức Phật A Di Đà.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  12. 12Tinh thần tùy duyên bất biến và không chấp thủ
    Hình minh họa: Tùy duyên bất biến
    A. GIỚI THIỆU:

    Tinh thần tùy duyên bất biến là một trong các tinh thần giáo dục của Phật giáo, đó là tinh thần sử sự, hành động uyển chuyển, thích nghi với hoàn cảnh thời đại, nơi chốn và con người cụ thể (tùy duyên), với điều kiện sự uyển chuyển linh động này chỉ là phương tiện hành động, nhưng động cơ và kết quả hành động phải là THIỆN, đúng chánh pháp (bất biến).

    Thái độ sống này luôn luôn không rời khỏi lòng từ, lòng nhân và được soi sáng bởi trí tuệ (hay chánh kiến).

    Nắm được tinh thần hành động này là nắm được cái trục quay của cuộc sống, cái quan trọng không phải là cái áo khoác, mà là ở tấm lòng, ở cái tâm con người, giữ lòng mình luôn hợp với đạo (đạo tâm), đó là ý nghĩa bất biến, nhưng phải linh động hòa mình vào cuộc sống, không cố chấp hẹp hòi, đó là tùy duyên.

    Bởi vậy tinh thần “Tùy duyên bất biến” là một tinh thần rất tích cực, giúp con người của thời đại có nhiều chuyển biến nhanh chóng, có điều kiện rộng rãi để hành động thích nghi với những nhân duyên mới, khai thông được bế tắt có khi đưa đến những chia rẽ tai hại.

    Nhìn lại lịch sử: những cố chấp hẹp hòi của những ông vua đã đem lại nhiều tai hại, trái lại tinh thần tùy duyên của những vị vua đời lý hay những vị vua “tiến bộ” hoạt thái độ của các thiền sư nhập thế đã giúp ích nhiều cho xứ sở chúng ta.

    B. SUY NGHĨ VÀ PHÂN TÍCH:

    Đối với em tinh thần tùy duyên bất biến đem lại gì cho em? Em sẽ áp dụng thế nào trong cuộc sống để xứng đáng người con Phật.

    Thời đại em, nước ta tiếp thu nền văn minh Tây phương đầy đủ những ưu khuyết của nó, em không khăng khăng giữ lấy tập tục củ của người xưa, nhưng em cũng nhận thức: văn minh là tinh thần, thái độ sống, không phải ở màu áo, kiểu tóc … em vẫn biết ăn mặt theo đúng thời trang (tùy duyên) nhưng không được lố lăng chạy theo “mốt” mà quên tính cách của người Việt Nam (bất biến).

    Là Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử, trong cuộc sống hàng ngày luôn luôn em muốn bạn bè và những người thân được biết chánh pháp, nhưng không phải lúc nào cũng đem tam quy ngũ giới ra mới được, phải khôn khéo lựa lời dùng chữ, nhưng vẫn là tinh thần những điều đó, có thể không có một từ Phật học nào trong câu chuyện (tùy duyên) nhưng bạn bè vẫn thấm nhuần bài Phật pháp mà em muốn nói (tinh thần bất biến của người Phật tử) và làm sao họ không hề nhận ra là họ được em bày vẻ, đó là em đã áp dụng tuyệt vời tinh thần tùy duyên bất biến của Phật giáo.

    Trong giao du với bạn bè, đôi khi em phải nương theo cách chơi của bạn để giúp đỡ bạn, em không khư khư bắt bạn phải chiều theo kiểu mình (tùy duyên), nhưng đừng để bạn lôi kéo mình vô đường xấu (hút thuốc, uống rựơu …) nghĩa là đừng để bạn biến chất mình (bất biến)

    C. THỰC HÀNH:

    Tinh thần tùy duyên bất biến đem lại lợi ích cho con người, cho xã hội cho cả hiện tại và tương lai, nhưng phải có đủ sáng suốt trí tuệ mới áp dụng được tinh thần này, làm sao để vừa tùy duyên mà vừa bất biến.

    Vì tùy duyên mà biến chất không lợi mình mà hại mình, bất biến mà không tùy duyên là trở thành chấp thủ …

    Do đó em gắng soi rọi bản thân từ ý nghĩ, lời nói đến hành động, để làm chủ được bản thân mình, làm sao để tùy duyên mà bất biến, không phải là buông thả phóng túng và bất biến nhưng không rơi vào cố chấp hẹp hòi.

    Câu hỏi:

    1.- Hãy kể những gương sáng của lịch sử (Việt Nam cũng như thế giới) của “Tinh thần tùy duyên bất biến” và những người đã gây nhiều tai hại do quá cố chấp hẹp hòi?

    2.- Hãy chứng minh tinh thần tùy duyên bất biến đã giúp ta loại tam độc và để hòa đồng với mọi người?

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Rèn chí (chuyện tiền thân – chuyện đạo)2 bài

  1. 1Nhường nước cứu chúng sanh

    Thuở xưa có một vị vua tên là Trường Thọ, Ngài có Thái Tử tên Trường Sanh. Nhờ lòng từ bi độ lượng của Ngài mà dân chúng trở nên nhân từ, mùa màng tốt tươi.

    Đương thời, bên lân quốc có một Tiểu Vương tính nết tham lam, cai trị bạo ngược, nhân dân đói khổ mà chưa tìm được phương sách cứu khổ. Ngày nọ, Tiểu Vương liền hội quần thần phán rằng: “Ta nghe vua Trường Thọ nhân từ, không chịu sát sanh, quân sự không dự bị, ta định đem binh chinh phục, các ngươi nghĩ sao?” Các quan nghe qua đều tán thành, liền kéo quân chinh chiến. Quan trấn thủ biên cương dâng biểu báo cáo và xin binh tiếp viện.

    Nhà vua hội bá quan: “Nay Tiểu quốc đem quân xâm lăng không ngoài mục đích danh lợi và nền kinh tế phong phú của nước mình. Nếu ta đem binh ngăn chận thì trái hẳn lòng dân. Vậy ta không thể làm thế”. Các quan đồng tình nguyện đem binh chống giữ, nhưng nhà vua vẫn khư khư: “Việc chinh chiến thắng bại lẽ thường: Nếu có bên thắng tất có bên thua! Vậy cuộc chiến chưa chắc hưởng lợi. Hơn nữa tuy dân hai nước không đồng văn hóa nhưng cũng là loài người, cũng thụ hưởng sinh khí của tạo hóa, ai không là người sợ chết? Nếu ta ham sống, chỉ lo bảo tồn gia tộc mà làm hại dân lành thì đâu phải tư thế của người hiền”.

    Nghe nhà vua nói vậy, quần thần đều lui về bàn tính: “Hoàng thượng có đức nhân từ, không tính việc can qua, vậy việc nầy chúng ta phải cùng nhau đem binh chống giặc, như thế mới là tôi trung lúc quốc gia hữu sự”.

    Được tin quần thần đem quân chống giặc, nhà vua bất mãn nói cùng Thái Tử: “Nay Phiên tặc xâm lăng bờ cõi, quần thần cố giữ non sông, thế thì dân lành bị hại, ta định trốn bỏ ngôi vàng, hoạ may đó là chước hay cứu người vô tội”. Thái Tử tỏ ý bằng lòng, liền đó cha con sửa soạn hành lý, nửa đêm trốn khỏi thành.

    Sáng ra, quần thần, Hoàng Hậu kinh hoàng trước tin nhà vua và Thái Tử mất tích, kẻ khóc người than, chia nhau tìm kiếm. Do đó Phiến Vương chiếm đất lấy thành như vào chỗ không người, tới kinh đô thu góp của quý và lên ngôi cửu ngũ.

    Từ ngày rời chốn phồn hoa, nhà vua và Thái Tử đang ngồi tựa gốc cây nghĩ về thế sự, thảm thương nhân loại không hiểu được lý: “VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ NGÔ của Phật, cứ kéo nhau vào vòng khổ não. Nghĩ vậy nên Ngài quyết chí tu hành, ngõ hầu thành chánh quả tế độ chúng sanh mới toại nguyện.

    Lúc đó có một Đạo sĩ: Vì muốn chiêm ngưỡng lòng nhân của nhà vua nên đi đến kinh thành, gặp nhà vua đang ngồi ở dưới gốc cây, rưng rưng đôi mắt: “Bệ hạ! Bấy lâu muốn chiêm ngưỡng lòng nhân, nay gặp thì Ngài đã vong quốc, chắc vì thế mà hạ thần cũng tuyệt mạng”.

    Quá chua xót, nhà vua đáp: “Từ xa, Ngài muốn gặp ta để nhờ ban châu báu nhưng nay là lúc nguy nan, nghe đồn vua Phiên sẽ phong thưởng cho ai bắt được ta, vậy ta cũng không tiếc chi tấm thân này”.

    Đạo sĩ quá cảm động thưa rằng: “Tôi không thể nào làm được việc đó” và ông tính trở về. Nhưng nhà vua cứ muốn hiến thân giúp cho Đạo sĩ. Sau cùng nhà vua định cách đi xuống Trường An bằng các đường khác, Đạo sĩ đi đường khác, Ngài đến Ngọ môn thì Đạo sĩ cũng vừa đến, rồi Ngài tự trói mình và bảo Đạo sĩ vào tâu Tham vương. Lúc ấy thần dân thấy cảnh nhà vua thọ nạn đều khóc than vang dậy, không cảnh não nùng nào hơn.

    Tham Vương được Đạo sĩ nạp nhà vua, quá đỗi vui mừng, truyền quân đem ra ngả tư đường thiêu sống.

    Khi ấy trên lốt áo đốn củi, Thái Tử Trường Sanh đến trước mặt vua với đôi mắt đẫm lệ, nhà vua trông thấy giả bộ ngó lên trời than: “Trường Sanh! Con sẽ là đứa bất hiếu nếu không nghe di chúc của ta mà tạo mối hận thù, tội đó liên luỵ đến muôn đời, con nên hiểu muốn thành Phật là do bố đức nhân từ, cao dày như trời đất, chứ không phải tu hành tầm thường mà thành chánh quả được. Nay vì lẽ Đạo tối thượng ta phải hy sinh thân xác, mi chớ manh tâm phục hận, vì thế là con bất hiếu”.

    Vua vừa dứt lời, quân sĩ Tham Vương đã đốt củi, thương thay chỉ vì lòng từ bi thương xót một vị Đạo sĩ già, mà thân xác vua tan tành, thiên hạ âu sầu, dân gian ta thán.

    Quần thần và dân chúng xin Tham Vương cho phép làm lễ quốc táng. Tham vương cho phép.

    Nói lại Thái Tử Trường Sanh trở về cội cây, nơi mà hình bóng cha trầm tư suy lý, càng nhớ cha, nhớ mẹ thì càng tức giận quân thù. Tự nghĩ: “Dù cha có lời di hối, nhưng ta đành tâm thất hiếu, quyết giết sạch quân thù”. Nghĩ vậy liền thẳng xuống kinh thành, xin vào ở cho một cận thần của Tham Vương, hầu tìm dịp báo oán.

    Viện cận thần thấy Thái Tử làm việc giỏi giang, trồng rau rất tốt lại có biệt tài nấu ăn nên tiến cử với Tham Vương. Tham Vương rất bằng lòng khen: “Bạch kinh cầu xảo rất tinh thông” và phong cho chức Trừ Giám, không bao lâu lên chức Cận Thần.

    Ngày nọ, Tham Vương đòi cận thần (tức Thái Tử) bảo: “Ta ngày đêm sợ Thái Tử Trường Sanh đến báo oán, vậy ta muốn ban đủ bình quyền tước vị cho khanh ra trấn nhậm biên cương để trị an bờ cõi”. Thái Tử vui mừng nhận lời. Tham Vương lại hỏi: “Ta muốn cùng khanh săn bắn?” Thái Tử đáp: “Thưa bệ hạ! Việc săn bắn rất hợp với bản chất hạ thần”.

    Thế là vua tôi dẫn nhau vào rừng, vì mê đuổi thú nên vua và quân sĩ bị lạc.

    Tham Vương và Thái Tử chịu đói khát liên tiếp ba ngày đêm, quanh quẩn trong rừng, quá mệt Tham Vương trao gươm cho Thái Tử rồi kê đầu lên vế của chàng thiếp đi. Lúc ấy Thái Tử nghĩ thầm: “Đây là lúc thuận tiện ra tay” nhưng khi tuốt gươm ra, vừa muốn chém xuống thì lời di hối của cha còn lảng vảng bên tai nên lại tra gươm vào vỏ.

    Tham Vương tỉnh giấc: “Ta nằm mơ thấy Trường Sanh đến giết ta không biết điềm lành dữ thế nào?” Thái Tử tâu: “Có lẽ vì mấy ngày mệt nhọc nên Ngài mơ mộng đó thôi, hơn nữa hạ thần đây thì Trường Sanh cũng không làm gì đặng”

    Tham vương vững bụng nằm xuống ngủ lại.

    Thái Tử mấy phen định giết nhưng vẫn không thi hành được. Lúc đó Tham Vương thức dậy nói: “Trẫm mới thấy Thái Tử Trường Sanh nói tha mạng Trẫm rồi”.

    Khi ấy Thái Tử quỳ xuống tâu: “Chính hạ thần là Trường Sanh, mấy lần định giết bệ hạ nhưng vì lời di hối của Phụ Vương bảo không nên lấy oán báo oán nên hạ thần không nỡ xuống tay. Vậy xin bệ hạ cứ trừ tuyệt hậu hoạn hầu linh hồn hạ thần sớm siêu thoát”, Tham Vương nghe quá xúc cảm: “Tiên quân quả đáng là Thượng Thánh, còn Thái Tử đáng bậc hiếu thảo, nay ta trong tay Thái Tử mà người không giết thì ta lòng nào mà phản nghịch lẽ trời che đất chở. Hơn nữa ta cần Thái Tử dẫn đường về nước”.

    Thái Tử vâng lời ra lộ quan, gặp bọn tùng giá đang đi tìm. Nhà vua nói: “Ta gặp Thái Tử Trường Sanh”. Bọn chúng ngạc nhiên, nhà vua tiếp: “Ta rất đội ơn Thái Tử, khi về kinh đô ta sẽ giao lại tất cả ngôi báu thành trì cho người, còn ta sẽ về bổn quốc và kết tình anh em với Ngài hầu chia họa phúc với nhau”. Nói rồi chỉ tay Thái Tử.

    Được tin thần dân mừng rỡ, quốc gia từ đó trở lại cảnh thanh bình.

    Vua Trường Thọ là tiền thân Phật Thích Ca. Trường Sanh Thái Tử là tiền thân của Ngài A-Nan. Tham vương tiền thân Đề Bà Đạt Đa.

    Phật Dạy:

    “Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng

    Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

  2. 2Cứu người bị giặc cướp
    Hình minh họa: Chuyện tiền thân : Cứu người bị giặc cướp

    I. LƯỢT TRUYỆN

    Khi chưa Thành đạo, đức Thích Ca có một kiếp làm người lái buôn, tên là Đại Bi, đức hạnh hoàn toàn, tài trí hơn người.

    Một hôm Đại Bi cùng 500 người khác đi thuyền ra biển tìm châu báu. Thuyền đang đi giữa biển thì gặp một bọn cướp đuổi theo, định giết hết tất cả những người trong các thuyền để cướp giật của cải. Quân cướp đuổi theo mỗi lúc một gần và reo hò vang dậy một góc biển. Những người lái buôn sợ hãi quá, kêu la rất thảm thiết, và nghĩ rằng phen nầy họ chắc chết mà thôi, không còn thấy được vợ con nữa.

    Đại Bi thấy thế mới nghĩ rằng: Nếu ta giết bọn cướp nầy thì ta sẽ mang tội sát nhân và phạm nặng vào giới sát sanh, nhưng nếu ta để cho chúng giết hết 500 người thì lòng ta không nỡ. Thôi thì ta chịu tội sát nhân một mình, mà vừa cứu được 500 người khỏi chết, vừa ngăn cản được những việc làm tàn ác của quân cướp để đỡ tội cho chúng nó sau nầy.

    Tuy nghĩ thế, nhưng Đại Bi chưa ra tay liền, Ông ta đứng lên trên mũi thuyền lớn, lấy lời ôn hòa mà khuyên lơn bọn cướp, nhưng bọn nầy quen thói hung tàn, không thèm nghe lời Đại Bi nói, cứ hầm hầm hung hãn xông tới quyết giết hết cả con buôn. Đại Bi liền nhảy qua thuyền quân cướp, một mình địch với cả bọn, vùng vẩy, nhanh lẹ oai phong như một tướng tài giữa trận. Quân cướp biết không thể địch nổi, liền hè nhau quay thuyền chạy trốn.

    500 người lái buôn thoát chết, lại không bị mất của vui mừng khôn xiết, liền quỳ xuống tạ ơn Đại Bi, rồi cùng trương buồm cho thuyền quay trở lại quê nhà.

    II. SUY NGHIỆM

    Qua câu chuyện, đã cho chúng ta thấy được rằng tinh thần của châm ngôn Bi Trí Dũng hoàn toàn được Đại Bi thể hiện hết sức là khế lý, khế cơ một cách nhuần nhuyễn đã mang đến kết quả hết sức hoàn mãn: Nhận định rõ sự hơn thiệt kế quả của công việc mình sẽ làm; đưa ra lời lẽ thuyết phục một cách hợp lý trước khi hành động với một tình thương rộng lớn và cuối cùng là với dũng lực đã hoàn tất được tâm nguyện của chính mình: cứu thóat mọi người và tránh cho bọn cướp thoát được nghiệp lạm sát người vô tội chỉ vì lòng tham.

    œœœ

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Tu dưỡng1 bài

  1. 1Thiền tập
    I. GIỚI THIỆU:

    Thiền là gì? Cửa Thiền là cửa chùa, thiền gia là nhà chùa… Như vậy là đã hiểu chữ thiền một cách đơn giản. Có thể nói: Sống đạo là sống Thiền, làm quen với cuộc sống của nhà chùa là thực tập sống Thiền, là làm quen với giáo dục Thiền vậy.

    Hằng tuần ta dành 10 hay 15 phút ngồi tĩnh tâm (Thiền tọa hay ngồi thiền) đó là ta đã thực tập thiền, đã bước đầu chập chững đi vào giáo dục Thiền của GĐPT.

    Ngồi Thiền là một trong những tư thế đẹp nhất của con người nói chung và của người Phật tử nói riêng. Ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa đã đạt đến nhơn phẩm cao nhất của con người trong tư thế ngồi đó dưới cội Bồ Đề.

    II. GHI NHỚ:

    Tới giờ ngồi Thiền ta ngồi Kiết già hay Bán già, mắt lim dim nhìn tới phía trước trong khoảng một mét, lưng thẳng, hai vai ngang nhau, bàn tay phải đặt thoải mái lên bàn tay trái (hay ngược lại) và buông thả tất cả các bắp thịt trong toàn thân, giữ cho sống lưng luôn thẳng, duy trì chánh niệm. Theo dõi hơi thở ra vào, đọc nhẩm bài kệ:

    Trong tư thế thiền tọa

    Đoá hoa nhân phẩm nở

    Hoa Ưu Đàm muôn thuở

    Vẫn toả ngát hương thơm.

    Đó là bài kệ điều thân, xong chuyển sang điều chỉnh hơi thở, thở ra cho hết không khí cũ trong phổi, rồi hít vào cho đầy buồng phổi bằng không khí tươi mát mới mẻ…. Để hết tâm ý vào hơi thở vào ra… làm thế nào để hơi thở luôn luôn được nhẹ nhàng khoan thai và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong cát mịn. Hơi thở càng nhẹ nhàng bao nhiêu thì thân và tâm dễ dàng thanh tịnh bấy nhiêu.

    Trong khi thở vào, ta biết ta đang thở vào, ta thấy: Hơi thở đang đi vào trong từng tế bào cơ thể và đem tới sự an lạc cho từng tế bào ấy, vì dưỡng khí ôxy lọc máu và thực sự đi theo máu về tận các tế bào của cơ thể. Trong khi điều chỉnh hơi thở, theo dõi hơi thở…có thể đọc thầm bài kệ sau:

    Thở vào tâm tĩnh lặng

    Thở ra miệng mỉm cười

    An trú trong hiện tại

    Giờ phút đẹp tuyệt vời.

    Vừa theo dõi hơi thở, vừa thực tập bài kệ trên. Ví dụ dành 5 hay 10 phút để thực tập 2 câu đầu của bài kệ, rồi cũng dùng 5 hay 10 phút cho 2 câu sau của bài kệ. Tất nhiên trước khi ngồi thiền là đã thuộc nằm lòng các bài kệ trên.

    Phương Pháp này cho ta sự thanh tịnh và an lạc ngay trong giờ phút đang ngồi thiền. Vì yếu chỉ của Thiền là “Chỉ” và “Quán”. Chỉ là dừng, là chấm dứt. Chấm dứt là chấm dứt tình trạng tạp loạn của thân ý, trở về tình trạng chuyên nhất và tập trung đó chính là “Định”.

    Quán là nhìn rõ thấy kỹ. Quán hơi thở vào ra, quán sự vô thường của cuộc sống, quán sự mong manh của một hơi thở: hơi thở mà không có ra hay ra mà không có vào, thế là hết, mạng sống chấm dứt, đó là vô thường của cuộc sống này, Vô thường không chờ ai, không sợ ai, không trừ cho một ai cả…

    Do đó mà ta quý từng giây, từng phút của cuộc sống này, phải thấy rằng hơi thở ngắn ngủi, cuộc sống có thể mất đi bất cứ lúc nào, nên phải tinh tấn làm tất cả các thiện Pháp, xa các ác Pháp, để khi trút hơi thở cuối cùng không còn gì phải hối tiếc, vì đã lãng phí thời gian có mặt trên đời này.

    Ngoài việc tọa thiền, Phật còn dạy: “Thiền hành”. Đó là thực hành thiền trong khi đi bách bộ, đi dạo ở một con đường vắng bên dòng sông hay trong vườn chùa… vừa đi vừa theo dõi hơi thở vào ra và duy trì chánh niệm. Khi đã quen với giáo dục thiền, có thể thực hành Thiền hành giữa hai buổi thiền toạ.

    III. TU TẬP:

    Bước đầu làm quen với giáo dục Thiền, em thấy thật sự an lạc trong giờ ngồi thiền sau buổi lễ Phật hàng tuần, và niềm an lạc ấy theo em về đến nhà, ra phố, đến trường, trong những giờ kế tiếp. Vì vậy em quyết tâm thực hành.

    1.- Mỗi sáng sau khi thức dậy, em ngồi tĩnh tâm trên giường từ 5 đến 10 phút. Mỗi tối trước khi đi ngủ, em cũng ngồi tĩnh tâm 5 – 10 phút như vậy và có thể tăng dần thời gian lên.

    2.- Những lúc có dịp đi dạo một mình, hay có dịp ngắm trăng, nhìn một dòng sông, ngắm cảnh bình minh hay hoàng hôn … Nói chung, là khi có dịp em cũng thực hành Thiền, hoặc đi, hoặc ngồi tuỳ theo hoàn cảnh và ý thích của em trong lúc đó.

    Em theo dõi hơi thở, duy trì chánh niệm, như vậy em sẽ có một ngày an lạc, một giấc ngủ ngon lành, không mộng mị, một buổi du ngoạn đầy ý nghĩa, dù một mình vẫn không thấy mình bị quấy nhiễu … Từ đó em có một cuộc sống hạnh phúc an lạc không bệnh hoạn ốm đau, em khoẻ mạnh cả thân lẫn tâm vậy.

    Tài liệu Tu học Ngành Thiếu – Bậc Trung Thiện do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2006 – PL 2550. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗

Văn nghệ7 bài

  1. 1Âm nhạc: dấu nhắc lại, khung thay đổi; dấu nối, dấu luyến; chùm ba; bài tập ký, xướng âm

    Tham khảo thêm

    Dấu nhắc lại

    • Hai chấm đặt trước vạch nhịp kép (:‖) báo phải hát lại đoạn nhạc từ đầu bài, hoặc từ chỗ có dấu ‖: tương ứng.

    Khung thay đổi

    • Đoạn nhắc lại có hai kết khác nhau: khung 1 hát ở lần thứ nhất, lần thứ hai bỏ khung 1, hát thẳng sang khung 2.

    Dấu nối

    • Đường cong nối hai nốt cùng cao độ: chỉ hát nốt thứ nhất và ngân dài thêm bằng giá trị nốt thứ hai.

    Dấu luyến

    • Đường cong nối hai hay nhiều nốt khác cao độ: hát liền một hơi, các nốt cùng một chữ của lời ca.

    Chùm ba

    • Ba nốt cùng loại, có số 3 ở trên, được hát trong thời gian bằng hai nốt cùng loại ấy. Ví dụ: chùm ba móc đơn bằng một nốt đen.

    Bài tập ký, xướng âm

    • Chọn các câu nhạc trong bài ca ngành Thiếu có các dấu trên; các em đọc tên nốt, vỗ tay trường độ, rồi hát lời.
  2. 2Hát: Bài ca lửa dũng, Gió sớm mùa xuân, Ngồi quanh lửa, Hò bên mái lều, Bài ca Trung Thiện, Tứ chánh cần

    Tham khảo thêm

    Danh sách

    • Bài ca lửa dũng, Gió sớm mùa xuân, Ngồi quanh lửa, Hò bên mái lều, Bài ca Trung Thiện, Tứ chánh cần.

    Hướng dẫn

    • Dùng bản nhạc trong tập nhạc ngành Thiếu của Ban Văn nghệ; khi tập áp dụng các dấu nhạc lý đã học.
    • Các bài về lửa trại tập trước kỳ trại để dùng trong đêm lửa.
  3. 310 bài hát ngắn (gợi ý trong tập nhạc ngành Thiếu: Gọi lửa, Cái trống, Về đây, Vui đón ngày Dũng, Gửi người Áo Lam…)

    Tham khảo thêm

    Gợi ý trong tập nhạc ngành Thiếu

    • Gọi lửa, Cái trống, Về đây, Vui đón ngày Dũng, Gửi người Áo Lam…

    Cách dùng

    • Mỗi Đội, Chúng phụ trách một bài, tập cho cả Đoàn; dùng trong sinh hoạt và lửa trại.
  4. 4Sân khấu: kể cho Đoàn nghe một câu chuyện vui, hùng, buồn; đóng kịch ngắn; đọc truyện có minh họa; múa những điệu đơn giản

    Kể chuyện : Tập kể chuyện

    Hình minh họa: Kể chuyện : Tập kể chuyện
    1. Em thể hiện:

    Huynh trưởng yêu cầu 2 đoàn sinh kể lại chuyện đạo, chuyện tiền thân được nghe.

    2. Em cần biết:

    Kể chuyện cũng như đóng kịch, là làm thế nào cho người nghe có cảm tưởng như mình đang sống trong khung cảnh xảy ra câu chuyện. Giọng kể phải thay đổi theo tình tiết của câu chuyện, lúc buồn bui, lúc linh động, lúc giận hờn,…

    Muốn kể chuyện có kết quả, nghĩa là người nghe thấu suốt câu chuyện và lấy làm thích thú, em cần chú ý các điểm chính sau đây:

    • Tập kể chuyện và tập nói trước ở nhà để tránh bỡ ngỡ và rụt rè vì không quen nói trước đàm đông. Vào phòng riêng hay ra vườn vắng và kể một câu chuyện, cứ xem đồ vật trong phòng hay cây cối ngoài vườn là người quen. Chính lúc này để em tự giữ bình tĩnh cũng như sửa giọng nói, điệu bộ.
    • Khi đứng trước bạn bè hay người quen, cũng giữ cảm tưởng như đang đứng trong vườn cây, đừng sợ sệt, cố giữ bình tĩnh giọng nói và điệu bộ.
    • Khi kể chuyện phải đóng ngay từng vai ở trong chuyện. Lúc vui, lúc buồn, lúc căm hờn, lúc dịu hiền, … cốt làm cho người nghe thấy hứng thú và cảm nghĩ như đang đứng trước sự việc xảy ra.
    • Giọng kể không mau, không chậm, nhất là tránh lối kể chuyện như đọc, luôn luôn theo dõi phản ứng của người nghe.
    • Kết luận: nếu cần để cho người nghe đoán.
    • Kết thúc: nếu cần, tóm tắt nhấn mạnh những điểm chính.

    Tóm lại, muốn cho câu chuyện được như ý của người nghe, người kể phải đi từ tình tiết này đến tình tiết khác của câu chuyện, phải chuẩn bị hoàn hảo.

    3. Em trả lời:
    • Em có nhận xét gì về cách kể chuyện của mình và của các bạn?
    • Các yếu tố nào giúp em thành công trong kể chuyện?

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Em đóng kịch

    Hình minh họa: Em đóng kịch

    MÚA – KỊCH

    Tùy nghi áp dụng mang tính giáo dục.

    1. Em cần biết:

    Đóng kịch tức là diễn lại một câu chuyện đã xảy ra, hoặc một câu chuyện đạo, một chuyện tiền thân mà em đã học.

    Kịch đối với ngành Đồng như các em không lấy gì làm khó khăn, không rườm rà, miễn sao có óc nhận xét, phải bạo dạn, diễn đạt được những đặc điểm của nhân vật trong vở kịch.

    Em cần bắt chước và làm đúng y hệt như từng vai trong chuyện nhưng phải chú ý và bắt chước những điều hay, tránh điều hung dữ, xấu xa không thích hợp với tinh thần Phật tử.

    Hóa trang lúc kịch em cũng khỏi lo, vì cần gì phải sửa soạn rườm rà mất công. Điều quan trong là làm thế nào em phải chuẩn bị nhanh, có óc sáng kiến và óc sáng tạo. Chẳng hạn chiếc mũ lộn ngược, thêm vài tua bằng lá là có thể dùng làm mũ của một tên cướp, cái tăng hay cái mềm quấn quanh đầu, em đóng được vai người nhà quê, chú lọ nồi vẽ sơ sài hay chút bông gòn thấm mực dùng làm bộ râu, táu lá chuối xé sơ hay tàu lá dứa quấn quanh người dùng làm chiếc khố, …

    Khi diễn kịch trên sân khấu có tính cách quan trong hơn, và cần nhiều nghệ thuật, … thì các anh chị đã lo cho các em rồi.

    2. Em trả lời:
    • Đóng kịch là làm gì?
    • Những yêu cầu cần có khi tham gia đóng kịch?

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Sân khấu: kể chuyện vui, hùng, buồn – kịch ngắn – đọc truyện

    Kể chuyện theo sắc thái

    • Chuyện vui: giọng nhanh, tươi, có điểm bất ngờ ở cuối.
    • Chuyện hùng: giọng mạnh, dứt khoát, nhấn vào hành động của nhân vật.
    • Chuyện buồn: giọng chậm, trầm, có những chỗ ngừng.

    Đọc truyện có minh họa

    • Một em đọc lời dẫn, các bạn khác đọc lời nhân vật và làm động tác minh họa.

    Múa

    • Ôn và tập thêm các điệu múa đơn giản như bậc Hướng Thiện.
  5. 5Hội họa: chép một bài nhạc có ghi nốt, trang trí đẹp; một số công trình mỹ thuật Phật giáo thời Trần; làm thiệp; phóng tranh

    Tham khảo thêm

    Chép một bài nhạc có trang trí

    • Kẻ khuông nhạc thẳng, đều; chép nốt rõ ràng, đúng vị trí; lời ca viết ngay dưới nốt tương ứng.
    • Trang trí tựa bài và viền trang bằng họa tiết hoa sen, lá bồ đề.

    Một số công trình mỹ thuật Phật giáo thời Trần

    • Tháp Phổ Minh (Nam Định): tháp gạch nhiều tầng, xây thời Trần, là di tích tiêu biểu của kiến trúc Phật giáo thời này.
    • Chạm khắc gỗ ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên): các bức chạm hình tiên nữ, nhạc công, hoa lá mềm mại.
    • Hình rồng thời Trần: thân mập, khỏe, uốn khúc, thường có sừng và chân rõ ràng hơn rồng thời Lý.
    • Anh chị trưởng nên dùng thêm sách mỹ thuật Việt Nam hoặc hình ảnh di tích để các em quan sát.

    Làm thiệp

    • Thiệp Phật Đản, Vu Lan, thiệp mừng thăng cấp Dũng, Hạnh: gấp đôi giấy bìa, vẽ hoặc dán hình ở mặt trước, viết lời chúc ở trong.

    Phóng tranh

    • Kẻ lưới ô vuông đều lên tranh mẫu; kẻ lưới cùng số ô nhưng ô lớn hơn lên giấy vẽ; vẽ lại từng ô một cho đúng vị trí nét.
    • Dùng để phóng hình Phật, Bồ-tát, huy hiệu lên khổ lớn.
  6. 6Thi văn: viết bài báo Đội, Chúng

    Tham khảo thêm

    Hướng dẫn viết bài

    • Chọn đề tài gần gũi: một buổi sinh hoạt, kỳ trại, một bài học Phật pháp, gương người tốt việc tốt.
    • Đặt tựa ngắn, gây chú ý.
    • Bài báo có mở bài ngắn, thân bài 2 – 3 đoạn, kết bài nêu ý nghĩa hoặc cảm nghĩ.
    • Viết đúng chính tả, câu văn ngắn, dễ đọc; dài khoảng nửa trang đến một trang.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi em viết ít nhất một bài cho tờ báo tường kỳ tới của Đội, Chúng.
  7. 7Nhiếp ảnh: các bộ phận của máy quay phim và nguyên tắc sử dụng

    Tham khảo thêm

    Các bộ phận chính

    • Ống kính, nút quay (bắt đầu, dừng), màn hình, micro, pin, thẻ nhớ; điện thoại cũng có chức năng quay phim.

    Nguyên tắc quay

    • Quay khung hình nằm ngang.
    • Giữ máy thật vững: cầm hai tay, tì khuỷu tay vào người hoặc dùng chân máy.
    • Mỗi cảnh quay 5 – 10 giây; di chuyển máy chậm và đều, không phóng to thu nhỏ liên tục.
    • Thuận chiều sáng; nơi ồn ào thì đứng gần người nói để thu tiếng rõ.
    • Xin phép trước khi quay người khác, không quay trong lúc hành lễ nếu chưa được phép.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội quay một đoạn phim ngắn 1 – 2 phút giới thiệu sinh hoạt của Đội.

Hoạt động thanh niên13 bài

  1. 1Gút: mỏ chim, ghế kép không chạy, ghế anh

    Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút cẳng ngỗng:

    1. Công dụng:

    Dùng cườm vành cổ, quấn đầu sợi dây lớn hơn hoặc để làm tăng thêm sự chắc chắn của một gút khác.

    2. Cách làm:
    Hình minh họa: Gút dây : Cẳng ngỗng – Ghế anh – Ngạnh trê

    Gút ghế anh:

    1. Công dụng:

    Như gút ghế kép hoặc ghế đơn nhưng dùng cứu người trong đám cháy hay dưới giếng lên.

    2. Cách làm:
    • Bắt đầu bằng thòng lọng.
    • Rồi bằng hoa hồng, khóa bằng sơn ca.
    3. Cách sử dụng:

    Phần gút thòng lộng hay gút hoa hồng, ở giữa dùng để gối đầu nạn nhân. Hai vòng hai bên luồn vào hai tay sát nách.

    Gút ngạnh trê:

    1. Công dụng:

    Dùng nối lạt hay mây.

    2. Cách làm:

    Ngạnh trê đơn

    Ngạnh trê kép.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    I. GÚT GHẾ ĐƠN

    1. Công dụng:

    Loại gút cấp cứu dùng đưa người lên hoặc xuống một bức tường cao, giếng sâu, nhưng không có một nấc thang nào để leo.

    2. Cách làm:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cũng không thể cắt bỏ hay tháo.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    II. GÚT CẲNG CHÓ

    1. Công dụng:

    Thâu ngắn một sợi dây mà hai đầu dây đã bị buộc cứng không thể cắt bỏ hay tháo.

    2. Cách làm:
    • Cách thứ nhất:

    Khóa gút cẳng chó

    Khóa con sẽ.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    • Cách thứ hai:

    Khóa buộc vấn.

    Khóa quai chèo sơn ca.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    III. GÚT GHẾ KÉP

    1. Công dụng:

    Như công dụng gút ghế đơn nhưng có hai vòng dây chạy hay không chạy.

    2. Cách làm:

    Ghế kép không chạy.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    3. Cách sử dụng:

    Vòng lớn làm vòng ngoài vòng nhỏ tựa qua lưng làm vòng tựa qua nách, khi đưa xuống hay kéo lên phải từ từ.

    Có một gốc cây hay trụ làm vòng hãm để khỏi tuột tay rất nguy hiểm.

    Ghế kép chạy có thể nới hay thâu lại vòng dây tùy theo cỡ người

    IV. GÚT THÂU DÂY

    A. Nút xúc xích đơn

    1. Công dụng:

    Ngoài việc thâu ngắn dây còn dùng trang trí vành nón, dây còi, đẹp mà dễ tháo.

    2. Cách làm:

    Thoạt đầu làm gút thong lọng, sau đó đưa vòng khoen vào vòng trước tạo nên vòng sau, cứ thế cho đến cuối dây mới kéo qua hẳn vòng.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng
    B. Nút xúc xích kép:

    Cách làm (như hình vẽ, làm như xúc xích đơn nhưng vòng khoen dưa vào lần lượt bên dây này đến bên dây kia)

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    C. Nút Garrot

    1. Công dụng:

    Dùng căng dây bị chùng, buộc chắc phía trên vết thương để cầm máu hoặc ngăn không cho chất độc về tim.

    2. Cách làm:

    Dùng 1 que cứng xoắn dây nhiều vòng cho đến khi căng thì nẹp lại.

    Hình minh họa: Gút dây – Bậc Chân Cứng

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Gút: mỏ chim, ghế kép không chạy, ghế anh

    Lưu ý

    • Gút ghế anh có trong bài bậc Tung Bay; gút ghế kép trong bài bậc Chân Cứng (ở trên).
    • Gút mỏ chim và gút ghế kép không chạy: anh chị trưởng hướng dẫn theo tài liệu Hoạt động thanh niên của Ban Hướng Dẫn.

    Gợi ý hoạt động

    • Ứng dụng các gút ghế để làm thang dây, ghế ngồi kéo người trong trò chơi cứu hộ.
  2. 2Tập điều khiển Đội, Chúng; các cách tập họp

    Tham khảo thêm

    Hình thức và hiệu lệnh tập họp

    Các hình thức tập họp thường dùng cho Đàn, Đoàn

    • Hàng dọc: mỗi Đàn một hàng, Đầu Đàn đứng đầu, Thứ Đàn đứng cuối.
    • Hàng ngang: các bạn đứng thành một hàng bên cạnh nhau.
    • Vòng tròn, nửa vòng tròn (hình chữ U): dùng khi học bài, kể chuyện, chơi trò chơi.

    Hiệu lệnh

    • Hiệu lệnh bằng tay và bằng còi do Ban Huynh trưởng quy định theo tài liệu huấn luyện của Ban Hướng Dẫn.
    • Khi nghe hiệu lệnh, Đầu Đàn dẫn Đàn chạy nhanh, im lặng vào đúng vị trí, đứng nghiêm chờ lệnh.

    Gợi ý hoạt động

    • Tập luyện nhiều lần: Huynh trưởng ra hiệu lệnh bất ngờ trong ngày trại, các Đàn thi tập họp nhanh và đúng.

    Tham khảo thêm

    Tập điều khiển Đội, Chúng – Các cách tập họp

    Bậc Trung Thiện

    • Ngoài hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn, chữ U, các em tập thêm tập họp theo hình khối và theo Đội, Chúng trong Đoàn.
    • Đội, Chúng trưởng tập điều khiển: ra hiệu lệnh, kiểm tra hàng ngũ, điểm danh, báo cáo với Huynh trưởng.
    • Biết điều khiển một buổi họp Đội, Chúng: mở đầu, nội dung, phân công, kết thúc.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi em lần lượt làm “Đội trưởng một ngày”: điều khiển Đội tập họp, điểm danh và một trò chơi.
  3. 3Thông tin: truyền tin bằng đèn, đọc mật thư, hiệu lệnh còi và cờ

    Truyền tin : Bảng Morse

    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse
    • Tất cả bảng Morse. – Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    • Tất cả bảng Morse.
    • Nhận tin bằng Còi, Cờ.
    Hình minh họa: Truyền tin : Bảng Morse

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Mật thư – Cách dùng mật thư

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    I. EM CẦN BIẾT:

    Mật thư là 1 bản tin, 1 bức thư mật được viết bằng loại ngôn ngữ quy ước.

    Mật thư có nhiều cách viết. Mỗi loại đều có khóa giúp người nhận mật thư giải mã được.

    Loại mật thư núi và khung được xây dựng trên qui ước sẵn có.

    1. Mật thư Núi:

    Sử dụng kí hiệu Morse để ghi: te (_) dung dạng núi cao, tích (.) dung dạng đồi thấp để ghi, khoảng cách là 1 gạch ngang.

    Ví dụ: Hoa sen

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư

    Biến dạng của loại này là cỏ cây, hoa lá, nốt nhạc…

    2. Mật thư Chuồng – Khung:

    Loại vuông gồm 2 ngang, 2 dọc. Muốn giải các em phải thuộc mẫu tự. Thông thường là bảng mẫu tự Anh, Pháp, gồm 26 chữ cái. Các chữ được quy ước vị trí trong từng ô của chuồng.

    Có thể dung mẫu tự Việt nhưng phải có chú thích (khóa mở)

    Ví dụ: vũ

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    Loại này có biến thể, dung chuồng 36 hoặc khóa gợi ý:

    Khóa: Một ô thứ tự 4 chàng, Chín ô 36 có chục nàng ở chung.

    Hình minh họa: Mật thư – Cách dùng mật thư
    II. EM THỰC HÀNH:

    Viết tiếng reo của đoàn em bằng dạng mật thư Núi. Kẻ lại ô chuồng có 26 chữ và lập mật thư cho tên của đoàn em.

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Thông tin: truyền tin bằng đèn, mật thư, hiệu lệnh còi và cờ

    Truyền tin bằng đèn

    • Dùng đèn pin; chớp ngắn là “tích”, chớp dài là “te”; giữa hai chữ tắt đèn lâu hơn.
    • Truyền vào buổi tối, hai bên đứng ở chỗ nhìn thấy nhau rõ; bên nhận ghi lại từng chữ.

    Hiệu lệnh còi và cờ

    • Hiệu lệnh còi, cờ trong tập họp và trò chơi lớn do Ban Huynh trưởng quy định theo tài liệu Hoạt động thanh niên của Ban Hướng Dẫn; cả Đoàn phải thuộc trước khi đi trại.

    Gợi ý hoạt động

    • Trong đêm trại, hai Đội đứng cách xa nhau truyền tin bằng đèn, giải một mật thư nhận được.
  4. 4Dấu đi đường: thực hiện bằng các loại hình thức

    Dấu đi đường

    Hình minh họa: Dấu đi đường

    Học ôn các dấu, đánh dấu bằng phấn, cây, đá.

    I. Phần lý thuyết:

    Dấu đi đường hay dấu lối đi là cách làm dấu bằng ký hiệu, theo đó người ta tìm đường đi, hướng dẫn lối để đi.

    1. Sự lợi ích:
    • Phát triển sự chú ý, gợi lên khiếu xét đoán, óc quan sát.
    • Làm sống dậy trí tò mò, óc xét đoán, biết suy nghĩ, lý luận để khỏi lầm lạc khi quan sát dấu lối đi.
    2. Cách đánh dấu:
    • Khi làm dấu có thể dùng: phấn, gạch, than, viết nét to, vẽ lên các vật cố định như: vách tường, thân cây vững chắc, nền nhà, bờ rào, sân … nói chung trên các vật không di chuyển.
    • Dùng các cách tự nhiên: lấy cây cỏ hay gạch đá xếp thành dấu.
    • Điều cần lưu ý khi đánh dấu: dấu phải đánh về phía bên mặt và đừng làm cao quá tầm mắt để cho dễ quan sát.
    • Dấu đánh thưa hay dày tùy theo khoảng đường cong hay thẳng, dài hay ngắn và tùy theo các bậc học của người tìm dấu.
    3. Cách tìm dấu:
    • Người tìm dấu phải quan sát kỹ lưỡng, nếu đến đoạn hết dấu, nghi ngờ bị lạc, phải chạy trở lại quan sát tỉ mỉ lại.
    • Khi tìm dấu không nên đoán mò để chạy trước mà phải ghi lại các dấu thật tỉ mỉ và những gì khả nghi trên đường vào sổ tay.
    II. Phần thực hành:

    Ôn lại tất cả các dấu của ba bậc học dưới. (theo trang 66, 67, 68, 69, 70, 71 sách HĐTN -Tâm Huy).

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Dấu đi đường

    Bậc Sơ Thiện

    • Thực hiện các dấu đi đường bằng nhiều cách: phấn, cây, đá, cỏ, dây buộc; tự đánh dấu một lộ trình dài cho Đội bạn đi theo.
  5. 5Cấp cứu: băng đầu, hô hấp nhân tạo, sơ cứu người đuối nước, người bị ngạt; dùng các thứ thuốc trong hộp cứu thương; đo nhiệt độ cơ thể

    Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    1. Cách dùng thuốc tím, Oxy già:

    Nhà thuốc tây có bán loại đã pha chế, dùng để rửa sát trùng vết thương ngoài da. Dùng gòn chế ra, rửa từ trong vết thương rửa ra.

    2. Cách dùng cồn 90 0 (Alcol):

    Đối với những vết thương chảy máu hơi nhiều và sâu hơn, ta dùng Alcol để khử trùng. Em nhớ là nếu vết thương sâu quá, em phải báo tin ngay cho người lớn lo liệu.

    3. Cách dùng thuốc đỏ:

    Thuốc đỏ là loại khử trùng bằng vết thương nhẹ như: trầy da, chảy máu, …

    Muốn dùng thuốc đỏ em nên dùng một ít bong gòn, nhúng thuốc và bôi lên vết thương một cách nhẹ nhàng.

    4. Băng bàn tay bằng khăn tay:

    Sau khi gấp khăn bằng hình tam giác, ta làm theo thứ tự theo hình vẽ. Xong kết thúc bằng gút dẹp.

    5. Băng bàn chân bằng khăn tay:

    Đặt khăn tay sau khi đã gấp thành hình tam giác trên mặt phẳng, để chân nạn nhân vào giữa, ngón chân về phía đầu đỉnh khăn, gấp ngược khăn lên mu bàn chân, lấy hai đầu dây khăn vòng về phía trước bắt chéo, vòng về sau.

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay
    6. Băng đầu:

    Dùng khăn tam giác hoặc băng vải để giữ vết thương không bị nhiễm trùng. Trước khi băng nhớ rửa vết thương, đặt miếng gạc (Compresse) lên miệng vết thương (không nên đặt miếng gòn vì nó sẽ dính vào vết thương, khó gỡ ra).

    Hình minh họa: Cứu thương : Băng Bàn tay – Bàn chân – Đầu bằng khăn tay

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Cấp cứu: băng đầu, hô hấp nhân tạo, đuối nước, ngạt, hộp cứu thương

    Băng đầu

    • Dùng khăn tam giác: đặt cạnh dài ngang trán, đỉnh khăn phía sau gáy; vòng hai đầu khăn ra sau, bắt chéo đè lên đỉnh khăn, vòng trở ra trước trán, thắt gút dẹp; gấp đỉnh khăn lên giắt vào.

    Đuối nước

    • Không biết bơi thì không nhảy xuống cứu; ném phao, dây, cây sào cho người bị nạn bám vào, kêu người lớn giúp.
    • Đưa người lên bờ, gọi ngay cấp cứu 115; kiểm tra người bị nạn có thở không.

    Bị ngạt (khói, khí độc, nắng nóng)

    • Đưa người bị nạn ra nơi thoáng khí, nới lỏng quần áo; nếu không tự thở được thì làm hô hấp nhân tạo và gọi cấp cứu.

    Hô hấp nhân tạo

    • Gọi cấp cứu 115 trước tiên, hoặc nhờ người khác gọi.
    • Đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng; ép tim ở giữa ngực, ấn sâu và nhanh khoảng 30 lần, rồi ngửa đầu, nâng cằm, thổi 2 hơi vào miệng; lặp lại cho đến khi có người cứu hộ đến.
    • Đây là kỹ năng phải được tập với người hướng dẫn có chuyên môn; Đoàn nên mời Hội Chữ thập đỏ hoặc nhân viên y tế đến hướng dẫn thực hành trên mô hình.

    Hộp cứu thương

    • Gạc, băng cuộn, băng tam giác, băng dán, bông, dung dịch sát trùng, nước muối sinh lý, kéo, kẹp, găng tay, nhiệt kế.
    • Thuốc uống chỉ dùng theo hướng dẫn của nhân viên y tế; kiểm tra hạn dùng thường xuyên.

    Đo nhiệt độ cơ thể

    • Dùng nhiệt kế điện tử đặt ở nách hoặc theo hướng dẫn của loại nhiệt kế; trên 38 độ là sốt, báo ngay Huynh trưởng và gia đình.
  6. 6Trại: vài kiểu bếp; tập điều khiển Đội, Chúng

    Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Trại có rất nhiều hình thức, thực hiện với nhiều vật liệu khác nhau. Đối với oanh vũ, các em chỉ cần làm quen với 2 dạng: lều 2 mái và xây tổ đàn.

    A. lều trại:

    1. Chuẩn bị:
    • Lều may sẵn hay 2 tấm tăng, vải bạt 2 gậy 1,4 m hoặc l,6m.
    • 6 cọc ngắn (25cm đến 35 cm), 4 dây ngắn (mỗi sợi l,2m), 2 dây dài (2,5m trở lên).1
    • 1 dây nóc.
    • Búa, cuốc.
    2. Thực hiên:
    a. Chọn vị trí và hướng trại:

    Chỗ đất cao, bằng phẳng, xa gốc cây, tường cũ, sạch sẽ.

    Hướng trại tránh mặt trời chiếu vào (hướng đông tây).

    b. Dựng trại:
    • 6 em dựng: tăng trải lên mặt đất, 4 em giữ 4 góc lều, mỗi em có 1 dây ngắn, 1 cọc ngắn, 2 em giữ 2 đầu dây dài, gậy và cọc đóng.
    • Cọc của 4 góc trại đóng thẳng hàng với đường thẳng từ 2/3 chiều dài tăng đến góc, tính từ đỉnh nóc (tạo thành góc 30° đến 45°), cọc góc cách góc 0,5 m, cọc dây chính cách chân gậy 1 gậy (1,4m hay 1,6 m), cọc đóng nghiêng 1 góc 45° (xem hình vẽ).
    • 2 em dựng: Trải tăng, cột dây vào các góc lều, đóng 4 cọc góc trước (dây cột hơi chùng 1 chút), đóng cọc 2 dây chính, dựng gậy lên, điều chỉnh các dây góc cho lều căng đều.

    Sau khi đóng trại cần lót tấm trải, nếu trời mưa cần đào rãnh chung quanh trại để khỏi lo ngập nước.

    Nếu mái lều chưa căng có thể đóng thêm 2 cọc phụ ở giữa diềm trại.

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    B. xây tổ đàn:

    Tổ đàn là nơi ngủ, nghĩ của loài chim. Em là oanh vũ sống theo hình thức đàn nên việc xây tổ, sống gần gũi với thiên nhiều là điều nên làm.

    Tổ có thể thực hiện trên chạng ba, chạng tư cây thấp.

    Tổ hình thành dưới lùm cây, kéo các cành lá quây quanh tổ, đan chéo hoặc buộc vào nhau.

    Xấy tổ hình chóp nhọn, chóp tròn, bầu dục…

    1. Chuẩn bị:
    • Dây cỡ lớn, nhỏ (dây kém, mây, tre…)
    • Cành cây, tre chẻ thanh dài ngắn tuỳ tổ muốn lớn nhỏ.
    • Lá dừa cỏ, rơm, các loại lá khác.
    • 1 tấm tăng lót trải.
    2. Thực hiện:

    Kết cành cây hay tre thành sườn tổ theo kiểu đã chọn và chuẩn bị vật liệu.

    Lợp lá, phủ rơm lên cho kín (nhớ chừa trống miệng tổ – cửa vào). Khi lợp nhớ buộc dây cho lá, rơm khỏi rơi.

    Lót tấm tăng bên dưới rồi trải cỏ lên (tránh côn trùng).

    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn
    Hình minh họa: Lều Trại – Xây tổ Đàn

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Tung Bay do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Lều trại: lều 2 mái

    Chuẩn bị

    • Một tấm bạt chữ nhật, 2 cây cọc đứng, 1 sợi dây nóc (hoặc 1 cây đòn nóc), 6 – 8 cọc nhỏ, dây giăng.

    Cách dựng

    • Chọn chỗ đất cao, bằng phẳng, không có kiến, không dưới cây có cành khô.
    • Trải bạt, xác định đường nóc ở giữa.
    • Dựng hai cọc đứng ở hai đầu, căng dây nóc qua hai đầu cọc, néo dây ra hai đầu và đóng cọc giữ.
    • Phủ bạt lên dây nóc, kéo hai mái xuống đều nhau; đóng cọc ở các góc và giữa hai cạnh bạt.
    • Chỉnh dây cho hai mái căng đều, không nhăn.

    Lưu ý

    • Đào rãnh nhỏ quanh lều để thoát nước khi mưa.
    • Khi nhổ trại, gỡ cọc, gấp bạt gọn, trả lại mặt đất sạch sẽ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đàn tự dựng một lều 2 mái; Huynh trưởng chấm điểm theo độ căng đều, chắc chắn và thời gian.

    Tham khảo thêm

    Trại: chọn chỗ dựng lều, nhóm lửa, tự làm bếp

    Chọn chỗ dựng lều

    • Đất cao ráo, bằng phẳng, dễ thoát nước; gần nguồn nước sạch nhưng không sát mép sông suối.
    • Tránh dưới cây có cành khô, gần tổ kiến, tổ ong; cửa lều không hướng thẳng vào gió.

    Nhóm lửa

    • Chọn chỗ đất trống, dọn sạch lá khô xung quanh; có sẵn xô nước hoặc cát.
    • Chuẩn bị ba loại: mồi (giấy, lá khô), củi nhỏ, củi lớn.
    • Xếp củi nhỏ hình chóp nón hoặc hình giếng quanh mồi, chừa chỗ cho gió vào; châm mồi ở phía đầu gió, thêm dần củi lớn.
    • Dập tắt hoàn toàn bằng nước hoặc đất khi không dùng nữa.

    Làm bếp

    • Bếp ba ông táo bằng ba viên đá hoặc gạch; bếp rãnh (đào rãnh nhỏ theo hướng gió, đặt nồi lên hai bên mép).

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội tự làm bếp và nấu nước pha trà trong buổi trại.

    Tham khảo thêm

    Trại: vài kiểu bếp – điều khiển Đội, Chúng dựng trại

    Thêm vài kiểu bếp

    • Bếp treo: dựng hai cây chạc chữ Y hai bên đống lửa, gác một cây ngang để treo nồi.
    • Bếp hầm: đào hố nhỏ, xẻ rãnh đón gió; giữ lửa lâu, ít khói, đỡ tốn củi.

    Điều khiển Đội, Chúng dựng trại

    • Phân công từng người: dựng lều, làm bếp, cổng trại, cột cờ, góc Đội.
    • Đội, Chúng trưởng theo dõi thời gian, kiểm tra an toàn, sạch sẽ của đất trại.
  7. 7Phương hướng: 16 phương hướng của la bàn; tìm hướng bằng đồng hồ, sao Bắc Đẩu

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: 8 phương của la bàn

    Em cần biết

    • 4 phương chính: Bắc, Đông, Nam, Tây (theo chiều kim đồng hồ).
    • 4 phương phụ nằm giữa các phương chính: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc.
    • Kim la bàn luôn chỉ về hướng Bắc. Đứng quay mặt về Bắc: tay phải là Đông, tay trái là Tây, sau lưng là Nam.

    Cách dùng la bàn

    • Đặt la bàn nằm ngang trên lòng bàn tay, tránh xa vật bằng sắt, điện thoại.
    • Xoay vỏ la bàn cho chữ N (Bắc) trùng với đầu kim chỉ Bắc; đọc các hướng còn lại.

    Gợi ý hoạt động

    • Đặt 8 bảng tên phương quanh sân; Huynh trưởng hô một phương, các em chạy về đúng hướng.

    Tham khảo thêm

    Phương hướng: 16 phương, đồng hồ, sao Bắc Đẩu

    16 phương hướng

    • Giữa mỗi phương chính và phương phụ lại có thêm một phương: Bắc – Bắc Đông Bắc – Đông Bắc – Đông Đông Bắc – Đông – Đông Đông Nam – Đông Nam – Nam Đông Nam – Nam – Nam Tây Nam – Tây Nam – Tây Tây Nam – Tây – Tây Tây Bắc – Tây Bắc – Bắc Tây Bắc.
    • Các phương cách nhau 22,5 độ.

    Tìm hướng bằng đồng hồ kim (ban ngày, có nắng)

    • Đặt đồng hồ nằm ngang, xoay sao cho kim giờ chỉ về phía mặt trời.
    • Đường chia đôi góc giữa kim giờ và số 12 chỉ hướng Nam; hướng ngược lại là Bắc.
    • Cách này chỉ cho kết quả gần đúng, kém chính xác vào gần giữa trưa.

    Tìm hướng Bắc bằng sao

    • Tìm chòm sao Bắc Đẩu (bảy ngôi sao xếp hình cái gáo).
    • Nối hai sao ở thành ngoài của gáo, kéo dài khoảng 5 lần khoảng cách giữa chúng sẽ gặp sao Bắc Cực, chỉ hướng Bắc.
    • Ở Việt Nam, sao Bắc Cực nằm khá thấp gần chân trời phía Bắc.
  8. 8Thể dục: mỗi sáng tập 10 phút; bóng bàn, bóng chuyền

    Tham khảo thêm

    Bóng bàn

    • Cách cầm vợt, tư thế đứng chuẩn bị; giao bóng phải chạm bàn bên mình trước rồi mới sang bàn đối phương.
    • Một ván đánh đến 11 điểm, mỗi bên giao bóng 2 lần thì đổi.

    Bóng chuyền

    • Mỗi đội 6 người; đội được chạm bóng tối đa 3 lần trước khi đưa bóng qua lưới.
    • Kỹ thuật cơ bản: đệm bóng bằng hai cẳng tay, chuyền bóng bằng các đầu ngón tay, phát bóng.

    Gợi ý hoạt động

    • Tổ chức giao hữu bóng chuyền giữa các Đội, Chúng trong ngày trại.
  9. 9Vạn vật: những thứ cây dùng vào kỹ nghệ

    Tham khảo thêm

    Gợi ý

    • Cao su: lấy mủ làm lốp xe, găng tay, đồ dùng bằng cao su.
    • Bông vải: lấy sợi dệt vải.
    • Đay: dệt bao bố, làm dây thừng.
    • Mía: làm đường.
    • Tre, nứa: làm giấy, đan lát, làm nhà, đồ dùng.
    • Keo, bạch đàn: làm bột giấy, ván ép.
    • Dừa: lấy dầu, xơ dừa làm thảm, dây.
    • Chè, cà phê: chế biến thức uống.
    • Quế: làm gia vị, tinh dầu.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội sưu tầm mẫu vật (sợi bông, mủ cao su khô, giấy…) và ghi chú cây nguồn gốc.
  10. 10Thiên văn: đoán thời tiết qua những hiện tượng báo trước

    Tham khảo thêm

    Thiên văn: đoán thời tiết bằng 3 cách thông thường

    Quan sát loài vật

    • “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.”
    • “Kiến đen tha trứng lên cao, thế nào cũng có mưa rào rất to.”

    Quan sát mây, ráng

    • “Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ”: ráng vàng như mỡ gà báo trước gió lớn, bão.
    • Mây đen kéo đến dày, thấp, gió đổi hướng mạnh: sắp có mưa giông.

    Quan sát mặt trăng

    • “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.”

    Gợi ý hoạt động

    • Trong mỗi kỳ trại, một Đội giữ nhiệm vụ “dự báo thời tiết” mỗi sáng và đối chiếu với thời tiết thật cuối ngày.

    Tham khảo thêm

    Thiên văn: đoán thời tiết qua những hiện tượng báo trước

    Thêm một số dấu hiệu

    • “Én bay thấp mưa ngập bờ ao, én bay cao mưa rào lại tạnh.”
    • Trời oi bức, lặng gió, nhiều mây đen dày phía chân trời: dễ có giông.
    • Muối, đường trong lọ bị chảy ẩm: không khí ẩm, có thể sắp mưa.
    • Kết hợp nghe bản tin dự báo thời tiết trước mỗi kỳ trại.
  11. 11Ước đạc: tìm bề cao (nhà, cây…) và bề rộng (sông, suối…)

    Tham khảo thêm

    Tìm bề cao bằng bóng nắng

    • Cắm thẳng một cây gậy biết chiều dài (ví dụ 1 mét), đo bóng của gậy và bóng của cây (hoặc nhà) cùng một lúc.
    • Bề cao của cây = bóng của cây × chiều dài gậy ÷ bóng của gậy.

    Tìm bề rộng sông, suối

    • Đứng ở bờ bên này, chọn một vật mốc ở bờ bên kia (A); cắm cọc B ngay đối diện vật mốc.
    • Đi dọc bờ một khoảng (ví dụ 20 bước), cắm cọc C; đi tiếp đúng 20 bước nữa, cắm cọc D.
    • Từ D đi vuông góc vào trong bờ cho đến khi nhìn thấy cọc C và vật mốc A thẳng hàng, đánh dấu E.
    • Khoảng cách D đến E bằng bề rộng của sông (từ B đến A).

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội ước đạc chiều cao cột cờ, cây lớn trong chùa và so sánh kết quả.
  12. 12Giao tế: những phép xã giao thông thường

    Tham khảo thêm

    Chào hỏi, giới thiệu

    • Chào người lớn trước; khi giới thiệu, giới thiệu người nhỏ với người lớn, người mới với người quen.

    Trò chuyện

    • Nhìn người đối diện, lắng nghe, không cắt ngang; nói nhỏ nhẹ, không nói tục.

    Điện thoại, tin nhắn

    • Chào, xưng tên trước khi nói; gọi vào giờ hợp lý; tin nhắn rõ ràng, có lời chào, cảm ơn.

    Đến nhà người khác

    • Hẹn trước, đến đúng giờ; chào cả nhà; không tự ý đi vào phòng riêng; ra về thì cảm ơn và chào.

    Ăn uống

    • Mời người lớn trước; ăn từ tốn, không nói lớn khi miệng có thức ăn.

    Gợi ý hoạt động

    • Đóng vai các tình huống: đón khách đến thăm Đoàn, gọi điện mời phụ huynh dự lễ.
  13. 13Lịch sử: từ Văn Thân đến ngày nay

    Tham khảo thêm

    Những mốc chính

    • Phong trào Văn Thân, Cần Vương (cuối thế kỷ 19): các sĩ phu như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… đứng lên chống thực dân Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương năm 1885.
    • Đầu thế kỷ 20: phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng.
    • Thập niên 1920 – 1930: phong trào chấn hưng Phật giáo; các hội Phật học ra đời ở ba miền; năm 1951 danh xưng Gia Đình Phật Tử chính thức được dùng.
    • Năm 1945: Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945 Tuyên ngôn Độc lập được đọc tại Hà Nội.
    • Năm 1954: Hiệp định Genève, đất nước chia làm hai miền.
    • Năm 1975: đất nước thống nhất.
    • Từ năm 1986: thời kỳ Đổi mới.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng tìm hiểu một giai đoạn, trình bày bằng bảng thời gian (dòng sự kiện) trên báo tường.

Hoạt động xã hội5 bài

  1. 1Vệ sinh môi trường: trồng cây gây rừng

    Tham khảo thêm

    Cách trồng một cây con

    • Chọn chỗ đủ nắng, đất tơi xốp; đào hố rộng và sâu gấp đôi bầu cây.
    • Bỏ lớp đất mặt và phân hữu cơ xuống đáy hố.
    • Xé bỏ túi nilon bầu cây, đặt cây thẳng đứng giữa hố, lấp đất, nén chặt quanh gốc.
    • Cắm cọc, buộc giữ cây; tưới nước đủ ẩm.
    • Chăm sóc: tưới nước, làm cỏ thường xuyên trong những tháng đầu.

    Gợi ý hoạt động

    • Mỗi Đội, Chúng trồng và nhận chăm sóc một cây trong khuôn viên chùa, gắn bảng tên Đội.
    • Tham gia các đợt trồng cây do địa phương tổ chức.
  2. 2Y tế: phân loại thuốc thông dụng, hướng dẫn sử dụng thuốc thông thường

    Tham khảo thêm

    Các nhóm thuốc thường gặp

    • Thuốc hạ sốt, giảm đau.
    • Thuốc kháng sinh: chỉ dùng khi có đơn của bác sĩ, uống đủ liều, không tự ý mua dùng.
    • Thuốc tiêu hóa: men tiêu hóa, bù nước khi tiêu chảy (oresol).
    • Thuốc dùng ngoài da: sát trùng, kem bỏng, dầu xoa.
    • Vitamin, thuốc bổ.

    Nguyên tắc dùng thuốc

    • Đọc kỹ nhãn và hướng dẫn: tên thuốc, công dụng, liều dùng, hạn dùng.
    • Dùng đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ theo hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ.
    • Không dùng thuốc hết hạn, đổi màu, chảy nước; không dùng chung thuốc kê đơn của người khác.
    • Cất thuốc nơi khô ráo, xa tầm tay trẻ nhỏ.

    Lưu ý

    • Đoàn sinh không tự ý cho người khác uống thuốc; chỉ hướng dẫn đọc nhãn, nhắc đi khám.
  3. 3Phòng hỏa: phòng cháy, chữa cháy

    Tham khảo thêm

    Phòng cháy

    • Không để vật dễ cháy gần bếp, đèn, nhang đèn bàn thờ; tắt bếp, tắt điện khi ra khỏi nhà.
    • Không cắm quá nhiều thiết bị vào một ổ điện; không để trẻ nhỏ chơi với lửa.
    • Ở trại: lửa trại, bếp phải có người trông, có sẵn nước, cát; dập tắt hẳn trước khi rời đi.

    Khi có cháy

    • Hô to báo động, gọi 114 (cứu hỏa).
    • Ngắt điện nếu an toàn; dùng bình chữa cháy khi đám cháy còn nhỏ: rút chốt, hướng vòi vào gốc lửa, bóp cò, quét qua lại.
    • Không dùng nước dập đám cháy do điện, xăng dầu.
    • Thoát hiểm: cúi thấp người, bịt mũi bằng khăn ướt, đi theo lối thoát hiểm, không quay lại lấy đồ.

    Gợi ý hoạt động

    • Mời đội phòng cháy địa phương đến hướng dẫn thực hành bình chữa cháy cho Đoàn.
  4. 4Giao thông: thuộc và hiểu luật giao thông

    Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến
    I. Chuẩn bị:

    Hình vẽ hay tờ rơi in sẵn các biển báo đường bộ phổ biến.

    II. Giờ học:
    1. Em suy nghĩ:
    • Luật đi đường đặt ra nhằm làm gì?
    • Vì sao em cần biết luật đi đường?
    2. Em cần nhớ:

    Luật đi đường đặt ra nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ tài sản, phương tiện giao thông, nhất là tính mạng con người.

    Tất cả mọi người đi trên đường đều phải tôn trọng luật đi đường, nhất là ở các đường phố đông đúc.

    Khi đi xe đạp em phải đi sát lề phải, tay thắng phải an toàn, tốc độ vừa phải, không đi hàng ba, hàng tư, không chở (đèo) ba, lạng lách, đua xe …trên đường phố.

    Chú ý các biển báo hiệu, các ngã ba, ngã tư để chấp hành các qui định chung.

    MỘT SỐ CÁC BIỂN BÁO HIỆU PHỔ BIẾN

    Đường cấm (Vòng tròn trắng, viền ngoài là vành đỏ)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đi ngược chiều (Vòng tròn đỏ, giữa là nét ngang màu trắng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt xanh nằm chéo 2 bên vạch đỏ ở giữa)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm xe đạp (Vòng tròn đỏ, 2 hình bán nguyệt trắng 2 bên vạch chéo đỏ, bên trong có hình xe đạp)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Các xe chỉ được đi thẳng (Vòng tròn xanh, giữa có mũi tên trắng hướng lên)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến (Vòng tròn xanh, 3 mũi tên trắng nằm ôm cong theo vòng tròn)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Dừng lại (Hình bát giác màu đỏ, giữa là chữ STOP)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Cấm dừng xe và đổ xe (Vòng tròn đỏ, 2 đường chéo đỏ giao nhau ở giữa tách vòng tròn xanh bên trong thành 4 phần cần xứng)

    Hình minh họa: Luật đi đường – Một số biển báo hiệu đường bộ phổ biến

    Tài liệu Tu học Ngành Đồng – Bậc Chân Cứng do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548. Bài gốc trên gdptvietnam.org ↗


    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc các bảng báo hiệu lưu thông đường bộ

    Bậc Sơ Thiện

    • Biển báo gồm 5 nhóm: biển báo cấm (hình tròn viền đỏ), biển báo nguy hiểm (hình tam giác viền đỏ, nền vàng), biển hiệu lệnh (hình tròn nền xanh), biển chỉ dẫn (hình vuông hoặc chữ nhật nền xanh) và biển phụ.

    Gợi ý hoạt động

    • Thi nhận biết biển báo bằng thẻ hình giữa các Đội, Chúng.

    Tham khảo thêm

    Giao thông: thuộc và hiểu luật giao thông

    Bậc Trung Thiện

    • Đi bên phải theo chiều đi của mình; đi đúng phần đường, làn đường.
    • Luôn đội mũ bảo hiểm cài quai đúng cách khi ngồi trên xe máy, xe đạp điện.
    • Không đi hàng ba trở lên khi đi xe đạp; không buông hai tay, không lạng lách.
    • Theo luật hiện hành, người đủ 16 tuổi mới được lái xe gắn máy loại nhỏ; muốn lái xe mô tô phải đủ 18 tuổi và có giấy phép lái xe. Anh chị trưởng cập nhật quy định mới nhất khi dạy.
  5. 5Cứu trợ: giúp đỡ dân chúng quanh vùng sau thiên tai, hỏa hoạn

    Tham khảo thêm

    Cứu trợ: tham gia các đoàn cứu trợ của chùa

    Những việc các em có thể làm

    • Phân loại, gấp xếp quần áo, sách vở quyên góp.
    • Đóng gói quà cứu trợ: gạo, mì, dầu ăn, nước uống.
    • Ghi danh sách, giúp phát quà theo hướng dẫn của quý Thầy và Ban tổ chức.
    • Thăm hỏi, động viên bà con với lời nói nhẹ nhàng, lễ phép.

    An toàn

    • Chỉ đến vùng thiên tai khi đã an toàn, đi theo đoàn và Huynh trưởng, có sự đồng ý của gia đình.

    Tham khảo thêm

    Cứu trợ: giúp dân sau thiên tai, hỏa hoạn

    Sau thiên tai, hỏa hoạn

    • Giúp dọn dẹp nhà cửa, đường xá khi đã an toàn; không đến gần dây điện đứt, nhà sắp sập.
    • Giúp vận chuyển, phân phát nước sạch, thực phẩm, quần áo.
    • Thăm hỏi, động viên, giúp các em nhỏ trong vùng bị nạn ôn bài, vui chơi.
    • Luôn đi theo nhóm, có Huynh trưởng phụ trách.